Nghiên cứu tính đa dạng sinh học thực vật khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước vân long tỉnh ninh bình làm cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn - Pdf 28

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
1.1.Nghiên cứu về đa dạng thực vật trên thế giới và Việt Nam 2
1.1.1. Nghiên cứu về đa dạng thực vật trên thế giới 2
1.1.2. Những nghiên cứu về đa dạng thực vật ở Việt Nam 4
1.2. Bảo tồn đa d
ạng sinh học thực vật trên thế giới và Việt Nam 8
1.2.1. Bảo tồn đa dạng sinh học thực vật trên thế giới 8
1.2.2. Bảo tồn đa dạng sinh học thực vật ở Việt Nam 11
1.3. Nghiên cứu về đất ngập nước trên thế giới và Việt Nam 14
1.3.1. Những nghiên cứu về đất ngập nước trên thế giới 14
1.3.2. Những nghiên cứu về đất ngập nước ở Vi
ệt Nam 17
1.4. Nghiên cứu về các yếu tố địa lý thực vật 20
1.5. Nghiên cứu về phổ dạng sống của hệ thực vật 24
1.6. Nghiên cứu đa dạng thực vật tại Khu BTTN ĐNN Vân Long 25
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1. Đối tượng nghiên cứu 27
2.2. Phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1. Phương pháp kế thừa, tổng hợp tài liệu có chọn lọc 27
2.2.2. Phương pháp xử lý thông tin viễn thám – GIS – thành lập bả
n đồ
thảm thực vật 27
2.2.3. Phương pháp điều tra, phân tích – phân loại và xây dựng danh lục 28
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1. Đánh giá khái quát điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội vùng nghiên cứu 33

KDTSQ: Khu dự trữ sinh quyển
NĐ 32: Nghị định 32/2006/NĐ- CP ngày 30 tháng 3 năm 2006
Nxb: Nhà xuất bản
SĐVN: Sách đỏ Việt Nam
VQG: Vườn quốc gia

Tiếng Anh
IUCN: Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quố
c tế
UNEP: Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc
UNESCO: Tổ chức Văn hóa, Khoa học của Liên hợp quốc
WWF: Quỹ Bảo tồn Động vật Hoang dã Quốc tế

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1. Thành phần loài trong các ngành thực vật Việt Nam 7
Bảng 1.2: Diễn biến diện tích và độ che phủ của rừng 12
Bảng 1.3. Phổ các yếu tố địa lý các loài thực vật Đông Dương theo Gagnepain 20
Bảng 1.4. Các yếu tố địa lý thực vật ở Việt Nam theo Pócs Tamás [8] 22
Bảng 1.5. Phổ dạng sống cở bản của nhóm cây chồi trên đất - Phanerophytes 25
Bảng 2.1. Bảng danh lục các loài thực vật bậc cao có mạch 30

Hình 3.2: Phổ yếu tố địa lý của hệ thực vật khu BTTN ĐNN Vân Long 43
Hình 3.3: Tỷ lệ (%) công dụng hệ thực vật khu BTTN ĐNN Vân Long 46
Hình 3.4.: Bản đồ thảm thực vật Khu BTTN ĐNN Vân Long 57

`
1
MỞ ĐẦU

Khu bảo tồn đất thiên nhiên đất ngập nước (KBTTN ĐNN) Vân Long được
thành lập theo quyết định số 2888/QĐ-UB ngày 18/12/2001 của Ủy ban nhân dân
tỉnh Ninh Bình. Với tổng diện tích 2.736 ha, Vân Long là vùng đất ngập nước lớn
nhất Đồng bằng Bắc Bộ, nơi còn lưu giữ những nét đặc trưng của một vùng đất

- Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên
thực vật.
`
2
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Nghiên cứu về đa dạng thực vật trên thế giới và Việt Nam
Cho đến nay, khái niệm hệ thực vật nói chung áp dụng cho tất cả các loài
thực vật sống trong một phạm vi địa lý nào đó ở các quy mô khác nhau, theo
nguyên tắc địa lý có thể là một vùng, một quốc gia, một miền hay một xứ địa lý. Ở
một phạm trù cụ thể theo Tomachev A.I (1974) hệ thực vật cụ thể tức là: “
hệ thực
vật của một vùng hạn chế trên bề mặt trái đất, hoàn toàn đồng nhất về mặt địa lý,
chỉ phân hóa về các điều kiện sinh thái” (Tomachev A.I., 1974: 185). [8]. Còn theo
khái niệm hệ thực vật trong Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam thì: Hệ thực vật
(còn gọi khu hệ thực vật) là toàn bộ các chi, loài thực vật sống trong một khu vực
địa lý, một thời kỳ lị
ch sử địa chất (vd: hệ thực vật Âu - Á, hệ thực vật Hòn Gai tuổi
Triat muộn). Hệ thực vật khác với thảm thực vật, hệ thực vật mang hàm ý về thành
phần giống loài, còn thảm thực vật chỉ sự tập hợp mọi thành phần thực vật.[40]
1.1.1. Nghiên cứu về đa dạng thực vật trên thế giới
Thực vật là mắt xích đầu tiên trong tất cả các chuối thức ăn và lưới thức ăn
của các hệ sinh thái trên trái đất bởi khả năng tự dưỡng của chúng. Vì thế, thực vật
đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì các hệ sinh thái tự nhiên cũng như sự phát
triển của xã hội loài người.
Tuy nhiên, do sự phát triển kinh tế - xã hội, sự tăng dân số dẫn tới việc phá
rừng, ảnh hưởng không nhỏ tới nguồn tài nguyên thực vậ
t. Sự suy giảm này kéo
theo sự suy giảm nguồn tài nguyên về đa dạng sinh học, sự biến động của các thành
phần môi trường như đất, nước, không khí… gây ảnh hưởng lớn tới đời sống của

xem loài là kết quả của sự phát triển tiến hóa tự nhiên, Lamarck cho rằng sinh vật
bao giờ cũng phát sinh từ những tổ chức rất đơn giản cho đến rất phức tạp.
Sự xuất hiện học thuyết Darwin (1809 - 1882) với tác phẩm nguồn gốc các
loài đã mở đầu cho thời kỳ mới trong Phân loại học, đó là th
ời kỳ phân loại tiến hóa
hay phân loại hệ thống sinh.
Đến những năm 60 của thế kỷ 20, Schmitthusen (1959) thống kê ở Châu Âu
có hai hệ thống phân loại thảm thực vật. chủ yếu, đó là: hệ thống phân loại quần xã
thực vật của Braun – Branquet, 1928) phần lớn được thực hiện bởi các nhà thực vật
học theo trường phái của Pháp và hệ thống phân loại các quần thể thực v
ật chủ yếu
được thực hiện bởi những nhà thực vật của Đức.
Sucasốp, là người đặt nền móng cho quan niệm sinh địa quần lạc, một cách
tiếp cận hệ sinh thái của trường phái xô viết, ông chủ trương dùng đơn vị phân loại
cơ bản của quần lạc thực vật là quần hợp để xác định ranh giới giữa các kiểu quần
lạc sinh đị
a, vì nó có khả năng phản ánh điều kiện khí hậu thổ nhưỡng của quần lạc
`
4
sinh địa đó. Chính học thuyết này đã có tác dụng phục vụ thiết thực cho công tác
kinh doanh rừng ở các nước Đông Âu và các nước thuộc Liên Xô cũ trước đây. [37]
Ở Mỹ, phân loại thảm thực vật chủ yếu theo học thuyết cực đỉnh (Climax)
của Cơlêmăng. Climax là một quần xã thực vật ổn định trong quá trình phát triển
lâu dài trên những vùng lãnh thổ rộng lớn với đất đai đã được hình thành từ lâu. Khí
hậu là nhân tố để xác định Climax.
Ở vùng nhiệt đới, theo Thái Văn Trừng (1978, 1999), Schimper là người đầu
tiên đưa ra hệ thống phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới [32,33]. Trong hệ thống
phân loại này, ông đã chia ra thảm thực vật thành quần hệ khí hậu, quần thể thổ
nhưỡng và quần thể vùng núi. Trong quần hệ khi hậu lại được phân chia thành 4
kiểu: kiểu rừ

