Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM VĂN ĐĂNG
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CỘNG ĐỒNG ĐỊA PHƢƠNG
VÙNG ĐỆM ẢNH HƢỞNG ĐẾN TÀI NGUYÊN RỪNG
VƢỜN QUỐC GIA HOÀNG LIÊN TỈNH LÀO CAI
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS.TS. LÊ SỸ TRUNG Thái Nguyên, 2013 Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực, chưa được ai công bố trong bất kỳ công
trình nào để bảo vệ luận án Thạc sỹ. Các hình ảnh sử dụng trong công trình là
của chính tác giả và tập thể anh em cộng tác thực hiện.
gian hạn chế, nên luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định.
Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các Thầy, Cô
giáo, các nhà khoa học, các bạn bè đồng nghiệp và xin chân thành tiếp thu các ý
kiến đóng góp đó./.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng 2013
Tác giả
Phạm Văn Đăng
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, VÀ BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 92
1. Đặt vấn đề 92
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 94
Chƣơng 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 95
1.1. Khái niệm 95
1.1.1. Khái niệm về cộng đồng (Local Community) 95
1.1.2. Khái niệm về rừng đặc dụng 95
1.1.3. Khái niệm vùng đệm (Buffer Zone) 96
1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 98
3.1.1.1. Vị trí địa lý 118
3.1.1.2. Đặc điểm địa hình 119
3.1.1.3. Khí hậu, thủy văn 120
3.1.1.4. Địa chất, thổ nhưỡng 121
3.1.1.5. Hiện trạng tài nguyên rừng VQG Hoàng Liên 122
3.1.1.6. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên 124
3.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực vùng đệm 125
3.1.2.1. Đặc điểm dân tộc, dân số và lao động các xã vùng đệm 125
3.1.2.2. Hiện trạng sản xuất trong các ngành kinh tế các xã vùng đệm 128
3.1.2.3. Tình hình phát triển các lĩnh vực xã hội 129
3.1.2.4. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 131
3.1.2.5. Đánh giá chung về kinh tế - xã hội 132
3.2. Phân tích các hình thức và mức độ tác động bất lợi của CĐĐP tới
TNR trong VQG Hoàng Liên 133
3.2.1. Các hoạt động bất hợp pháp TNR trong VQG Hoàng Liên 133
3.2.2. Các khu vực bị xâm hại và đối tượng xâm hại 133
3.2.2.1. Các khu vực bị xâm hại 133
3.2.2.2. Đối tượng xâm hại 135
3.2.3. Các hình thức và mức độ tác động của CĐĐP đến TNR trong
VQG Hoàng Liên 136
3.2.3.1. Sử dụng đất VQG để canh tác nương rẫy 136
3.2.3.2. Khai thác gỗ trái phép 137
3.2.3.3. Khai thác gỗ củi 140
3.2.3.4. Khai thác lâm sản ngoài gỗ trái phép 142
3.2.3.5. Chăn, thả rông gia súc trên rừng và đất rừng 146
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
v
3.2.3.6. Tác động đến TNR gây ra do những rủi ro 147
Ký hiệu
Chú giải
BVR
:
Bảo vệ rừng
BV&PTR
:
Bảo vệ và phát triển rừng
ĐDSH
:
Đa dạng sinh học
HGĐ
:
Hộ gia đình
CĐĐP
:
CĐ địa phương
CĐ
:
Cộng đồng
LSNG
:
Lâm sản ngoài gỗ
QLBVR
:
Quản lý bảo vệ rừng
IUCN
:
:
Quản lý bảo vệ rừng
RRA
:
Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn
RTN
:
Rừng tự nhiên
SPSS
:
Phần mềm xử lý thống kê dùng trong các
ngành khoa học xã hội (Statistical Package for
Social Sciences)
SWOT
:
Phân tích Điểm mạnh - Điểm yếu - Cơ hội -
Thách thức
TB
:
Trung bình
TNR
:
Tài nguyên rừng
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
vii
TNTN
:
Tài nguyên thiên nhiên
Bảng 3.4: Các hoạt động vi phạm luật bảo vệ rừng ở VQG Hoàng Liên 46
Bảng 3.5: Số hộ và hình thức sử dụng đất rừng trong VQG 48
Bảng 3.6: Thống kê mức độ khai thác gỗ và bán gỗ của các hộ điều tra 50
Bảng 3.7: Mức độ khai thác củi của cộng động người dân địa phương 52
Bảng 3.8: Mức độ khai thác LSNG tại khu vực nghiên cứu 54
Bảng 3.9: Xu hướng phát triển của một số loài động vật chủ yếu 55
