Nghiên cứu đặc điểm sinh học và khả năng nhân giống cá Ong căng – Terapon jarbua (Forsskål, 1775) vùng ven biển Thừa Thiên Huế - Pdf 54

ỌC
ƢỜN

ỌC Ƣ P

M

LÊ THỊ N Ƣ P ƢƠN

NGHIÊN CỨ
ẶC ỂM SINH HỌC
VÀ KHẢ NĂN N ÂN ỐN CÁ ON CĂN
Terapon jarbua (Forsskål, 1775)
VÙNG VEN BIỂN THỪA THIÊN HU

Chuyên ngành:
Mã số:

ộng vật học
9.42.01.03

LUẬN ÁN TI N Ĩ

N

ỌC

N ƢỜI ƢỚNG DẪN KHOA HỌC
P . . Võ Văn Phú
PGS. TS. Nguyễn Quang Linh


2.3.2. Địa điểm phân tích mẫu............................................................................28
2.3.3. Địa điểm thăm dò khả năng nhân giống ...................................................28
2.4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................................31
2.4.1. Sơ đồ nghiên cứu ......................................................................................31
2.4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu ngoài thực địa ..................................................31
2.4.3. Phƣơng pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm ...................................32
2.4.4. Thăm dò khả năng nhân giống của cá Ong căng......................................37
2.4.5. Phƣơng pháp xử lý số liệu ........................................................................42

i


Chƣơng 3. K T QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN......................................43
3.1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ ONG CĂNG ...........................................43
3.1.1. Đặc điểm sinh trƣởng của cá ....................................................................43
3.1.2. Đặc điểm dinh dƣỡng ...............................................................................51
3.1.3. Đặc điểm sinh sản.....................................................................................63
3.2. THỬ NGHIỆM KHẢ NĂNG NHÂN GIỐNG CÁ ONG CĂNG .................81
3.2.1. Kích thích sinh sản và ấp trứng cá Ong căng ...........................................81
3.2.2. Kỹ thuật ƣơng từ cá bột lên cá hƣơng ......................................................89
3.2.3. Kỹ thuật ƣơng từ cá hƣơng lên cá giống ..................................................93
3.3. XÂY DỰNG QUY TRÌNH NHÂN GIỐNG CÁ ONG CĂNG .....................98
3.3.1. Kỹ thuật nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ ......................................................99
3.3.2. Kỹ thuật tuyển chọn cá bố mẹ và cho đẻ................................................100
3.3.3. Kỹ thuật thu, ấp trứng nở ra cá bột .........................................................102
3.3.4. Kỹ thuật ƣơng cá bột lên cá hƣơng ........................................................103
3.3.5. Kỹ thuật ƣơng cá hƣơng lên cá giống ....................................................105
K T LUẬN VÀ Ề NGHỊ ...................................................................................107
1. KẾT LUẬN......................................................................................................107
2. ĐỀ NGHỊ .........................................................................................................108


D1

Vây lƣng thứ nhất

D2

Vây lƣng thứ hai

ĐH

Đại học



Giai đoạn

GSI

Gonadosomatic index: hệ số thành thục

HCG

Human Chorionic Gonadotropin: Hormone thai
kỳ đƣợc tiết bởi nhau thai.

KHCN

Khoa học công nghệ


Thức ăn công nghiệp

TLS

Tỷ lệ sống

TSD

Tuyến sinh dục

TLTT

Tỷ lệ thành thục

TB

Trung bình

TP

Thành phố

iv


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm 2016 tại các trạm quan trắc ở
tỉnh Thừa Thiên Huế .................................................................................................20
Bảng 1.2. Số giờ nắng trung bình tháng trong năm 2016 .........................................21
Bảng 1.3. Phân chia lao động theo khu vực kinh tế (ngƣời) .....................................24