ngữ” đã phân chia thực vật thành nhiều loại: cây cho hoa, cho quả, ngũ cốc, rau, cây
loại mộc, loại thảo, cây mọc theo các mùa khác nhau. Nguyễn Trữ (đời nhà Lê) đã
nghiên cứu sâu hơn về thực vật và viết tác phẩm “Việt Nam thực vật học” mô tả
được rất nhiều cây. Năm 1595 Lý Thời Chân cho xuất bản cuốn “Bản thảo cương
mục” trong đó có đề cập tới trên 1000 vị thuốc thảo mộc
Trong thời kỳ thuộc Pháp, tài nguyên thực vật phong phú ở nước ta đã hấp
dẫn nhiều nhà nghiên cứu phương Tây. Họ đã để lại một số công ttrình, như: “Thực
vật ở Nam Bộ” (1790) của Loureiro, mô tả gần 700 loài cây. “Thực vật rừng Nam
Bộ” (1879) của Pierre cũng mô tả gần 800 loài cây gỗ. Công trình lớn nhất là bộ

“Thực vật chí tổng quát Ðông Dương” do H.Lecomte và một số nhà thực vật học
người Pháp biên soạn (từ 1907 đến 1943) gồm 7 tập chính và sau lại bổ sung thêm
bằng những tập phụ, trong đó đã phân loại, mô tả thống kê các cây từ Dương xỉ tới
thực vật Hạt kín của toàn Ðông Dương. Ngoài ra còn phải kể một số sách khác như:
“Danh mục các sản phẩm của Ðông Dương” của Crévost, Lemarié và Pételot, “Các
cây thuốc c
ủa Campuchia, Lào và Việt Nam” của Pételot, “Các cây thuốc của miền
Bắc Việt Nam” của Foucaud…
Từ 1954 tới nay, việc nghiên cứu về thực vật được đẩy mạnh và phát triển
nhanh chóng do yêu cầu của công tác điều tra tài nguyên thực vật. Bảng phân loại
đầu tiên của ngành lâm nghiệp Việt Nam về thảm thực vật rừng là bảng phân loại
do Cục Điều tra quy hoạch rừng xây dựng dựa trên đề xuất phân loạ
i của Loschau.
Theo đó, rừng được chia làm 4 loại hình:
-Loại I: gồm những đất hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi, trên loại này
cần gây trồng rừng.
-Loại II: gồm những rừng non, cần khoanh nuôi hay làm giàu.
-Loại III: gồm những loại rừng bị khai thác mạnh trở nên nghèo kiệt, cần
nuôi dưỡng làm giàu.
-Loại IV: những rừng còn bị ít tác động hay chưa bị tác động.

- Kiểu rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới;
- Kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới;
- Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô nhiệt đới;
- Kiểu trảng cây to, cây bụi, cỏ cao khô nhiệt đới;
- Kiểu truông bụi cây gai hạn nhi
ệt đới;
- Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp;
- Kiểu rừng kín hỗn hợp cây lá rộng, lá kim ẩm á nhiệt đới núi thấp;
- Kiểu rừng kín cây lá kim mưa ẩm ôn đới;
- Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô á nhiệt đới núi thấp;
- Kiểu rừng khô vùng cao;
- Kiểu rừng lạnh vùng cao.
`
7
Đáng chú ý là phải nhắc đến bộ “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ
(1991-1993) [17] xuất bản ở Canada, sau đó được Nhà xuất bản Trẻ chỉnh lý, bổ
sung và tái bản phát hành ở Việt Nam năm 2000. Đây là bộ sách được đánh giá là
đầy đủ, dễ sử dụng nhất và góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu thực vật ở
Việt Nam. Trong bộ sách này tác giả đã thống kê mô tả và kèm theo hình vẽ của
hơn 11.600 loài thực vật Việt Nam.
Tiếp đó, năm 1996, tập thể các nhà khoa học đã cho xuất bản cuốn “Sách đỏ
Việt Nam”, bao gồm danh sách các loài động, thực vật ở Việt Nam thuộc loài quý
hiếm, đang bị giảm sút số lượng hoặc có nguy cơ tuyệt chủng với phần thực vật có
356 loài nằm trong danh mục. Phiên bản mới nhất hiện nay là “Sách đỏ Việt Nam
năm 2007”. Theo số liệ
u này hiện nay Việt Nam có thêm 464 loài thực vật đang bị
đe dọa ngoài thiên nhiên, tăng 110 loài so với năm 1996. Ngoài “Sách đỏ Việt
Nam”, VIện Khoa học và Công nghệ Việt Nam còn hoàn thành việc soạn thảo
“Danh lục đỏ Việt Nam” vào năm 2007.
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) cho rằng nước ta có khoảng 11,373 loài thực vật