Bảng 3.10: Thống kê tình hình thu hái lâm sản ngoài gỗ chủ yếu ở VQG 56
Bảng 3.11: Mức độ và hình thức chăn thả gia súc trên rừng các hộ nghiên cứu 58
Bảng 3.12: Thống kê lượng khách tham quan du lịch VQG Hoàng Liên 60
Bảng 3.13: Đánh giá tỷ trọng các sản phẩm 63
Bảng 3.14: Cơ cấu thu nhập của các HGĐ tại các thôn nghiên cứu 64
Bảng 3.15: Nhu cầu và khả năng đáp ứng lương thực của HGĐ 68
Bảng 3.16: Nhu cầu và khả năng đáp ứng thu chi tiền mặt của HGĐ 70
Bảng 3.17: Nhu cầu chất đốt của HGĐ tại VQG Hoàng Liên 72
Bảng 3.18: Thống kê thị trường một số loại lâm sản hiện có trong VQG 74
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
viii
Bảng 3.19: Phân tích SWOT của khu vực VQG Hoàng Liên 87
Bảng 3.20: Các chương trình hành động nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực tới
TNR ở VQG Hoàng Liên 88
Bảng 3.21: Kết quả phỏng vấn các HGĐ trong vùng nghiên cứu 91 Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ix
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, VÀ BIỂU ĐỒ
20’ -
22
0
22’ vĩ độ Bắc) và hơn 7 kinh độ (102
0
10’ - 109
0
20’ kinh độ Đông). Địa hình hết sức
đa dạng biến đổi từ độ cao âm dưới mực nước biển đến 3.143m (đỉnh Fansipan), trong
đó địa hình đồi núi chiếm trên 70% diện tích tự nhiên. Bờ biển dài với hàng trăm hòn
đảo lớn nhỏ. Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa điển hình hơn ở miền Nam, còn
ở miền Bắc ảnh hưởng của khí hậu ôn đới. Không những thế, khí hậu còn vừa mang tính
lục địa vừa ảnh hưởng bởi khí hậu biển. Về mặt sinh địa, nước ta là giao điểm của vùng
ấn Độ, Nam Trung Quốc và Malaysia. Những điều kiện tự nhiên đã tạo ra tính đa dạng
cao về các hệ sinh thái rừng, khu hệ thực vật và động vật. Một số vùng sinh thái của
Việt Nam đã được được công nhận là những điểm ưu tiên bảo tồn toàn cầu với tính đa
dạng và đặc hữu cao.
Hệ thống rừng đặc dụng được coi là chiến lược bảo tồn thiên nhiên lâu dài của
Việt Nam và là cơ hội tồn tại của các loài động, thực vật đang bị đe dọa. Hệ thống rừng
đặc dụng chính thức được thành lập theo Quyết định số 194/TTg, ngày 9/8/1986 của
Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) với 86 khu được chia làm 3 loại:
VQG, KBTTN, khu rừng văn hoá lịch sử và môi trường. Ngày 17/9/2003, Thủ tướng
Chính phủ đã phê duyệt chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam
đến năm 2010 có tổng diện tích 3.029.321 ha, chiếm trên 9% diện tích tự nhiên toàn
quốc với 133 khu rừng đặc dụng, trong đó có 32 VQG, 58 khu dự trữ thiên nhiên, 28
khu bảo tồn loài/nơi cư trú và 21 khu bảo tồn cảnh quan [19].
Việc thành lập các KBT và VQG luôn có xu hướng làm thay đổi lớn đối với cuộc
sống của CĐ người dân sống ở gần rừng. Bắt đầu từ những thay đổi về chỗ ở, thói quen
trong canh tác, lợi dụng nguồn sản phẩm sẵn có ở rừng, dẫn tới nhiều thay đổi khác về
tập quán canh tác, kinh tế, văn hóa,… Khi KBT được thành lập, người dân địa phương
thực vật trong Chương trình bảo tồn các loàì thực vật của Hiệp hội Bảo vệ Thiên nhiên
Thế giới. Vườn cũng được Quỹ môi trường toàn cầu được xếp vào loại A, cao cấp nhất
về giá trị đa dạng sinh học của Việt Nam, với nhiều hệ sinh thái, đặc biệt là hệ sinh thái
rừng á nhiệt đới núi cao với nhiều loài động vật, thực vật quý hiếm được nhiều nhà khoa
học trong và ngoài nước quan tâm. Tuy nhiên, công tác QLBVR của VQG này còn
nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân khác nhau mà quan trọng nhất là ảnh hưởng của
cộng động người dân địa phương đối với TNR. Câu hỏi đặt ra là những nguyên nhân
nào mà những hoạt động trái phép của CĐ người dân vào rừng vẫn tiếp tục xảy ra? Và
có thể có giải pháp nào làm giảm thiểu được những tác động bất lợi của người dân địa
phương tới TNR của VQG Hoàng Liên hay không?