khác nhau (%) ...........................................................................................................83
Bảng 3.20. Ảnh hƣởng của LRH-A3 đến một số chỉ tiêu sinh sản ...........................84
Bảng 3.21. Ảnh hƣởng của nồng độ HCG đến một số chỉ tiêu sinh sản của cá Ong
căng ...........................................................................................................................85
Bảng 3.22. Sự phát triển phôi của cá Ong căng ........................................................87
Bảng 3.23. Các yếu tố sinh thái của môi trƣờng ƣơng cá Ong căng từ cá bột lên cá
hƣơng trong thí nghiệm về độ mặn ...........................................................................89
Bảng 3.24. Các yếu tố sinh thái ƣơng cá Ong căng từ cá bột lên cá hƣơng trong thí
nghiệm về thức ăn .....................................................................................................90
Bảng 3.25. Ảnh hƣởng của các loại thức ăn đến tỷ lệ sống của cá Ong căng GĐ cá
bột lên cá hƣơng (%) .................................................................................................91
Bảng 3.26. Ảnh hƣởng của độ mặn đến tỷ sống của cá Ong căng GĐ cá bột lên cá
hƣơng (%)..................................................................................................................92
Bảng 3.27. Các yếu tố sinh thái của môi trƣờng ƣơng cá Ong căng từ cá hƣơng lên
cá giống trong thí nghiệm về thức ăn ........................................................................94
Bảng 3.28. Các yếu tố sinh thái của môi trƣờng ƣơng cá Ong căng từ cá hƣơng lên
cá giống trong thí nghiệm về độ mặn ........................................................................95
Bảng 3.29. Ảnh hƣởng của độ mặn đến tăng trƣởng của cá .....................................95
Bảng 3.30. Ảnh hƣởng của các khẩu phần thức ăn đến tăng trƣởng của cá .............96
Bảng 3.31. Ảnh hƣởng của các loại thức ăn đến tỷ lệ sống của cá Ong căng GĐ 15
đến 40 ngày tuổi (%) .................................................................................................97
Bảng 3.32. Ảnh hƣởng của độ mặn đến tỷ lệ sống của cá Ong căng GĐ 15 đến 40
ngày tuổi (%) .............................................................................................................97

iv


DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1. Cá Ong căng – Terapon jarbua (Forsskål, 1775) .....................................27
Hình 2.2. Các vùng/điểm thu mẫu trong khu vực nghiên cứu ..................................30

Hình 3.23. Lát cắt buồng trứng cá Ong căng GĐ VI - III (x20) ...............................73
Hình 3.24. Ảnh tinh sào cá Ong căng GĐ I (x100) ..................................................73
Hình 3.25a. Tinh sào cá Ong căng GĐ II ..................................................................74
Hình 3.25b. Ảnh tinh sào cá Ong căng GĐ II (x100) ...............................................74
Hình 3.26a. Tinh sào cá Ong căng GĐ III ................................................................75
Hình 3.26b. Ảnh tinh sào cá Ong căng GĐ III (x100) ..............................................75
Hình 3.27. Tinh sào cá Ong căng ở GĐ IV (x100) ...................................................76
Hình 3.28a. Bụng cá Ong căng đực GĐ V ................................................................76
Hình 3.28b. Tinh sào cá Ong căng ở GĐ V (x100) ..................................................76
Hình 3.29. Tinh sào cá Ong căng ở GĐ VI (x100) ...................................................77
Hình 3.30. Biểu đồ sự phát triển tuyến sinh dục theo nhóm tuổi..............................79
Hình 3.31. Các GĐ phát triển của phôi cá Ong căng ................................................88
Hình 3.32. Ảnh hƣởng của độ mặn đến tỷ lệ sống của cá GĐ cá bột lên cá hƣơng...........93
Hình 3.33. Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất giống cá Ong căng .........................98
Hình 3.34. Vị trí đặt lồng nuôi tại xã Phú Thuận ......................................................99
Hình 3.35. Kiểm tra sự thành thục sinh dục của cá ................................................101
Hình 3.36. Tiêm LRH-A3 cho cá ............................................................................101
Hình 3.37. Bể đẻ cá Ong căng.................................................................................102
Hình 3.38. Bể ấp trứng ............................................................................................103
Hình 3.39. Bể ƣơng cá Ong căng từ cá bột lên cá hƣơng .......................................104
Hình 3.40. Bể ƣơng giai đoạn cá hƣơng lên cá giống .............................................105

vi


MỞ ẦU
Thừa Thiên Huế là tỉnh duyên hải miền Trung, có bờ biển dài hơn 127 km với
thềm lục địa biển Đông và hệ đầm phá rộng lớn, có hệ sinh thái đa dạng với nhiều
loài thủy sinh vật sinh sống. Hệ thống đầm phá và vùng ven biển Thừa Thiên Huế
có giá trị nhiều mặt về kinh tế xã hội, lịch sử văn hoá, đặc biệt là về sinh thái, môi