25
8
299
378
0%
182
1
5
1
137
23
2175
2524
3%
793
2
57
2
669
63
9787
11.373
20%
`
8

Võ Văn Chi công bố cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam” (1996) và gần đây là
cuốn “Từ điển thực vật ứng dụng” (2003). Trần Hợp công bố cuốn “Tài nguyên cây
gỗ Việt Nam”(2001). Hai nhà khoa học cũng đã cùng hợp tác nghiên cứu và công bố
cuốn “Cây cỏ có ích ở Việt Nam” gồm hai tập vào năm 1999 và 2002. Trong giai

nhằm đảm bảo sự sẵn có và tồn tại liên tục của nguồn tài nguyên đó.
Bảo tồn tồn thiên nhiên nói chung là bảo vệ nguyên vẹn hệ động thực vật
hiện đang tồn tại trong môi trường sống tự nhiên, nghĩa là bảo tồn các hệ sinh thái.
Nhìn chung có 2 cách tiếp cận cơ bản nhất của công tác bảo tồn đa dạng sinh học
nói chung và bảo tồn đa dạng sinh học thực vật nói riêng là bảo tồn tại chỗ/ nội vi
(in situ) và bảo tồn chuyển chỗ/ ngoại vi (ex situ).
Bảo tồn tại chỗ là bảo tồn loài mục đích ở tại nơi phân bố của chúng, bên
trong hệ sinh thái tự nhiên hoặc ban đầu, hoặc ở lập địa mà hệ sinh thái đó từng
tồn tại trước đây. Mặ
c dù thông thường nó được áp dụng cho các quần thể tái
sinh tự nhiên, song bào tồn tại chỗ có thể bao gồm cả tái sinh nhân tạo khi chúng
ta thực hiện công việc gây giống mà không có sự chọn lọc có ý thức và loài được
gây trồng ngay tại nơi mà hạt giống hoặc cái loại vật liệu sinh sản khác được thu
thập ngẫu nhiên.
Mục tiêu quan trọng nhất của bảo tồn là duy trì cấu trúc di truyền của quần
thụ hiện t
ại. Môi trường tự nhiên luôn thay đổi, nếu chúng ta để nguyên cho quần
thể “tự tồn tại” mà không cần có “sự tác động”, thì thành phần loài và phân bố phức
hợp gen sẽ thay đổi trong khi các quần thụ chuyển từ giai đoạn diễn thế này sang
giai đoạn diễn thế khác. Zobel và Talbert (1984) cho biết là nhiều dạng rừng thông
ở vùng đông nam Hoa Kỳ đã được hình thành nhờ các biến đổi nặng nề trong quá
khứ như cháy rừ
ng, bão táp. Nếu không quản lý, các rừng thông này sẽ bị thay thế
dần thành rừng cây lá rộng và theo thời gian, thông sẽ biến mất hoặc giảm đi nhiều.
Như vậy, nếu mong muốn lưu giữ các gen và phức hợp gen hiện có trong các quần
thụ thông thì các rừng thông đó cần phải được quản lý để ngăn chặn diễn these tự
nhiên và không cho cây lá rộng thay thế chiếm dần đất của rừng thông.
Bảo tồ
n ngoại vi là sử dụng bất kỳ biện pháp nào để thực hiện việc rời các
cây cá thể hoặc vật liệu nhân giống ra khỏi khu phân bố tự nhiên của chúng như

