Nghiên cứu đa dạng sinh học bộ phù du (ephemeroptera) ở á đai 300 600m tại vườn quốc gia hoàng liên, tỉnh lào cai - Pdf 41

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN

======

TĂNG THỊ THU

ĐA DẠNG SINH HỌC BỘ PHÙ DU (EPHEMEROPTERA)
Ở Á ĐAI 300-600M TẠI VƢỜN QUỐC GIA
HOÀNG LIÊN, TỈNH LÀO CAI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Động vật học

HÀ NỘI, 2016


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS.Nguyễn Văn Hiếu, cán bộ
giảng dạy tổ Động vật, Khoa Sinh – KTNN, Trƣờng Đại học Sƣ Phạm Hà Nội
2, đã tận tình hƣớng dẫn và đƣa ra những ý kiến quý báu trong suốt thời gian
tôi thực hiện đề tài này.
Đồng thời qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban chủ
nhiệm Khoa cùng các thầy, cô giáo Khoa Sinh – KTNN, Trƣờng Đại học Sƣ
Phạm Hà Nội 2, những ngƣời đã truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện thuận
lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình.
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, thầy cô
những ngƣời đã luôn động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu khoa học.
Xin chân thành cảm ơn!
Xuân hòa, ngày tháng năm 2016

1.4. Một số đặc điểm tự nhiên của Vƣờn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào
Cai ............................................................................................................... 12
141

t

142

a h nh .......................................................................................... 13

1.4.3.

a ch t và th nh

144

a

...................................................................................... 13
ng .................................................................. 13

h h u ............................................................................................ 14

1.4.5. Mạng

ới th y văn ......................................................................... 15

Chƣơng 2. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ................................................................................................ 16
2.1. Thời gian nghiên cứu ............................................................................ 16

Bảng 3.4. Số lƣợng các taxon thuộc các bậc phân loại của bộ Phù du ở mùa
khô và mùa mƣa tại Vƣờn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai ...................... 35
Bảng 3.5. Thành phần loài bộ Phù du nƣớc tại khu vực nghiên cứu ............. 37
Bảng 3.6. Số lƣợng loài và số lƣợng cá thể bộ Phù du ở nơi nƣớc chảy và
nƣớc đứng ở mùa khô trên đơn vị diện tích 0,25 m2....................................... 42
Bảng 3.7. Số lƣợng loài và số lƣợng cá thể bộ Phù du ở nơi nƣớc chảy và
nƣớc đứng ở mùa mƣa trên đơn vị diện tích 0,25 m2 ..................................... 43


DANH LỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Tỉ lệ % số loài theo các họ của bộ Phù du tại Vƣờn quốc gia Hoàng
Liên – Lào Cai. ................................................................................................ 25
Hình 3.3. Số lƣợng các taxon thuộc các bậc phân loại của bộ Phù du ở mùa
khô và mùa mƣa tại Vƣờn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai ...................... 36


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Bộ Phù du (Ephemeroptera) là 1 trong 9 bộ thuộc nhóm côn trùng nƣớc.
Phù du phân bố rộng trên toàn thế giới và có mặt hầu hết trong các dạng thuỷ
vực nƣớc ngọt nhƣ sông, suối, ao, hồ…Thậm chí chúng cũng có thể có mặt ở
những khe hoặc rãnh nƣớc nhỏ, nhƣng phổ biến nhất là các thủy vực dạng
suối. Giai đoạn ấu trùng của Phù du đƣợc phân biệt với tất cả các nhóm côn
trùng sống ở nƣớc khác, bởi có hàng mang ở hai bên phần bụng và có 2 hoặc
3 tơ đuôi dài ở phía cuối cơ thể.
Phần lớn Phù du đều có cấu tạo cơ thể thích nghi với đời sống bám hay
bơi lội tự do. Ngoài ra ấu trùng của một số loài có tập tính đào hang ở dƣới
nền đáy bùn hay cát của các thủy vực và sống ở đó cho đến khi vũ hóa thành
giai đoạn trƣởng thành. Đặc biệt, có một số loài thích nghi với lối sống bám
vào bề mặt của những khối hoặc viên đá trong thủy vực dạng suối. Giai đoạn

tỉnh Lào Cai”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu đa dạng về loài của bộ Phù du tại á đai 300-600m
- Nghiên cứu sự phân bố của bộ Phù du theo tính chất dòng chảy và theo
mùa tại á đai 300-600m
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
3.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài cung cấp những dẫn liệu khoa học đa dạng về loài, sự phân bố
theo tính chất dòng chảy và theo mùa ở á đai 300-600m thuộc địa phận Vƣờn
quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài góp phần cung cấp những tƣ liệu phục vụ cho việc
nghiên cứu về bộ Phù du sau này tại Vƣờn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào
Cai.