1. Lý do chọn đề tài
Qua bƣớc đầu tìm hiểu về tình hình nghiên cứu về họ cá Căng nói chung và
loài cá Ong căng nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam cũng nhƣ hiện trạng khai
thác và đánh bắt cá Ong căng ở Việt Nam, đề tài này đƣợc lựa chọn với các lý do
sau:
- Việc nghiên cứu về họ cá Căng nói chung và cá Ong căng nói riêng trên thế
tập chung chủ yếu vào đặc điểm sinh học, phân bố và môi trƣờng sống của cá.
- Các công trình khoa học nghiên cứu về cá Ong căng tại Việt Nam chủ yếu
tập trung vào mô tả, phân loại, một số đặc điểm sinh học của cá, chƣa có nghiên cứu
nào đề cập tới việc cho sinh sản nhân tạo.
- Cá Ong căng đƣợc đánh giá là loài có triển vọng phát triển để nuôi thả tại vùng
đầm phá Thừa Thiên Huế vì sức đề kháng tốt, khỏe, có giá trị thƣơng phẩm và giá
trị dinh dƣỡng cao, đƣợc ngƣời dân ƣu thích. Tuy nhiên, nghề nuôi cá Ong căng
chƣa đƣợc phát triển do thiếu nguồn giống, đặc biệt là giống đƣợc sản xuất nhân tạo
để có thể cung cấp đƣợc số lƣợng lớn cho nhu cầu nuôi. Chính vì vậy việc nghiên
cứu về đặc điểm sinh học và khả năng nhân giống của cá Ong căng góp phần phát
triển nghề nuôi cá biển tại Thừa Thiên Huế.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hiểu rõ và xác định đƣợc các đặc điểm sinh học của cá Ong căng vùng ven biển
Thừa Thiên Huế.
- Thăm dò đƣợc khả năng nhân giống của cá Ong căng: thử nghiệm loại kích dục tố
và chất kích thích sinh sản thích hợp để kích thích sinh sản cá Ong căng, nghiên cứu
sự phát triển của cá Ong căng bột và biện pháp kỹ thuật ƣơng nuôi cá giai đoạn cá
bột lên cá giống.
3. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Ong căng: đặc điểm sinh trƣởng, đặc điểm
dinh dƣỡng và đặc điểm sinh sản của cá.

2


1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1. Tình hình nghiên cứu về họ cá Căng ( eraponidae) trên thế giới
Trên thế giới, họ cá Căng (Teraponidae) có khoảng 52 loài nằm trong 16
giống. Chúng phân bố chủ yếu ở vùng ven bờ Ấn Độ Dƣơng và Tây Thái Bình
Dƣơng [77].
1.1.1.1. Các nghiên cứu về phân loại, hình thái
Các nghiên cứu về phân loại học của họ cá Căng đƣợc thực hiện ở nhiều vùng
khác nhau trên thế giới. Lourie và Ben-Tuvia A. (1970) lần đầu tiên đã ghi nhận
đƣợc loài Pelates quadrilineatus (Bloch) thuộc họ Teraponidae ở vịnh Haifa [62].
Almeida và cs (2001), khi nghiên cứu khu hệ cá ở các thảm cỏ biển tại Đảo
Inhaca (Mozambique) với các mẫu đƣợc thu tại ba trạm trong tháng 7 – 8/1993, đã xác
định đƣợc 66 loài cá thuộc 34 họ, trong đó có cá Ong bầu (P. quadrilineatus) chiếm
21% về tỷ lệ số lƣợng và chiếm 11,4 % về sinh khối [44].
Cá Ong căng Terapon jarbua lần đầu đƣợc tìm thấy và đặt tên Scieana jarbua bởi
Forsskål (1775) ở vùng Djedda, Biển Đỏ [57]. Cá Ong căng còn có các synonym sau:
Sciaena jarbua (Forsskål, 1775); Holocentrus jarbua (Forsskål, 1775); Holocentrus
servus (Bloch, 1790); Grammistes servus (Bloch, 1790); Terapon servus (Bloch,
1790); Therapon servus (Bloch, 1790); Coius trivittatus (Hamilton, 1822); Terapon
timorensis (Quoy and Gaimard, 1824); Pterapon trivittatus (Gray, 1846); Therapon
farna (Bleeker, 1879); Stereolepis inoko (Schmidt, 1931) [96].
Theo Golani và Appelbaum (2010), mẫu vật cá T. jarbua từ Biển Đỏ và Biển
Địa Trung Hải khác với các mẫu vật thu đƣợc từ vùng Viễn Đông (Hồng Kông và
Nhật Bản) cho thấy cần phải tiến hành nghiên cứu phân loại phân tử để làm rõ nhận
dạng của taxon này [55].
Theo mô tả của Day (1878), Talwar và Jhingran (1991), T. jarbua có thân thon
dài, dẹp hai bên. Răng trên hàm thành dãy, nhỏ nhọn. Đỉnh đầu không phủ vẩy, mặt
bên đầu phủ vẩy, mỗi bên đầu có 2 lỗ mũi. Mắt to, tròn nằm lệch về nửa trên của
4