tổng diện tích 87 ha với một bộ sưu tập khổng lồ - bộ sưu tập thực vật nhiệt đới đầy
đủ nhất thế giới, bao gồm 3.504 loài của 1.273 chi và 199 họ thực vật. Ngoài ra còn
có một số vườn sưu tập, vườn thụ mộc dành riêng cho một hoặc một vài loài. Chẳng
hạn ở Malaysia có vườn thụ mộc của Việ
n nghiên cứu Lâm nghiệp Malaysia là sưu
tập sống của các loài Shorea, sưu tập Cao su (Hevea brasliiensis) ở Viện nghiên
cứu Cao su, sưu tập các cây Cọ dầu (Elaeis guineensis) ở Viện nghiên cứu Cọ dầu
Vườn thực vật có vai trò rất quan trọng trong việc bảo tồn thực vật vì các bộ
sưu tập sống của chúng cũng như các bộ tiêu bản khô là một trong những nguồn
thông tin tốt nhất về
phân bố cũng như yêu cầu về nơi cư trú của thực vật. Ban thư
ký bảo tồn các vườn thực vật (Botanical Garden Conservation Secretariat – BGCS)
`
11
của IUCN đã được thành lập để điều phối hoạt động của các vườn thực vật trên thế
giới (BGCS, 1987). Hiện nay có khoảng 2000 vườn thực vật trên thế giới với số
lượng lớn nhất và tập trung nhất là ở châu Âu với trên 600 vườn thực vật.
- Các quần thụ bảo tồn ex situ: được thực hiện đối với các loài thực vật,
đặc biệt là các loài quý hiếm, có giá trị cao về mặt khoa học hoặc kinh tế, hiện đang
bị đe dọa ngay trong vùng phân bố tự nhiên. Đây là nơi lưu giữ nguồn gen của loài
thông qua thu thập hạt từ các vùng phân bố khác nhau với số lượng cây mẹ đủ lớn
để đảm bảo cho nền tảng di truyền của loài không bị thu hẹp.
- Ngân hàng hạt: Đây là biện pháp bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật
thông dụ
ng, thực dụng và kinh tế nhất. Song cây rừng nhiệt đới lại có hạt ưa ẩm khó
hoặc không thể bảo quản lâu dài. Các ngân hàng hạt thường đòi hỏi đầu tư ban đầu
cao và chi phí tốn kém cho hoạt động bảo quản.
- Bảo quản phấn hoa: Biện pháp này có giá trị cho bảo tồn ngắn hạn và
trung hạn, chứ không được dài hạn và đáng tin cậy như bảo quản hạt. Thông thường
h

Rừng (năm 1991 và sửa đổi năm 2004), Luật Môi trường (1994 và sửa đổi 2005),
Luật Đa dạng sinh học (2008). Các cam kết quốc tế được ký kết và thực hiện như
CITES (Công ước cấm buôn bán động thực vật quý hiếm), Công ước đa dạng sinh
học (CBD)… Cho đến hết năm 2010, chúng ta đã đạt được thành tự
u to lớn trong
công tác phục hồi rừng, diện tích rừng đã đạt trên 13,03 triệu hecta với độ che phủ
39,5% (Bảng 1.2).
Bảng 1.2: Diễn biến diện tích và độ che phủ của rừng
Năm

Diện tích rừng (1000 ha) Độ che phủ
(%)
Ha/Đầu
người
Tổng cộng Rừng tự nhiên Rừng trồng
1943 14.300,0 14.300,0 0 43,2 0,57
1976 11.169,3 11.169,7 92,6 33,7 0,31
1980 10.683,0 10.180,0 422,3 32,1 0,19
1985 9.891,9 9.308,3 583,6 30,0 0,14
1990 9.175,6 8.430,7 744,9 27,8 0,12
1995 9.302,2 8.252,5 1.049,7 28,2 0,12
2000 10.915,6 9.444,2 1.491,4 33,2 0,14
2005 12.616,7 10.283,2 2.333,5 37,0 0,15
2010 13.030,9 10.304,8 3.083,3 39,5 0,15
Nguồn : Viện Điều tra Quy hoạch Rừng (từ 1976 đến nay) và Cục Kiểm Lâm, 2011
Bảng trên cho thấy giai đoạn mất rừng nhiều nhất là từ năm 1976 đến 1990.
Từ năm 1990 đến nay, diện tích rừng liên tục tăng, trong đó rừng trồng tăng rất
nhanh. Chỉ sau 20 năm rừng trồng đã tăng hơn 4 lần. Diện tích rừng tự nhiên tăng
lên trên 2 triệu hecta, nhưng chủ y
ếu là rừng phục hồi chưa có trữ lượng gỗ và số

