nghiên cứu tính đa dạng sinh học và khả năng nhân giống hoa đỗ quyên tại vườn quốc gia hoàng liên - sa pa - lào cai - Pdf 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN XUÂN KHOA
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ KHẢ NĂNG
NHÂN GIỐNG HOA ĐỖ QUYÊN TẠI VƯỜN QUỐC GIA
HOÀNG LIÊN SA PA - LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ KHẢ NĂNG
NHÂN GIỐNG HOA ĐỖ QUYÊN TẠI VƯỜN QUỐC GIA
HOÀNG LIÊN SA PA - LÀO CAI Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT
Mã số: 60.62.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Mã số: 60.62.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐÀO THANH VÂN

THÁI NGUYÊN - NĂM 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ii
LỜI CẢM ƠN
Với mong muốn góp phần công sức của mình vào sự nghiệp bảo tồn đa
dạng sinh học, từ năm 2008 đến nay, tôi đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu tính
đa dạng sinh học và khả năng nhân giống hoa Đỗ quyên tại Vườn Quốc gia
Hoàng Liên - Sa Pa - Lào Cai”.
Để hoàn thành được đề tài và bản luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực
của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và những ý kiến đóng góp
quý báu của các thày, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp. Nhân dịp này cho tôi bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn khoa học PGS.TS Đào Thanh
Vân đã tận tình giúp đỡ tôi trong cả quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận
văn, xin cảm ơn các thày cô giáo và Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm
Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

2.1. Mục đích
3
2.2. Yêu cầu
3
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4
3.1. Ý nghĩa khoa học
4
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
4
Chƣơng 1 - TỔNG QUAN
5
1.1. Nguồn gốc, đặc điểm hình thái, thực vật học hoa Đỗ quyên
5
1.1.1. Nguồn gốc, phân loại hoa Đỗ quyên
5
1.1.2. Đặc điểm thực vật học
7
1.2. Yêu cầu sinh thái của cây hoa Đỗ quyên
8
1.2.1. Ánh sáng
8
1.2.2. Nhiệt độ
8
1.2.3. Nước
9
1.2.4. Đất
10
1.2.5. Nhu cầu dinh dưỡng khoáng của cây hoa Đỗ Quyên
10

2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
31
2.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
31
2.3.1. Nội dung nghiên cứu
31
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu
31
2.3.2.1 Phương pháp kế thừa
32
2.3.2.2. Điều tra, khảo sát ngoài thực địa kết hợp thu mẫu vật, mô tả
tình hình sinh trưởng của các loài Đỗ quyên
32
2.3.2.3. Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống Đỗ quyên bằng phương pháp giâm
hom.
36
Chƣơng 3 - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
41
3.1. Điều tra, phân loại các loài Đỗ quyên theo các nhóm chức năng và
nhóm đánh giá
41
3.2. Đặc điểm hình thái các loài Đỗ quyên phân bố tại khu vực Hoàng Liên
44
3.2.1. Đặc điểm hình thái thân
44
3.2.2. Đặc điểm lá của các loài Đỗ quyên tại khu vực Hoàng Liên
48
3.2.3. Đặc điểm hình thái hoa các loài Đỗ quyên khu vực Hoàng Liên
54
3.2.4. Đặc điểm hình thái quả các loài Đỗ quyên khu vực Hoàng Liên

72
3.3.2.3. Ảnh hưởng của thời vụ giâm hom đến khả năng ra rễ, thời
gian ra rễ, hom sống và tỷ lệ xuất vườn của hom Đỗ quyên hoa bông
74
3.3.3. Ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến khả năng nhân giống Đỗ
quyên bằng phương pháp giâm hom
76
3.3.3.1. Ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến khả năng ra mô sẹo của
hom Đỗ quyên hoa bông
76
3.3.3.2. Ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến khả năng ra lá, bật mầm
và chiều cao của hom Đỗ quyên hoa bông
77
3.3.3.3. Ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến khả năng ra rễ, thời gian
ra rễ, hom sống và tỷ lệ xuất vườn của hom Đỗ quyên hoa bông
79
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
81
Kết luận
81
Kiến nghị
81
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
81
TÀI LIỆU THAM KHẢO
82
PHỤ LỤC
85
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