2


Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu bộ Phù du trên thế giới
Phù du (Ephemeroptera) là một trong những bộ côn trùng có cánh cổ
sinh, Bao gồm những côn trùng tƣơng đối nguyên thuỷ. Hoá thạch đầu tiên
của bộ Ephemeroptera đƣợc tìm thấy ở kỷ Cacbon và kỷ Pecma thuộc đại Cổ
sinh cách đây ít nhất 250 triệu năm (Edmund, 1982; Dudgeon,1999) [21], [23]
Nhà tự nhiên học nổi tiếng Lineaus (1758), đã mô tả 6 loài Phù du tìm
thấy ở Châu

u và xếp chúng vào một nhóm, ông đặt tên gọi là Ephemera.


các họ thể hiện rất khác nhau, có những họ chỉ có một vài loài nhƣ
Teloganiella, Teloganidae... hay có những họ có tới hàng trăm loài nhƣ
Heptageniidae, Leptophlebiidae... Tuy nhiên những con số này chƣa phản ánh
hết mức độ đa dạng của Phù du vì còn nhiều khu vực trên thế giới vẫn chƣa
đƣợc khám phá hết, nhất là các khu vực nhiệt đới.
Các nghiên cứu về Phù du ở các khu vực khác nhau trên thế giới cũng
thể hiện sự khác nhau rõ rệt. Đối với khu vực châu Âu và châu Mỹ, Phù du
đƣợc quan tâm nghiên cứu từ rất sớm và kết quả nghiên cứu cũng phong phú
hơn so với các khu vực khác . Ở châu Á, những nghiên cứu đầu tiên về khu hệ
Phù du đƣợc thực hiện bởi các nhà Côn trùng học đến từ châu u nhƣ: Navás
(1922, 1930) )[30][31], Lestage (1921, 1924 )(Dẫn theo Nguyen,2003)[32].
Những nghiên cứu này là cơ sở và nền tảng thúc đẩy việc nghiên cứu về Phù
du ở khu vực đông dân nhất thế giới. Trong thế kỷ XX, đã có nhiều quốc gia
trong khu vực quan tâm nghiên cứu về Phù du, nhƣ Trung Quốc, Hàn Quốc
và Nhật Bản.
Hsu (1931, 1932, 1935, 1936, 1937) tiến hành nghiên cứu Phù du ở
Trung Quốc, ông đã thực hiện một loạt các nghiên cứu về khu hệ Phù du ở
Trung Quốc và đã xây dựng đƣợc hệ khóa phân loại tới loài. Nhƣng các kết
quả nghiên cứu chỉ dừng lại trên đối tƣợng thu đƣợc ở giai đoạn trƣởng thành.

4


Cũng trong thời gian này, Ulmer (1932, 1933)cũng tiến hành nghiên cứu khu
hệ Phù du ở Trung Quốc. Ông đã thực hiện những nghiên cứu của mình trên
đối tƣợng ở giai đoạn ấu trùng của các loài Phù du, điều này đã bổ sung thêm
về thành phần loài của khu hệ Phù du ở Trung Quốc. Trên nền tảng đó, hàng
loạt các công trình nghiên cứu về Phù du ở Trung Quốc đƣợc thực hiện bởi
Wu (1986, 1987), You (1982, 1987), Zhang (1995), Zhou (1995)... (Dẫn theo
Nguyen,2003)[32].