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
94
Trên cơ sở thực tiễn và lý luận cùng với những kiến thức học hỏi được từ các thầy cô
giáo và bạn bè trong thời gian học tập nghiên cứu tại Trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên, với sự giúp đỡ của PGS. TS. Lê Sỹ Trung, để góp phần tạo ra cơ sở lý luận và thực
tiễn cho việc đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn ở VQG Hoàng Liên, chúng tôi tiến
hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa phương vùng đệm ảnh
hưởng đến Tài nguyên rừng Vườn Quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai”.
2. Mục tiêu của đề tài
- Về lý luận: Nghiên cứu nhằm đóng góp cơ sở lý luận giải quyết mối quan hệ giữa
các CĐ sống gần rừng và phụ thuộc vào TNR tại các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam,
đồng thời góp phần giúp địa phương có được những luận cứ khoa học cũng như thực
tiễn đề ra giải pháp giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển KT-XH ở vùng
đệm các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia.
- Về thực tiễn: (i) Xác định được các hình thức tác động bất lợi của CĐĐP trong
vùng đệm đối với TNR trong VQG Hoàng Liên. (ii) Tìm hiểu, phân tích các nguyên
nhân cơ bản dẫn đến những tác động bất lợi của cộng đồng dân cư vùng đệm vào
TNR trong VQG Hoàng Liên. (iii) Trên cơ sở đó bước đầu đề xuất được các giải
này “Cộng đồng” không phải chỉ là cộng đồng dân cư toàn thôn mà còn bao gồm cả
cộng đồng sắc tộc trong thôn; Cộng đồng các dòng họ hoặc nhóm hộ trong thôn.
Có những quan niệm khác nhau về cộng đồng, nhưng phần lớn các ý kiến đều cho
rằng “Cộng đồng” được dùng trong quản lý rừng chính là nói đến cộng động dân cư thôn.
Tại điều 3 Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã định nghĩa “Cộng đồng dân cư thôn
là tập hợp toàn bộ các HGĐ, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, ấp, buôn, phum, sóc
hoặc đơn vị tương đương”. Như vậy, trong luận văn này “Cộng đồng” được dùng là khái
niệm được quy định tại Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004.
1.1.2. Khái niệm về rừng đặc dụng
- Rừng đặc dụng: Là loại rừng được xác lập theo quy định của Luật Bảo vệ và
Phát triển rừng được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 03/12/2004
tại kỳ họp Quốc hội khóa 11 đã quy định, có giá trị đặc biệt về bảo tồn thiên nhiên, mẫu
chuẩn hệ sinh thái rừng quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ
di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng
hộ, góp phần bảo vệ môi trường.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
96
- Vườn quốc gia: Là loại rừng đặc dụng có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt đối
với quốc gia. Vườn quốc gia có chức năng chung của rừng đặc dụng đồng thời có thể có
một trong các chức năng chủ yếu là: bảo tồn và dự trữ thiên nhiên; khu bảo tồn loài -
sinh cảnh; bảo vệ cảnh quan.
1.1.3. Khái niệm vùng đệm (Buffer Zone)
Quan niệm về vùng đệm bắt đầu được đề cập vào khoảng năm 1950. Khi Khu bảo
tồn Nerfu ở Zambia Luangua gặp phải thách thức trước nhu cầu cuộc sống và tập quán
của người dân địa phương, họ đã quan tâm đến việc cho phép các CĐ ĐP được săn bắn
theo phương thức truyền thống. ở Vườn quốc gia Corbet ở ấn Độ, người dân địa phương
cũng được quyền thu hoạch và khai thác các sản phẩm không phải là gỗ trong một số
khu rừng bán tự nhiên. Tại Hội nghị về Khu bảo tồn và Vườn quốc gia lần thứ III do
của khu bảo vệ, vùng đệm nằm ngoài diện tích khu bảo vệ và không thuộc quyền quản
lý sử dụng của ban quản lý bảo vệ” (Quyết định số 1586 LN/KL ngày 13/7/1993).