vii
DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1. Các họ đa dạng nhất hệ thực vật Hoàng Liên
21
Bảng 1.2. Các chi đa dạng nhất hệ thực vật Hoàng Liên
22
Bảng 3.1. Danh sách các loài Đỗ quyên khu vực Hoàng Liên
41
Bảng 3.2. Phân loại Đỗ quyên theo nhóm chức năng và nhóm đánh
giá
42
Bảng 3.3. Đặc điểm hình thái thân của các loài Đỗ quyên tại khu
vực Hoàng Liên
45
Bảng 3.4. Đặc điểm lá của các loài Đỗ quyên khu vực Hoàng Liên
48
Bảng 3.5. Đặc điểm hình thái hoa và sự ra hoa của các loài Đỗ
quyên tại khu vực Hoàng Liên

mầm và chiều cao của hom Đỗ quyên hoa bông
77
Bảng 3.16. Ảnh hưởng của độ dài hom đến khả ra rễ, thời gian ra
rễ, hom sống và tỷ lệ xuất vườn của hom Đỗ quyên Hoa bông
79

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

viii
DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1. Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến tỷ lệ ra mô sẹo của
hom Đỗ quyên hoa bông
66
Hình 3.2. Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến tỷ lệ ra rễ của hom
Đỗ quyên hoa bông
69
Hình 3.3. Ảnh hưởng của thời vụ giâm hom đến tỷ lệ ra mô
sẹo của hom Đỗ quyên hoa bông
72
Hình 3.4. Ảnh hưởng của thời vụ giâm hom đến tỷ lệ ra rễ của
hom Đỗ quyên hoa bông
74
Hình 3.5. Ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến tỷ lệ ra mô sẹo
của hom Đỗ quyên hoa bông
77
Hình 3.6. Ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến tỷ lệ ra rễ của
hom Đỗ quyên hoa bông
79


chính là lý do giải thích về tầm quan trọng của du lịch sinh thái, một
ngành kinh tế không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại. Du lịch sinh thái
là khâu kết nối giữa con người với tự nhiên và giữa con người với nhau, 2

sự hấp dẫn, lôi cuốn của nó chính là vẻ đẹp, sự hùng vĩ của thiên nhiên
với những danh thắng, chim muông và những loài hoa đồng nội, trong đó
có các loài hoa Đỗ quyên được coi như những loài hoa vương giả.
Địa bàn huyện Sa Pa trong đó có Vườn Quốc gia Hoàng Liên
được xem như có tính đa dạng sinh học cao nhất trong hệ thống rừng đặc
dụng Việt Nam với gần 3.000 loài thực vật và trên 500 loài động vật.
Trong số đó có 116 loài thực vật và 60 loài động vật đang bị đe dọa được
ghi trong Sách đỏ Việt Nam và Danh lục đỏ Thế giới. Tài nguyên thực
vật rừng nơi đây cũng rất đa dạng về công dụng với 16 nhóm công dụng
chính như: Lấy gỗ, làm thuốc, cây bóng mát hoặc làm cảnh, làm rau ăn,
lấy quả, cho nhựa mủ, cho tanin, cho tinh dầu, Đặc biệt, nhóm các loài
cây Đỗ quyên (viết tắt là ĐQ) có nhiều giá trị công dụng khác nhau như
trồng làm cây cảnh, làm nguồn dược liệu chữa bệnh hoặc có thể trồng cây
đường phố và trồng cảnh quan. Hoa Đỗ quyên có giá trị kinh tế rất cao,
mỗi chậu hoa cảnh có giá từ vài trăm nghìn đến hàng triệu đồng.
Đỗ quyên là một nhóm các loài cây cho hoa đẹp, đa tác dụng và có
giá trị về nhiều mặt, nhiều lĩnh vực nên được rất nhiều người ưa thích.
Chúng chỉ phân bố tự nhiên ở những vùng núi cao, có khí hậu quanh
năm mát mẻ, vì đây là những loài cây của vùng Á nhiệt đới hoặc Ôn đới
núi cao. Ở Việt Nam, Đỗ quyên thường có ở Sa Pa, Tam đảo, Bạch mã,
Đà lạt, v.v, trong đó Sa Pa nơi có các dãy núi thuộc Vườn Quốc gia
Hoàng Liên, được coi là trung tâm có nhiều hoa Đỗ quyên nhất với
khoảng 30 loài khác nhau. Chính về sự đa dạng về giá trị và công dụng,

- Mô tả đặc điểm hình thái, tình hình sinh trưởng phát triển của Đỗ
quyên, phân loại các loài Đỗ quyên theo các nhóm chức năng.
+ Nhóm cây làm cảnh
+ Nhóm cây làm thuốc
+ Nhóm cây cho quả ăn được
+ Nhóm cây cho mục đích khác.
- Nhân giống loài Đỗ quyên hoa bông bằng phương pháp giâm hom.
4