nƣớc chảy mà ở đó cấu trúc nền đáy là các khối đá với nhiều kích thƣớc khác
nhau và có chứa mùn bã hữu cơ thì thành phần loài Phù du rất đa dạng.
Ngoài ra, các yếu tố tự nhiên khác nhƣ độ cao, độ che phủ của rừng tự
nhiên, … cũng ảnh hƣởng đến sự phân bố của Phù du . Điều đó chứng tỏ
rằng, các điều kiện tự nhiên có ảnh hƣởng lớn đến sự phân bố của Phù du
nhƣng thể hiện khác nhau giữa các loài, các giống do khả năng thích nghi,
sức chịu đựng của các loài khác nhau. Cụ thể khi tập trung nghiên cứu đối với
các họ thuộc bộ Phù du , nhận thấy có sự chênh lệch khá lớn về thành phần
loài giữa chúng. Nhƣ các họ Baetidae, Heptageniidae, Ephemerellidae,
Leptophlebiidae và Caenidae là những họ có thành phần loài chiếm ƣu thế
trong các thủy vực, trong khi các họ Oligoneuridae, Potamanthidae,
Polymitarcyidae và Prosopistomatidae lại có số lƣợng loài rất nhỏ, chẳng hạn
nhƣ họ Prosopistomatidae cho đến nay trên toàn thế giới chỉ có một giống
Prosopistoma với 3 loài (Dudgeon, 1999)[21]. Với dẫn liệu này, một lần nữa
khẳng định vai trò của điều kiện tự nhiên cũng nhƣ tính chất lí hóa của thủy
vực sống đối với sự phân bố của Phù du. Về khía cạnh ứng dụng, các nghiên
cứu ứng dụng của Phù du hiện nay tập trung vào việc dùng Phù du làm sinh
vật chỉ thị môi trƣờng. Quan tâm đến vấn đề này, có các công trình nghiên
cứu của Landa và Soldan (1991), Bufagni (1997). Khi nghiên cứu khía cạnh
này, các tác giả cho rằng việc sử dụng Phù du làm sinh vật chỉ thị dễ thực
hiện và có nhiều ƣu điểm. Hai ƣu điểm nổi bật là: thứ nhất có nhiều công

6


trình nghiên cứu phân loại đã đƣợc thực hiện, nên việc định loại tới loài dễ
dàng hơn. Thứ hai là hầu hết các loài Phù du rất nhậy cảm với sự biến đổi của
môi trƣờng nên sự việc sử dụng chúng làm sinh vật chỉ thị sẽ mang lại những
hiệu quả thiết thực (Dẫn theo Nguyen, 2003)[32].
1.2. Tình hình nghiên cứu bộ Phù du ở Việt Nam

tiếp tục công bố một số loài mới dựa vào các mẫu vật thu đƣợc ở Việt Nam.
Tshernova (1972) , dựa vào mẫu vật Phù du thu đƣợc ở khu vực suối vùng núi
tỉnh Hòa Bình đã mô tả một giống mới cho khoa học là Vietnamella (họ
Ephemerellidae) với loài chuẩn Vietnamella thani Tshernova. Sau này, giống
Vietnamella tiếp tục đƣợc tìm hiểu và bổ sung bởi Allen (1980), McCafferty
&

Wang

(1997,

2000).

Một

vài

loài

thuộc

họ

Potamanthidae,

Neoephemeridae và Ephemerellidae đƣợc nghiên cứu bởi Bae và McCafferty
(1991, 1998); Aleen (1971). Cũng trong năm 1972, Tshenova công bố thêm
một giống mới là Asiatella (họ Ephemerallidae) với loài chuẩn là Asiatella
fermorata (Dẫn theo Nguyen, 2003)[32].
Braasch và Soldan (1979, 1984, 1986, 1988) đã mô tả 10 loài mới

1980; Baetiella trispinata Tong and Dudgeon, 2000; Serratella albostriata
Tong and Dudgeon, 2000; Torleya arenosa Tong and Dudgeon, 2000;
Cincticostella boja Allen, 1975; Ephemera serica Eaton, 1871; Choroterpes
trifrucata Ulmer, 1939; Habrophlebiodes prominens Ulmer, 1939; Caenis
cornigera Kang and Yang, 1994; Isonychia formosana Ulmer, 1912 [12].
Ngoài việc phân loại các loài thuộc bộ côn trùng này, tác giả còn nhận xét về
sự phân bố của chúng theo độ cao của suối Thác Bạc.
Đặng Mỹ Tâm (2005), khi nghiên cứu về thành phần loài Phù du ở
Vƣờn quốc gia Tam Đảo đã xác định đƣợc 36 loài thuộc 24 giống và 8 họ.
Kết quả này so với nghiên cứu của Nguyễn Văn Vịnh (2004), thì đã bổ sung
thêm 4 loài là: Serratelle sp, Caenis sp.2, Baetis sp.3, Labiobbaetis sp.2 cho
Vƣờn quốc gia Tam Đảo, Vĩnh phúc [7].