Ngoài hệ thống các khu rừng đặc dụng, Việt Nam còn có một hệ thống các
khu rừng phòng hộ với tổng diện tích khoảng 5,6 triệu ha (Quyết định số 1828/QĐ-
BNN-CLN ngày 11/8/2011 của Bộ Nông nghiệp và PTNT). Tuy không đáp ứng
mục tiêu bảo tồn thiên nhiên giống nh
ư ở rừng đặc dụng nhưng các loài động thực
vật hoang dã được được tích cực bảo vệ hơn so với các khu vực sản xuất khác. Tuy
nhiên, hiện nay rừng phòng hộ chưa được chú ý đúng mức trong công tác bảo tồn
nên rừng đang bị suy thoái mạnh. Theo Nghiên cứu của tác giả Vũ Tấn Phương
(Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam - 2010) ở lưu vực của 4 con sông lớn đã đ
i
đến kết luận sau :
1
N
`
14
- Đa số diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn ở các lưu vực sông đều bị suy thoái.
- Mức suy thoái có diện tích lớn nhất ở tất cả các lưu vực đầu nguồn nghiên
cứu là suy thoái trung bình, chiếm từ 53-63% tổng diện tích rừng phòng hộ đầu
nguồn. Tiếp đến là suy thoái nghiêm trọng, chiếm từ 16-36% tổng diện tích rừng
phòng hộ đầu nguồn.
1.3. Nghiên cứu về đất ngập nướ
c trên thế giới và Việt Nam
Hiện nay trên thế giới, thuật ngữ đất ngập nước được hiểu theo nhiều cách
khác nhau, tùy theo mỗi quốc gia và mục đích sử dụng, quản lý ĐNN. Ở Việt Nam,
định nghĩa về ĐNN ghi tại điều 1 của Công ước Ramsar (phụ lục A), được sử dụng
chính thức trong các hoạt động liên quan tới ĐNN. Theo đó, ĐNN được định nghĩa
là: “nh
ững vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo,
thường xuyên hay tạm thời, có nước chảy hay nước tù, là nước ngọt, nước lợ hay
nước biển, kể cả vùng nước biển có độ sau không quá 6m khi triều thấp”. [48]

iển hình về HST và quản lý, bảo
tồn ĐNN phải kể đến Sott, D.A (1989), Wayne Roth – Nelson và Lê Văn Khoa
(1993)… Đặc biệt gần đây nhất Paul A. Keddy đã xuất bản cuốn sách “Wetland
ecology: principles and conservation”, đã đưa ra những giới thiệu về hệ sinh thái
ĐNN từ các nguyên tắc cơ bản đến các biện pháp được ứng dụng để phục hồi. [32]
Trong số các công trình nghiên cứu về năng suất sơ cấp của ĐNN ph
ải kể
đến Van der Valk và Davis (1978), Mtsch và Gosenlink (1986, 1993, 2000). Dòng
năng lượng và các nguồn dinh dưỡng của ĐNN cũng được các tác giả Cragg (1961),
Dvorak (1978), Gustafson và Adam (1978) đề cập. [32]
Trong khu vực Đông Nam Á, các nghiên cứu về vùng ĐNN lưu vực sông
Mê Kong (Le Van Khoa và W. Roth – Nelson, 1994; Anon, 1994) tập trung vào các
vùng ĐNN gần lưu vực sông Khi nghiên cứu đến hệ thực vật ở vùng ĐNN, Baltzer
và cộng sự (2001) đã tổng quan các vấn đề liên quan đến lưu vực sông Mê Kông,
đặc biệt là vai trò của rừng đầ
u nguồn của các chi lưu vực thuộc các nước Việt
Nam, Lào, Thái Lan và Campuchia.
Martin B. Main, Ginger M. Allen, and Ken A. Langeland (2013) đã xác định
được 111 loài thực vật ngập nước cho hệ sinh thái đất ngập nước ngọt ở Florida, Mỹ
[42]. Đồng thời, trong công trình này, các tác giả đã chia các loài thực vật ở hệ sinh
thái đất ngập nước ra làm 3 loại dựa theo chiều sâu của nước và quá trình phát triển
của chúng như sau:
- Thực vật ngập nước hoàn toàn (sunmerged wetland plants): các loài này
sống hoàn toàn ng
ập trong nước, không thể sống thiều nước. Một vài loài có bộ rễ
bàm chắc vào trong đất trong khi một số loài khác thì không;
- Thực vật ngập nước nổi (floating wetland plants): các loài này bao gồm
nhóm thực vật cắm rễ vào đất ngập nước với lá nổi trên bề mặt và nhóm thực vật
nổi hoàn toàn với bộ rễ lơ lửng trong nước;
`