5


1.1.1.3. Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học
Dinh dưỡng: Một số tác giả báo cáo rằng cá T. jarbua ăn tạp, trong khi một số
khác đã ghi nhận nó là loài ăn động vật. Lieske và Myers (1994) đã nghiên cứu và kết
luận thức ăn của T. jarbua là cá, tảo và động vật không xƣơng sống [63], trong khi Das
và cs. (2014) cho rằng thức ăn ƣa thích của cá là giun, giáp xác và tảo [52]. Theo
nghiên cứu của Whitefield và Blaber (1978), ấu trùng cá T. jarbua ăn các thức ăn chủ
yếu là Hymenoptera, Orthoptera và Coleoptera [89]. Theo Thangaraja và Ramamoorthi
(1983), zooplankton là thức ăn chủ yếu của ấu trùng T. jarbua [84]. Basheedruddin và
Nayar (1961) đã tìm thấy cá cùng với một số lƣợng nhỏ amphipoda, copepoda và ấu
trùng lamellibranch trong ruột ấu trùng T. jarbua từ bờ biển Madras [47]. Ở cá trƣởng
thành có sự tăng số lƣợng các loại thức ăn. Theo Whitefield và Blaber (1978), sự đa
dạng về thức ăn liên quan đến chiều rộng của hàm, các cá thể trƣởng thành có phổ thức
ăn rộng hơn cá con [90]. Manoharan và cs (2012) đã tiến hành nghiên cứu về thành
phần thức ăn trong dạ dày cá T. jarbua ở ven biển Parangipettai và đƣa ra kết luận cá
đực chủ yếu ăn động vật phù du, ngƣợc lại cá cái ăn thực vật phù du [67].
Tương quan giữa chiều dài và khối lượng: Một số tác giả đã nghiên cứu về
mối quan hệ giữa chiều dài và khối lƣợng của T. jarbua ở các khu vực khác nhau.
Sanjeevan V.N. và Ali M. (1982) đã thu tổng cộng 297 mẫu cá ở vùng biển
Bombay (Ấn Độ) có chiều dài từ 97 – 152 mm và từ 15 – 51 g về khối lƣợng và tìm
ra đƣợc giá trị của a, b lần lƣợt là 1,0235 và 3,131 đối với con cái, còn cá đực giá trị
a là 1,0387 và b là 2,929 [82].
Năm 2000, Khan, M.A. và Imad A. đã ghi nhận T. jarbua là loài có vùng phân
bố rộng trong vùng biển gần bờ của Pakistan, đồng thời đƣa ra đƣợc chiều dài tối đa
của cá là 332 mm và có hệ số đƣờng cong tăng trƣởng (K) là 0,62. Các tác giả cũng
tính đƣợc hệ số tử vong tự nhiên của cá ở vùng nghiên cứu [58].
Zhang J., Song B. và Chen G. (2002) đã đƣa đƣợc phƣơng trình tƣơng quan

lƣợng ở từng GĐ phát triển của cá W=0,0050.L3,2742, W=0,0035L3,3616,
W=0,0736.L2,4076 , W=0,0098.L3,0807, W=0,0088.L3,0914, W=0,0038.L3,3776 cho cá
đực chƣa trƣởng thành, cá cái chƣa trƣởng thành, cá đực trƣởng thành, cá cái trƣởng
thành, tổng cá đực, tổng cá cái tƣơng ứng [72].
Ahmed Q., Qadeer M. A. và Sabri B. (2015) đã đƣa ra phƣơng trình tƣơng
quan giữa chiều dài và khối lƣợng T. jarbua ở vùng Karachi (Pakistan) là W =
0,0263. L2,6634 với r2 =0,9136 [45].