3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
- Xây dựng cơ sở dữ liệu về các loài hoa Đỗ quyên, sử dụng làm
tài liệu tham khảo trong quá trình thực hiện các đề án phát triển rau, hoa
cây cảnh tại Sa Pa, Lào Cai.
- Xây dựng được quy trình nhân giống loài Đỗ quyên hoa bông
bằng phương pháp giâm hom, từ kết quả này các tổ chức, cá nhân và
người dân địa phương có thể áp dụng để phát triển các vườn Đỗ quyên,
sản xuất và cung cấp giống chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị trường
hoa cây cảnh.
- Từ kết quả nghiên cứu có thể làm cơ sở để ứng dụng tiếp tục
nhân giống một số loài Đỗ quyên khác có giá trị.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Ứng dụng kết quả nghiên cứu của đề tài từ đó mở ra một hướng
mới về việc sử dụng, phát triển loài Đỗ quyên thành một loài cây cảnh có
giá trị kinh tế và thẩm mỹ cao phục vụ cho nhu cầu trong và ngoài nước.
- Tạo điều kiện phát triển hoạt động du lịch sinh thái từ rừng cảnh
quan Đỗ quyên, vườn Đỗ quyên, với nhưng loài Đỗ quyên cổ thụ cho

chậu được xem như gió thơm xuân và khi đi dọc đường có hoa Đỗ quyên
nở người ta thường có cảm giác như là một rừng hoa núi.
Hoa Đỗ quyên có lịch sử lâu đời tại Trung Quốc, vào năm 402 sau
công nguyên đã xuất hiện hoa Đỗ quyên, sử sách Trung Quốc có ghi lại
thời đó Dê ăn lá Đỗ quyên bị chết; Thời đường ở Giang Tô đã trồng cây
Đỗ quyên và lưu truyền rằng Hoàng hậu Đường chinh thường đi thưởng
thức hoa Đỗ quyên vào ngày tết. Người ngoại quốc lấy rễ cây hoa Đỗ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6

quyên làm thuốc chữa bệnh. Đến thời Minh có rất nhiều tài liệu ghi chép
lại về hoa Đỗ quyên nhưng đến đời Thanh mới có một cuốn sách mô tả,
tổng kết kinh nghiệm về tập tính và cách trồng hoa Đỗ quyên. Đến thời
cận đại trước giải phóng do vận nước suy tàn nên nhiều loài hoa Đỗ
quyên bị mất ra nước ngoài. Lúc đó có 4 nhà học giả người Mỹ đã 31 lần
đến Trung Quốc thu lượm hoa trong đó có 1 phần hoa Đỗ quyên. Hiện
nay ở Anh có một vườn hoa có đến 350 loài hoa Đỗ quyên của Trung
Quốc. Trong một khu bảo tàng thực vật ở nước Anh có 1 cây hoa Đỗ
quyên được giữ làm tiêu bản gốc từ năm 1915, cây Đỗ quyên này có
đường kính là 2,6m, 280 năm tuổi theo vòng năm, sau này ở Anh đã khai
thác sử dụng tài nguyên di truyền phong phú của Trung Quốc, Nhật Bản
và châu Âu để lai tạo ra nhiều giống hoa Đỗ quyên mới, rồi hàng loạt các
loài hoa ưu tú xuất hiện, trong đó các nhà nghệ thuật vườn của nước Bỉ
đã chọn lọc lai tạo và nuôi dưỡng những loài hoa lớn mọc thích hợp vào
mùa đông được mọi người dân Bỉ rất hoan nghênh và được gọi là Đỗ
quyên Bỉ, sau này được đem về Trung Quốc và được gọi là hoa Đỗ
quyên tây. Hoa đỗ quyên ở Trung Quốc đã trở thành “Hoa nở trong
tường, hương thơm ngoài ngõ”.