ủng hộ của nhiều tổ chức quốc tế như Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới
(IUCN), Chương trình môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP), các tổ chức phi
chính phủ (NGO)… đã tạo điều kiện cho sự
gia tăng về số lượng và chất lượng
của các công trình.

`
17
1.3.2. Những nghiên cứu về đất ngập nước ở Việt Nam
Đất ngập nước ở Việt Nam có số lượng khá lớn với diện tích chiếm 1/3 diện
tích cả nước, chủ yếu phân bố ở vùng châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long, các hệ
sinh thái đầm phá, các bãi bùn, các vùng cửa sông và rừng ngập mặn phân bố dọc
theo bờ biển kéo dài từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang). Vì thế
các công trình nghiên cứu về ĐNN ở Việ
t Nam tương đối phong phú, đề cập tới
nhiều vấn đề, được khái quát làm hai khuyenh hướng chính sau:
- Nghiên cứu tổng hợp theo từng vùng cụ thể hoặc toàn quốc, ví dụ: các vùng
ĐNN ở ĐB Sông Hồng, ĐB Sông Cửu Long…
- Nghiên cứu theo từng hợp phần của ĐNN, ví dụ như nghiên cứu HST
RNM, đa dạng động thực vật ở vùng ĐNN…
Một trong những dự án đầi tiên có liên quan tới ĐNN ở
Việt Nam là dự án
“Sông Mê Kông và Đồng bằng Sông Cửu Long” của Ủy ban sông Mê Kông (1957)
do chính phủ 4 nước: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan thành lập. Dự án này đã
tiến hành điều tra về thủy văn sông Mê Kông, kinh tế, xã hội,địa chất, khoáng sản,
tiềm năng nông nghiệp vùng hạ lưu sông Mê Kông cũng như các điều tra về hệ
động thực vật hoang dã của lưu vực sông Mê Kông. Theo tài liệu “Kiểm kê đất
ngập nước châu Á” (Scott, D.A, 1989), Việt Nam có kho
ảng 25 vùng đất ngập nước
bước đầu được kiểm kê với 2 nhóm chính là ĐNN nội địa và ĐNN ven biển.