9


Nguyễn Văn Vịnh (2005), trong dẫn liệu bƣớc đầu về Phù du ở Vƣờn
quốc gia Ba Vì, Hà Tây, đã thu đƣợc 27 loài thuộc 22 giống và 9 họ.Trong
đó, có một loài mới cho khoa học là Polyplocia orientalis. Trong nghiên cứu
này, tác giả cũng chỉ ra sự phân bố của các loài thuộc bộ Phù du theo tính chất
dòng chảy ( chủ yếu là các loài thuộc họ Heptageniidae và Leptophlebiidae),
7 loài phân bố ở nói nƣớc đứng ( chủ yếu là các loài thuộc họ Baetidae và
Caenidae) và 4 loài bắt gặp nơi nƣớc đứng và nƣớc chảy[16].
Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2007), trong kết quả bƣớc đầu điều tra
thành phần loài Phù du tại Vƣờn quốc gia Bi Doup - Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng,
đã xác định đƣợc 48 loài thuộc

30 giống và 7 họ. Trong đó, họ

Heptagennidae có 10 giống và 16 loài, họ Ephemerellidae có 5 giống với 12

tâm nghiên cứu nhiều.
1.3. Tình hình nghiên cứu bộ Phù du ở Vƣờn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh
Lào Cai.
Vƣờn Quốc gia Hoàng Liên nằm trong khu vực Tây Bắc Việt Nam, là
một trong những nơi có địa hình đa dạng và phức tạp, với nhiều núi cao và hệ
thống suối tự nhiên dày đặc, do vậy rất phù hợp cho sự tồn tại và phát triển
của bộ Ephemeroptera. Ở Việt Nam nói chung và Vƣờn quốc gia Hoàng Liên
nói riêng cho đến nay những nghiên cứu về Ephemeroptera còn rất tản mạn.
Tuy nhiên, Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2005, 2006, 2007), đã công bố một
số dẫn liệu ban đầu về bộ Phù du ở Vƣờn quốc gia Hoàng Liên, Lào Cai.
Nguyễn Văn Vịnh (2005), khi điều tra thành phần loài thuộc bộ Phù du
tại suối Mƣờng Hoa thuộc Vƣờn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai, đã xác
định đƣợc 53 loài thuộc 31 giống và 11 họ. Trong số 53 loài thu đƣợc có 24
loài vẫn chƣa xác định đƣợc đầy đủ tên khoa học. Các loài này chủ yếu thuộc
họ

Baetidae,

Ephemerellidae,

Heptageniidae,

Neoephemeridae,

Prosopistomatidae. Kết quả đã công bố đƣợc 4 loài mới cho khoa học dựa vào
các mẫu chuẩn thu đƣợc tại Sapa, đó là: Isca fasica Nguyen and Bae, 2003;

11




Lào Cai[19], [20] và kết quả nghiên cứu của Nguyễn Nghĩa Thìn (2008)[10].
Điều kiện tự nhiên của Vƣờn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai có những nét
cơ bản sau:
Vƣờn quốc gia Hoàng Liên nằm trong khu vực Tây Bắc Việt Nam, có
vị trí địa lý từ 22009’- 23030’ độ vĩ Bắc và 103000- 103059’ độ Kinh Đông.
Về địa giới hành chính gồm 6 xã: San Sản Hồ, Lao Chải, Tả Van, Bản Hồ,
Mƣờng Khoa, Thân Thuộc thuộc huyện Sa Pa và huyện Than Uyên, tỉnh Lào
Cai. Diện tích vƣờn quốc gia là 51.800 ha. Trong đó vùng l i là 29. 845 ha, là
phần cuối cùng của dãy Himalaya chạy dọc sông Hồng theo hƣớng Tây BắcĐông Nam.
Hoàng Liên là một hệ thống các đỉnh núi cao trên 2000 m chạy theo
hƣớng Tây Bắc – Đông Nam. Đặc biệt ở Vƣờn quốc gia có đỉnh núi
Phansipan cao 3.143m so với mặt nƣớc biển. Các hệ chính của dãy núi thoải
dần theo hƣớng Đông Bắc và Tây Nam tạo thành hai sƣờn chính của dãy
Hoàng Liên trong đó sƣờn Đông Bắc thuộc huyện Than Uyên. Các dạng địa
hình chủ yếu của Vƣờn Quốc Gia Hoàng Liên gồm núi cao, thung lũng, sƣờn
núi đồi. Mức độ chia cắt theo chiều ngang và chiều thẳng đứng rất mạnh tạo
ra sức phức tạp của địa hình và độ dốc lớn. Độ dốc trung bình phổ biến từ 20300, có nơi 400 và dốc đứng.
Hoàng Liên đƣợc cấu tạo từ các loại đá nguồn gốc mắc-ma nhƣ granit,
amphibolit, filit, đá vôi, trong đó đá granit là phổ biến nhất (Vũ Tự Lập,
1999). Địa chất và địa hình, kết hợp với khí hậu làm nên thổ nhƣỡng, qui luật
phân bố các loại đất đai ở Vƣờn quốc gia Hoàng Liên theo đai độ cao đƣợc
thể hiện khá r . Nhìn chung, các loại đất ở đây có, hàm lƣợng mùn cao, phần