+ “Vùng đệm là vùng rừng hoặc đất đai có dân cư sinh sống bao quanh hoặc nằm
sát ranh giới các khu rừng đặc dụng hoặc khu bảo tồn thiên nhiên. Việc thành lập vùng
đệm nhằm làm giảm áp lực của dân địa phương đối với khu vực cần bảo vệ” [35].
- Gilmour, D.A và Nguyễn Văn Sản đã định nghĩa vùng đệm là “những vùng được
xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có tài nguyên rừng, nằm ngoài ranh giới của
khu bảo tồn và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của khu bảo tồn và chính vùng
đệm đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh khu bảo tồn. Điều này được
thực hiện bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển đặc biệt góp phần vào việc nâng
cao đời sống kinh tế - xã hội của cư dân sống trong vùng đệm” [36].
- Theo luật bảo vệ và phát triển rừng được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông
qua ngày 03/12/2004 tại kỳ họp Quốc hội khóa 11 đã quy định: Vùng đệm là vùng rừng,
vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm sát ranh giới khu rừng đặc dụng, có tác dụng ngăn
chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm hại khu rừng đặc dụng.
Nhiều khái niệm được đưa ra, nhưng khó có thể thống nhất các khái niệm trên
được. Tuy nhiên có thể tìm thấy một số điểm chung cơ bản như sau:
Căn cứ theo Điều 11 của Thông tư của Số: 78/2011/TT-BNNPTNT quy định chi tiết
thi hành Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ về tổ
chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng quy định: Vùng đệm được xác định là diện tích
rừng hoặc đất ngập nước có ranh giới liền kề với khu rừng đặc dụng, có tác dụng ngăn
ngừa hoặc triệt tiêu nạn xâm hại vào khu rừng đặc dụng. Vùng đệm bao gồm những diện
tích nằm ngoài ranh giới khu rừng đặc dụng (vùng đệm bên ngoài) và diện tích nằm trong
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
98
ranh giới khu rừng đặc dụng đang có các hộ dân sinh sống hợp pháp (vùng đệm bên
trong).
- Mục đích của vùng đệm: Là ngăn ngừa các tác động tiêu cực của người dân vào
99
Một nghiên cứu của Moenieba Isaacs và Najma Mohamed, thực hiện năm 2000
(Isaacs và nnk, 2000) ở VQG Richtersveld tại Nam Phi chỉ ra rằng việc xây dựng VQG
đã có tác động rất lớn đến đời sống của người dân nơi đây. Dân cư ở đây sống bằng
nghề khai thác kim cương, tuy nhiên đời sống của họ là rất khó khăn, cơ sở hạ tầng thấp
kém, điều kiện làm việc trong các hầm mỏ nguy hiểm. Bên cạnh đó, việc khai thác của
họ ảnh hưởng rất lớn đến ĐDSH trong KBT này. Trong tình hình đó, việc xây dựng
KBT đã đưa ra những cam kết giữa người dân và chính quyền nhằm cải thiện sinh kế
cho cộng đồng, mặt khác nó làm cho việc bảo tồn đa dạng sinh học của KBT diễn ra có
hiệu quả hơn. Người dân cam kết sẽ bảo vệ ĐDSH trong địa phận kiếm sống của họ, còn
chính quyền địa phương cam kết sẽ xây dựng cơ sở hạ tầng và các dịch vụ công nhằm
nâng cao đời sống của người dân. Tương tự, tại VQG Kruger, để đạt được quyền sử
dụng đất đai, người dân phải xây dựng quy ước bảo vệ môi trường trong khu vực VQG,
đồng thời họ cũng được chia sẻ lợi ích thu được từ du lịch. (Reid, H., 2000).
Ở VQG Vutut tại Canada, vừa là một KBTTN vừa là khu di sản văn hóa của người
bản địa ở vùng Bắc Cực, đời sống của thổ dân ở đây đã được cải thiện rõ rệt khi họ được
tham gia vào việc quản lý KBT. Tại đây ban quản lý VQG giúp về kỹ thuật xây dựng
các mô hình bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển KT-XH, còn dân bản địa có
thể thực hiện các mô hình đó. Hợp tác quản lý ở đây đã giải quyết hài hòa mâu thuẫn
giữa chính sách của chính quyền và bản sắc truyền thống của người dân, bảo đảm
cho sự thành công của công tác bảo tồn hoang dã và bảo tồn các di sản văn hóa, đồng
thời mang lại cuộc sống ổn định cho thổ dân sống phụ thuộc vào khai thác tài nguyên ở
vườn. (Sherry, E. E., 1999).