ĐNN. Trong công trình này tác giả đã thống kê và công bố 32 vùng ĐNN quan trọn
cần được bảo vệ của nước ta. Tiếp theo đó, năm 1990, bản dịch tiếng việt của cuốn
“Bảo vệ ĐNN – Tổng quan các vấn đề hiện tại và hành động cầ
n thiết” của Patrik
J.Dugan đã được xuất bản, giúp các nhà khoa học Việt Nam tiếp cận cách nghiên
cứu ĐNN của thế giới.
Trong các nghiên cứu làm cơ sở khoa học cho việc quy hoạch các khu bảo
tồn ĐNN ở Việt Nam, Vũ Văn Dũng và Nguyễn Hữu Thắng đã thống kê tương đối
đầy đủ các kiểu ĐNN là ao hồ (tự nhiên và nhân tạo), đầm phá cần quy hoạch
thàtnh các khu bảo tồ
n. Sau đó là hàng loạt các công trình kiểm kê và phân loại
ĐNN của Nguyễn Hoàng Trí (1995), Phan Nguyên Hồng (1989 – 1998), Nguyễn
Chu Hồi (1995), Mai Trọng Nhuận, Đào Mạnh Tiến và cộng sự (1992 – 2003),
những công trình này đã làm rõ nhiều vấn đề lí luận và thực tiễn của nghiên cứu
ĐNN, đánh giá tổng quan các loại hình ĐNN, tiềm năng, tình hình quản lý, sử dụng,
các áp lực, mối đe dọa, chiến lược bảo vệ và phát triển bền vững
ĐNN Việt Nam.
Lê Văn Khoa và W. Roth – Nelson (1994) đã cùng hợp tác nghiên cứu về
các vùng ĐNN ở khu vực sông Mê Kông với kết quả là công trình “ĐNN sử dụng
bền vững cho nông nghiệp khu vực sông Mê Kong, Việt Nam” cho thấy các nghiên
cứu đã bắt đầu tập trung vào việc định hướng sử dụng và bảo tồn ĐNN. Khi định
`
19
hướng này được áp dụng cho toàn thể ĐNN ở Việt Nam, Nguyễn Chu Hồi và các
cộng sự (1996) đã xuất bản công trình “Việt Nam – Chiến lược quốc gia về bảo tồn
và quản lý ĐNN – Hiện trạng, sử dụng, bảo tồn và quản lý”. Các nghiên cứu về đặc
điểm sinh thái và đa dạng sinh học của các vùng ĐNN phải tới các công trình của
Vũ Trung Tạng (1994), Mai Đình Yên (1993)… đã thống kê, phân loại được nhiều
quần xã sinh vật, tìm hiểu được nhiều thành phần, nguồn gốc, phân bố và chức năng
của ĐNN.

20
macrocarpus) Các loại rừng này là nơi ở và kiếm ăn của các loài động vật mà chỉ
có ở vùng rừng nhiệt đới.
Hệ sinh thái ĐNN nội địa của Việt Nam có nhiều dạng như các hồ (hồ chứa,
hồ tự nhiên), sông suối. Các loài thực vật ở các hồ tự nhiên có những mức độ đa
dạng khác nhau: hồ Ba Bể (Bắc Kạn) với 100 loài thực vật nổi và 20 loài thự
c vật
bậc cao mọc ven bờ và sống nổi trên mặt nước, hồ Chứ (Phú Thọ), hồ Tây (Hà Nội)
với 12 loài thực vật nổi, Biển Hồ (Gia Lai) với 122 loài thực vật nổi, hồ Lak (Đăk
Lăk) với 100 loài thực vật nổi [15]… Còn ở các khu vực sông, hồ thì thực vật chủ
yếu là các loài tảo (Algae). Theo đánh giá của các nhà khoa học thì khu hệ thủy vật
của hệ sinh thái suố
i có tỷ lệ các loài đặc hữu cao và nhiều loài còn chưa được phát
hiện. Ví dụ thực vật đặc hữu của hồ Ba Bể là loài Trúc dây (Ampelocalamus sp.1)
mọc trên các vách đá, loài tảo đỏ ở hộ Ba Bể. Đây là những loài duy nhất được
được tìm thấy ở VQG Ba Bể.
1.4. Nghiên cứu về các yếu tố địa lý thực vật
Một hệ thực vật bao gồm các loài giống nhau và khác nhau về nguồn gốc
phân bố địa lý do sự phụ thuộc vào điều kiệ
n môi trường và lịch sử phát sinh. Ý
nghĩa chủ yếu của việc phân tích nguồn gốc phát sinh là để phân biệt hai nhóm thực
vật: bản địa và di cư.
Một vấn đề quan trọng khi phân tích đặc trưng phân bố địa lý của hệ thực vật
là xác định các loài đặc hữu. Theo Pocs Tamas, A.I. Tonmacchop, J.Schimithiisen:
“….đặc hữu là những loài chỉ phân bố ở một vùng (miền, địa phương…) duy nhất
trên trái đất, không thể phát hiện đượ
c ở bất kỳ nơi nào khác”.
Đánh giá khía cạnh đa dạng về yếu tố địa lý, Gagnepain (1924, 1944) đã thống
kê và sắp xếp các loài thực vật Đông Dương vào các yếu tố sau trong bảng 1.3 [8].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status