flavon khác, đã xác định được những pelargonidin, delphinidin,
petunidin, còn flavonol glycosid thì có quercetin galactosid, rhamnosid,
azaleatin galactosid, malvidin glucosid, delphinidin glucosid. Hai chất
sau nầy nhuộm hoa màu tía, còn caroten hiến màu vàng trong hoa Rh.
japonicum f. flavum.
1.1.2. Đặc điểm thực vật học
Cây bụi, cây thân gỗ, thường xanh hoặc lá rụng.
Lá đơn, mọc cách, ít khi mọc đối hoặc mọc vòng, mép lá nguyên
hoặc có răng cưa, không có lá kèm.
Hoa tự đơn lẻ hoặc chùm, tán hoặc viền thùy ở nách lá hoặc đầu
cành, thường có 1 - 3 lá bắc. Hoa lưỡng tính đều hoặc không đều. Đài 4 -
5 cánh hợp gốc, tràng hợp ống, 4 - 5 cánh xếp lợp, đỉnh cánh tràng
thường có vết lõm. Nhị rời, thường gấp đôi số cánh tràng, bao phấn 2 ô
thường mở lỗ và có cựa. Triền hoa trong nhị. Bầu trên 4 - 5 ô, đôi khi
nhiều hơn. Mỗi ô 1 đến nhiều noãn, đính noãn trung trụ. Vòi nhụy
nguyên.
Quả nang, thường có múi, đôi khi quả mọng. Hạt thường có cánh,
nhiều phôi nhũ [3].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8

1.2. Yêu cầu sinh thái của cây hoa Đỗ quyên
1.2.1. Ánh sáng
Hoa Đỗ quyên là loại cây chiếu sáng dài, thông thường phải có điều
kiện chiếu sáng - không gian thì mới nở hoa, lúc sinh trưởng chế độ chiếu
sáng phải chọn lọc nhất định, các loài hoa Đỗ quyên rất ưa nửa bóng, kỵ
chiếu sáng mạnh, ánh sáng trực xạ sẽ làm cho chức năng quang hợp của lá
bị thay đổi dẫn đến hiện tượng héo sinh lý, nhất là khi độ chiếu sáng mạnh


9

đồng đều, nếu ở nhiệt độ dưới 10
o
C thời gian hoa nở kéo rất dài có khi
đến 80 ngày không bị héo, nếu nhiệt độ lớn hơn 20
o
C thời gian sẽ ngắn
hơn chỉ được khoảng 40 ngày. Do hoa Đỗ quyên sinh trưởng ở vùng cao
nên có khả năng chịu rét rất tốt thậm chí có loài hoa Đỗ quyên chịu được
nhiệt độ là âm 30
o
C [8],[21].
1.2.3. Nƣớc
Nước đóng vai trò quan trọng trong cơ thể thực vật. Nước giữ vai
trò quan trọng trong phân chia tế bào, khi có đầy đủ nước và môi trường
thích hợp, tế bào phân chia, phát triển thuận lợi cây sinh trưởng nhanh.
Khi thiếu nước các quá trình sinh lý, sinh hóa trong cây hoa giảm, các
hợp chất hữu cơ được tạo thành ít, cây còi cọc, phát triển kém. Nếu sự
thiếu nước kéo dài, cây hoa có thể khô héo và chết. Nhưng, nếu quá
nhiều nước, cây bị úng ngập, sinh trưởng phát triển của cây cũng bị
ngừng trệ. Quá ẩm ướt, sâu bệnh phát triển mạnh, hoa cho năng suất
thấp, chất lượng hoa kém. Mỗi loại hoa yêu cầu độ ẩm khác nhau. Hoa
Đỗ quyên thuộc ôn đới yêu cầu độ ẩm đất thường khoảng 70 - 90%, nếu
khống chế ẩm độ thích hợp thì độ dài cành tăng thêm trung bình 8,2%.
Hoa Đỗ quyên trong quá trình phát triển có bộ rễ rất mảnh, phản
ứng rất nhạy cảm đối với nước vừa sợ hạn vừa sợ úng chỉ cần cung cấp
đủ, quá khô hoặc quá ẩm đều không có lợi cho sinh trưởng. Hoa Đỗ
quyên cũng yêu cầu rất nghiêm khắc với trữ lượng nước, bình thường thì

thiện kết cấu đất, làm tăng khả năng giữ nước, giữ phân, thông gió, hút
nhiệt, xúc tiến ra rễ [8],[21].
1.2.5. Nhu cầu dinh dƣỡng khoáng của cây hoa Đỗ quyên
Nhu cầu dinh dưỡng và đặc điểm hút dinh dưỡng của cây có liên
quan đến nguồn gốc cây và giống. Nhu cầu và tác dụng sinh lý của các
nguyên tố khoáng với hoa Đỗ quyên có đặc điểm sau:
Theo Nguyễn Như Hà (2006) [7], Nguyễn Ngọc Nông (2009) [15]
+ Đạm (N): là nguyên tố quan trọng nhất của cây, nó là thành phần
của axit amin, protein, axit nucleic, men, chất kích thích sinh trưởng,
vitamin (chiếm khoảng 1-2% khối lượng chất khô). Cây có thể hút đạm
dưới các dạng: NO
3
-
, NO
2
-
, NH
4
+
, axit amin, Đạm ảnh hưởng rất lớn tới
sản lượng và chất lượng hoa, thiếu đạm cây sinh trưởng chậm, phân cành