7


Nghiên cứu của Nuengruetai Y., Jes K., Nittharatana P., và Prasert T. (2017)
đã mô tả hình thái và xác định chiều dài ở GĐ cá con của T. jarbua và P.
quadrilineatus tại khu vực biển của tỉnh Trang (Thái Lan). Chiều dài ở GĐ cá con
của T. jarbua và P. quadrilineatus bắt đầu lần lƣợt là 23,16 mm và 18,24 mm [94].
Nandikeswari R., Sambasivam M. và Mohan P.M. (2017) đã so sánh chỉ số
Kn (W.100/L3) (Hệ số béo theo Fulton) của T. jarbua và Terapon puta ở vùng
Puducherry. Tổng số 208 con cái và 162 con đực T. jarbua, 250 con cái và 235
con đực T. puta đƣợc thu tại vùng biển Bengal, Puducherry (Ấn Độ) từ tháng 7,
2008 đến tháng 6, 2008 dùng để tính chỉ số Kn. Kết quả cho thấy Kn của cả hai loài
có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê, đồng thời giá trị Kn của cá đực và cá cái của
cả hai loài đều có giá trị lớn hơn 1 [74].
Đặc điểm sinh học sinh sản của T. jarbua đƣợc các tác giả nhƣ Prabhu M. S.
(1956), Miu Tsu – Chan và cs (1990), Chang Li – Mei, Joung Shoou – jeng và cs
(2008), Nandikeswari R., Sambasivam M., Anandan V. (2014) nghiên cứu.
Từ các kết quả nghiên cứu về các GĐ phát triển của buồng trứng của T.jarbua,
Prabhu M. S. (1956) đã kết luận T. jarbua là loài đẻ trứng một lần trong một năm, thời
gian sinh sản của T. jarbua ngắn và cá chỉ đẻ trong một khoảng thời gian nhất định. Từ
tháng Hai đến tháng Ba, cá di cƣ ra biển để sinh sản [75].
Miu Tsu – Chan và cs (1990) đã nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh sản của

2,48615 đối với cá đực và 0,31981 xuống còn 5,28722 đối với cá cái. Số liệu về tỷ
lệ giới tính của cá liên quan đến các nhóm chiều dài khác nhau cho thấy có 75% là
cá cái ở nhóm có chiều dài nhỏ nhất (120-140 mm). Các nhóm có chiều dài lớn
nhất (280 – 300 mm và 300 – 320 mm) chỉ đƣợc ghi nhận ở cá cái [71].
Nandikeswari R. (2016) đã nghiên cứu trên 140 con T. jarbua cá đực (chiều
dài từ 140 – 280 mm) và 140 cá cái (chiều dài 140 – 320 mm) ở vùng cửa sông
Pondicherry (Ấn Độ) tìm ra kích thƣớc của cá thành thục lần đầu là 208 mm với cá
đực và 218 mm với cá cái. Đồng thời, tác giả cũng đƣa ra đƣợc sự phát triển của
tuyến sinh dục T. jarbua theo từng tháng [73].
1.1.1.4. Các nghiên cứu về sinh sản nhân tạo
Chƣa có nhiều công trình nghiên cứu về sinh sản nhân tạo ở cá T. jarbua trên
thế giới. Có thể kể đến công trình của Koushik R. (2016) đã có nghiên cứu việc sử
dụng LHRHa trong việc nhân giống một số loài cá nƣớc lợ và cá biển ở Ấn Độ, trong
đó có T. jarbua. Để sinh sản nhân tạo thành công, tác giả đã sử dụng liều dùng
LHRHa là 75 μg/kg thể trọng đối với cá cái và 37,5 μg/kg cá đực, thời gian hiệu ứng
36 giờ [80].

9


Các tài liệu có đƣợc cho thấy, nghiên cứu về T. jarbua chủ yếu tập trung vào đặc
điểm sinh học, phân bố và môi trƣờng sống của cá.
Đặc biệt mối tƣơng quan giữa chiều dài và khối lƣợng của T. jarbua đƣợc
nhiều tác giả nghiên cứu ở Ấn Độ, Đài Loan, Thái Lan, Pakistan,…Các nghiên cứu
này đều chỉ ra rằng, GĐ đầu cá tăng nhanh về chiều dài, còn GĐ sau cá tăng nhanh
về khối lƣợng, phù hợp với tính thích nghi chung của nhiều loài cá ở vùng ven biển
nhiệt đới. Trong GĐ đầu, sự tăng nhanh kích thƣớc cơ thể là đặc điểm thích nghi
trong cạnh tranh cùng loài, nhằm hạn chế sức chèn ép của động vật dữ, đảm bảo sự
sinh tồn của loài. Sự tăng nhanh về khối lƣợng ở nhóm cá có kích thƣớc lớn liên
quan đến việc tích luỹ chất dinh dƣỡng để đạt đƣợc trạng thái thành thục sinh dục,