13


lớn là dạng viên nhỏ, quá trình xói mòn và rửa trôi yếu, độ tơi xốp cao, độ ẩm
lớn, độ dầy tầng đất phổ biến là ở mức trung bình (từ 50- 120cm), phần cơ
giới thịt nhẹ, thịt trung bình, thịt nặng. Tính chất đất rừng còn thể hiện r ,

giông, sƣơng muối, tuyết… Trong đó sƣơng mù và mƣa phùn là hai hiện
tƣợng thời tiết phổ biến ở Vƣờn Quốc gia Hoàng Liên, thƣờng xuất hiện vào
những tháng mùa đông xuân từ tháng 11 đến tháng 3 của năm sau. Giông và
mƣa đá là hai hiện tƣợng thời tiết thƣờng xảy ra vào mùa hạ. Tuyết và sƣơng
muối là những hiện tƣợng thời tiết ít gặp, nhƣng để lại nhiều thiệt hại cho cây
trồng, vật nuôi và ảnh hƣởng mạnh mẽ đến đời sống của ngƣời dân nơi đây
1.4.5. Mạ

ới

Do đặc điểm địa hình của khu vực, Vƣờn Quốc gia Hoàng Liên đƣợc
tạo thành từ hai sƣờn chính: sƣờn Đông Bắc dốc thoải về phía sông Hồng và
sƣờn Tây Nam dốc thoải về phía sông Đà, vì vậy trong khu vực cũng tạo nên
hai hệ suối chính:
- Hệ thống suối thuộc khu vực Đông Bắc gồm 3 suối chính: Mƣờng Hoa
bắt nguồn từ Phanxipan, Séo Trung Hồ bắt nguồn từ Tả Van, Tả Trung Hồ
bắt nguồn từ Bản Hồ. Ba suối này gặp nhau tại khu vực Bản Dền tạo thành
ngòi Bo đổ ra sông Hồng. Vì địa hình dốc, chia cắt mạnh, nên về mùa đông
chúng chỉ là suối cạn song về mùa mƣa, đặc biệt là vào các tháng có lƣợng
mƣa tập trung (7,8,9) thƣờng có lũ và lũ quét.
- Hệ thống suối thuộc khu vực Tây Nam dãy Hoàng Liên gồm hai suối
chính: Suối Nậm Bé bắt nguồn từ Phansipan và suối Nậm Pao, Nậm Chăng.
Cả hai suối này đều chảy ra con ngòi lớn Nậm Mu và đổ ra sông Đà. Ngoài
hai hệ thống suối chính thuộc hai sƣờn của dãy Hoàng Liên, còn một con suối
bắt nguồn từ lƣu vực thuộc xã Sa Pả và một phần từ Sa Pa, chảy theo hƣớng
Đông Bắc đổ vào sông Hồng tại thị xã Lào Cai.

15



Độ cao (m) /
Tọa độ

Khái quát đặc điểm sinh cảnh
Nƣớc suối chảy tƣơng đối mạnh.

625

(220 14,968’; Suối nhiều mùn bã thực vật. Nền
Suối nhánh Tả
S1

1030 57,190’) đáy của suối chủ yếu là đá nhỏ và
cát, đôi khi có đá tảng. Một bên

Trung Hồ

suối là rừng với nhiều cây gỗ, một

(xã Bản Hồ)

bên là ruộng bậc thang. Độ che
phủ 30-70%.
Nƣớc suối chảy mạnh. Nền đáy

580
Suối Nậm Cang
S2

1

S5

Suối Nậm Cang
4

Nƣớc suối chảy mạnh. Nền đáy

452

(220 14,670’; của suối là đá tảng và đá trung
1030 59,540’) bình. Độ che phủ 5-8%.
Nền đáy của suối chủ yếu là đá

448

(220 15,020’; nhỏ và trung bình. Một bên suối là
17


(xã Nậm Sài)

1030 59,363’) ruộng canh tác, một bên suối là
vƣờn cây. Lòng suối rộng. Độ che
phủ 0-2%.
Nền đáy chủ yếu là đá nhỏ và

417
S6

Suối Lave 1


1030 58,395’) bã thực vật. Độ sâu của suối
tƣơng đối lớn. Độ che phủ 0-5%.
Nƣớc suối chảy mạnh. Suối bị tác

377

(220 15,544’; động mạnh của con ngƣời qua
Suối Nậm Cang 1030 58,790’) việc khai thác cát và sỏi của suối.
S9

5

Nền đáy của suối chủ yếu là đá có

(xã Bản Hồ)

kích thƣớc lớn và trung bình. Suối
ít mùn bã thực vật. Độ che phủ
khoảng 0-5%.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status