Một nghiên cứu của Oli Krishna Prasad (1999), tại KBT Chitwan ở Nepal đã cho
thấy việc xây dựng KBT này đã thu hút được lượng khách du lịch rất lớn, nhất là du lịch
sinh thái ở các vùng đệm. Với việc thu hút được lượng khách du lịch đến với VQG
Chitwan, đã giúp người dân ở đây phát triển các hoạt động dịch vụ làm cho đời sống của
họ ngày càng được nâng cao. Đồng thời để bảo vệ được KBT, chính phủ đã xây dựng
quy chế quản lý trong đó đưa ra nghị định đảm bảo các quyền của người dân như: quyền
Vào khoảng những năm 1945 ở Thái Lan, độ che phủ của rừng đạt tới 60%, nhưng
đến năm 1995 giảm xuống còn 26%. Năm 1989, Cục Lâm nghiệp của Hoàng Gia
Thái Lan (The Royal Forest Department) thành lập khu bảo tồn để bảo vệ diện tích
rừng còn lại. Điều này dẫn tới xung đột giữa các CĐĐP. Một thử nghiệm của Dự án
“Quản lý rừng bền vững thông qua sự cộng tác” thực hiện tại Khu bảo tồn động vật
hoang dã Phu Kheio, tỉnh Chaiyaphum ở Đông Bắc Thái Lan. Kết quả chỉ ra rằng, điều
căn bản để quản lý bền vững tài nguyên là phải thu hút sự tham gia của các bên liên quan
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
101
và đặc biệt là phải bao gồm cả phát triển CĐĐP bằng các hoạt động làm tăng thu nhập
của họ (dẫn theo Ngô Ngọc Tuyên, 2007).[15]
Tóm lại: Qua một số nghiên cứu điển hình trên đây đã cho chúng ta thấy rằng,
các nghiên cứu mới chỉ có những phân tích định tính về sự phụ thuộc của các cộng
động dân cư vào tài nguyên và khẳng định cần thiết phải có sự tham gia của người
dân vào các hoạt động bảo tồn TNR. Tuy nhiên, chưa có các nghiên cứu định lượng
xác định những tác động của cộng đồng vào TNR và những nguyên nhân cụ thể dẫn
tới những tác động đó vào TNR.
1.3. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Tình trạng nghèo đói của người dân trong và xung quanh các khu rừng đặc dụng là
một thực tế của các vùng núi xa xôi hẻo lánh, thường có diện tích đất canh tác hẹp và ít
có cơ hội tiếp cận với thị trường. Nhiều KBT của Việt Nam là nơi sinh sống của các dân
tộc ít người, đa số họ đều đang sống trong tình trạng nghèo đói. Vì vậy, các cộng đồng
này thường phụ thuộc nhiều vào các nguồn tài nguyên còn lại trong các KBT. Các KBT
tự nó không phải là công cụ mạnh để giảm nghèo nhưng có thể mang lại nhiều lợi ích
quan trọng giúp làm giảm mức độ nghèo khổ của các cộng đồng nghèo. Ví dụ nhiều vùng
xa xôi hẻo lánh, các KBT cung cấp các cây thuốc, thường dưới dạng dùng trực tiếp, giữ vai
trò như là “kho dự trữ thức ăn” khi thiếu đói (Báo cáo quốc gia của Việt Nam về các KBT
và phát triển, 2003) [1]. Các KBT cung cấp nước sạch cho cộng đồng xung quanh và giúp
chăn thả gia súc….trong đó hình thức sử dụng đất rừng để sản xuất hàng hoá cho tỷ trọng
thu nhập cao nhất trong cơ cấu thu nhập của cộng đồng (36,4%).
1.4. Tình hình quản lý bảo vệ TNR tại VQG Hoàng Liên
1.4.1. Công tác bảo vệ rừng
Hiện VQG Hoàng Liên đang quản lý 28.509 ha rừng và đất rừng, trong những
năm qua công tác quản lý, bảo vệ rừng luôn được xác định là nhiệm vụ quan trọng của
VQG. Tổ chức có chức năng quản lý bảo vệ rừng là Hạt kiểm lâm VQG Hoàng Liên và
sự phối hợp của chính quyền địa phương các xã vùng đệm đảm nhận. Hạt kiểm lâm
VQG có 52 cán bộ, được bố trí trên 6 trạm kiểm lâm, văn phòng hạt kiểm lâm và tổ cơ
động. Các Trạm kiểm lâm phụ trách từng khu vực của VQG. Tổ cơ động có nhiệm vụ
kiểm soát toàn bộ khu vực VQG và hỗ trợ các Trạm kiểm lâm khi có các sự vụ xảy ra.