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11

yếu, cành, lá nhỏ, diệp lục tố ít, lá biến vàng, lá già và dễ bị rụng, rễ nhỏ
dài và ít, cây thấp khả năng quang hợp giảm.
+ Lân (P): tham gia vào thành phần quan trọng của axit nucleic và
màng tế bào, tạo thành ATP là vật chất mang và tải năng lượng. Lân

bào và duy trì cân bằng của môi trường bên ngoài. Trong cây, canxi
không di động tự do. Nếu thiếu canxi, phần bị hại trước tiên là chóp rễ
sau đó đỉnh ngọn chồi bị xám đen và chết, quanh mép lá non xuất hiện

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12

những vết màu tím tối rồi lá khô và rụng, nụ bị teo và rụng. Canxi trong
đất rất ít di chuyển, vì vậy phải bón làm nhiều lần.
+ Magie (Mg): tham gia vào hoạt chất của nhiều loại men và tham
gia vào thành phần của chất diệp lục. Thiếu Mg ảnh hưởng tới quang
hợp, mặt dưới và gân lá bị vàng; nếu thiếu nhiều quá, gân lá sẽ thâm đen,
lá bị rụng. Mg còn tham gia vào quá trình tổng hợp protein và xúc tác
cho một số loại men. Mg có thể di chuyển trong cây.
+ Lưu huỳnh (S): tham gia vào quá trình hình thành protein. Cây
hút lưu huỳnh dưới dạng SO
4

. Lưu huỳnh di động trong cây rất yếu.
Thiếu lưu huỳnh biểu hiện ở phần non rõ hơn phần già, protein tạo thành
ít, cây sinh trưởng chậm. Thừa lưu huỳnh gây độc cho cây.
+ Sắt (Fe): là thành phần của nhiều loại men có liên quan tới quang
hợp. Nếu thiếu sắt, quang hợp sẽ giảm, lá non thiếu màu xanh. Sắt không
di động được trong cây, thiếu sắt trước hết biểu hiện ở các phần non.
Trong đất sắt thường tồn tại ở dạng Fe
2
O
3
, cây hút sắt ở dạng FeSO

rất chặt chẽ với việc hình thành chất diệp lục, quan hệ tới hiệu suất
quang hợp đồng thời còn tham gia vào quá trình trao đổi của đường và
protein.
1.2.6. Các loại sâu, bệnh thƣờng gặp ở Đỗ quyên
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Văn Mão (2001) [14] về các
loại sâu, bệnh hại thường gặp ở trên cây hoa Đỗ quyên cho thấy:
Các loại bệnh thường gặp ở Đỗ quyên:
Bệnh thối rễ, bệnh đốm nâu, bệnh đốm đen, bệnh khô lá và bệnh
vàng lá.
- Bệnh thối rễ: Sau khi bị bệnh cây khô héo, trên rễ có các đốm
nâu, nhiều nước. Bệnh nặng vỏ bị bóc ra, gỗ biến màu đen, trong điều
kiện nhiệt độ cao, độ ẩm lớn bệnh dễ phát sinh.
Phương pháp phòng trừ: Trước khi thay chậu cần khử trùng đất,
giữ cho đất tơi xốp, ẩm, tránh tích tụ nước. Nếu phát hiện cây bệnh phải
kịp thời xử lý cây và đất chậu. Khi phòng trừ dùng thuốc tím 0,1% hoặc
Sunfat sắt 2% tưới vào cây bệnh, dùng nước rửa sạch rồi đưa vào chậu;
dùng Topsin 0,1% phun vào chậu cũng có hiệu quả.
- Bệnh đốm nâu. Bệnh đốm nâu là bệnh hại chủ yếu của cây Đỗ
quyên. Khi bệnh mới xuất hiện, trên lá có các đốm nhỏ màu nâu rồi lan
rộng thành đốm lớn, trên đốm có các điểm đen. Bệnh làm cho lá rụng ảnh
hưởng đến sự ra hoa.

Trích đoạn Các loại sâu, bệnh thƣờng gặp ở Đỗ quyên Trên thế giớ Tính đa dạng sinh học của hoa Đỗ quyên tại Vƣờn Quốc gia Hoàng Liên SaPa Lào Ca Các nghiên cứu về ứng dụng cây hoa Đỗ quyên 1 Trên thế giớ Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đa dạng sinh học hoa Đỗ quyên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status