Hàng năm cán bộ kiểm lâm thường xuyên phối hợp với các xã, mà trực tiếp là các
nhóm hộ nhận khoán QLBVR, xây dựng phương án tổ chức tuần tra theo các tuyến, các
khu vực trọng điểm, đảm bảo mỗi thành viên của tổ/ nhóm có 3 ngày công đi
tuần/tháng. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong công tác tuần tra BVR, song TNR ở VQG
vẫn bị xâm hại bằng nhiều hình thức khác nhau, lực lượng kiểm lâm địa bàn đang hàng
ngày, hàng giờ đối mặt với người dân vì sự nghiệp bảo vệ TNR.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
103
Một số tồn tại trong công tác bảo vệ TNR tại VQG Hoàng Liên:
- Hiện tại, lực lượng kiểm lâm còn thiếu, khả năng cập nhật thông tin, kỹ năng tiếp
cận cộng đông của một số kiểm lâm viên còn hạn chế nên khi triển khai nhiệm vụ còn
nhiều vướng mắc, hiệu quả chưa cao; Trang thiết bị phục vụ cho công tác BVR, điều tra
giám sát ĐDSH còn thiếu; Lực lượng kiểm lâm thường xuyên bị thù địch và đe dọa bởi
đối tượng có hành vi khai thác trộm lâm sản.
- Việc tuyên truyền pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng còn gặp rất nhiều khó
khăn như: Các HGĐ ở xa trung tâm, phương tiện tuyên truyền còn thiếu, sự hiểu biết
của người dân còn hạn chế. Công tác hướng dẫn sử dụng đất và rừng đối với hộ nhận
Các hoạt động của VQG hầu hết có liên quan đến các kế hoạch phát triển KTXH
hàng năm cũng như lâu dài của địa phương như: Quy hoạch sử dụng đất, giao khoán
quản lý bảo vệ rừng, tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức về
bảo vệ rừng, bảo vệ đa dạng sinh học thông qua việc lồng ghép, tổ chức các cuộc thi tìm
hiểu, qua họp dân,v.v… Hỗ trợ vốn thông qua các Chương trình, dự án góp phần phát
triển KTXH, phát huy tiềm năng du lịch sinh thái có sự tham gia của cộng đồng người
dân địa phương.
Số lần UBND xã tham gia họp với Ban quản lý VQG thường ở các xã mỗi năm
một lần; Số lần phối hợp mở các lớp tuyên truyền nâng cao nhận thức về bảo tồn cho
CĐĐP 02 lần/năm; Ngoài ra hàng năm còn phối kết hợp với các địa phương tổ chức các
lớp tập huấn về công tác PCCCR, thường xuyên cùng nhau giải quyết các vấn đề tranh
chấp cũng như xâm phạm đền TNR của người dân các xã với VQG.
- Quan hệ giữa Ban quản lý VQG với người dân địa phương:
Trong thời gian qua, VQG Hoàng Liên đã vận dụng nhiều dự án trong nước và
quốc tế nhằm góp phần giúp người dân vùng đệm nâng cao đời sống (dự án 661 và các
dự án khác) trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa các phương thức bảo tồn đa dạng sinh học
và phát triển kinh tế. Người dân vùng đệm đã có những đóng góp tích cực trong công
tác QLBVR, tình hình vi phạm rừng giảm rõ rệt. Các xã vùng đệm đều thành lập tổ
QLBVR (tổ 661) đã phối hợp rất tốt với VQG Hoàng Liên trong công tác QLBVR và
PCCCR vào mùa khô. Người dân đã chủ động tham gia xây dựng hương ước bảo vệ
rừng, hàng năm ký cam kết với Vườn về QLBVR và PCCCR. Tuy nhiên để công tác
QLBVR đạt hiệu quả hơn nữa thì các cán bộ kiểm lâm, nhất là ở các trạm bảo vệ rừng cần
tăng cường mối quan hệ đoàn kết cùng dân, thông qua đó có các biện pháp tuyên truyền
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
105
công tác bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và tuyên truyền cho họ hiểu thêm về vai trò,
mục tiêu của VQG, các lợi ích của việc bảo vệ TNR, tài nguyên ĐDSH trong vùng.
1.5. Một số kết luận rút ra từ nghiên cứu tổng quan