51 họ thuộc 14 bộ khác nhau. Ba loài trong họ cá Căng tại sông Bù Lu là T. jarbua,
P. quadrilineatus và Rhyncopelates oxyrhynchus [17].
Tại hệ thống sông Thu Bồn – Vu Gia (Quảng Nam), Vũ Thị Phƣơng Anh
(2011) đã xác định đƣợc 197 loài cá, nằm trong 121 giống thuộc 48 họ của 15 bộ,
họ cá Căng có 4 loài là T. theraps, T. puta, Terapon oxyrhynchus và T. jarbua [2].
Đến năm 2014, Nguyễn Thị Tƣờng Vi và cs khi nghiên cứu về thành phần loài khu
hệ cá cửa sông Thu Bồn đã xác định có hai loài cá Căng là T. jarbua, P.
quadrilineatus [38].
Tổng số 177 loài thuộc 129 giống của 73 họ trong 18 bộ đã thống kê đƣợc ở
phá Tam Giang – Cầu Hai trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Hoàng, Nguyễn Hữu
Dực (2012), trong đó họ cá Căng có 5 loài: Pelates sexlineatus (Helotes
sexlineatus), P. quadrilineatus, T. jarbua, T. theraps và R. oxyrhunchus [9].
Khi nghiên cứu thành phần loài ở lƣu vực sông Sài Gòn, Tống Xuân Tám
(2012) đã xác định đƣợc 264 loài thuộc 155 giống, 68 họ nằm trong 16 bộ. Hai loài
thuộc họ cá Căng là T. jarbua và T. theraps đều thu đƣợc số lƣợng mẫu rất ít [23].
Nguyễn Xuân Huấn và cs (2013) khi nghiên cứu về thành phần loài ở cửa
sông Ba Lạt đã thu đƣợc 111 loài thuộc 45 họ trong 15 bộ. Hầu hết là các loài cá
xƣơng, trong đó họ cá Căng chiếm 5 loài: T. jarbua, T. theraps, Rhyncopelates
oxyrhynchus, P. quadrilineatus và H. sexlineatus [10].
Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Đồng, Kiên Thái Bích Nga (2014) tại hạ lƣu
sông Sài Gòn – Đồng Nai đƣợc tiến hành từ tháng 12/2009 đến tháng 12/2013 đã
xác định đƣợc 81 loài cá thuộc 56 giống, 32 họ của bộ cá Vƣợc. Các tác giả đã thu

11


đƣợc mẫu của 4 loài thuộc họ cá Căng, chiếm 4,94% tổng số loài là T. jarbua,
T .theraps, T. puta, T. quadrilineatus [6].
Nguyễn Văn Quân, Nguyễn Thị Hƣơng Liên (2014) khi nghiên cứu về thành
phần loài và biến động nguồn lợi cá vùng rừng ngập mặn Phù Long (Hải Phòng) đã

phân bố ở vùng sông, cửa sông, ven biển và cả vùng nƣớc ngập mặn.
1.1.2.2. Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học
Một số kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học của cá Ong căng: Lê Thị
Nam Thuận (2001, 2015, 2016), Võ Văn Phú và Biện Văn Quyền (2009), Trần Trung
Thành và Trần Đức Hậu (2015).
Lê Thị Nam Thuận (2001) nghiên cứu về một số đặc điểm sinh học của cá
Ong (T. jarbua) ở đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế và vùng phụ cận [30].
Võ Văn Phú, Biện Văn Quyền (2009) nghiên cứu về một số đặc điểm sinh
trƣởng của cá Ong căng ở đầm phá và vùng ven biển Thừa Thiên Huế nhƣ tƣơng
quan giữa chiều dài và khối lƣợng, cấu trúc tuổi của quần thể, tốc độ tăng trƣởng
chiều dài hàng năm, và đƣa ra phƣơng trình sinh trƣởng theo Von Bertalanffy của
cá Ong căng [18].
Nghiên cứu về ấu trùng, cá con loài cá Ong căng (T. jarrbua) ở một số cửa
sông Miền Bắc Việt Nam của Trần Trung Thành và cs (2015). Nghiên cứu này mô
tả hình thái ấu trùng, cá con (8,3 – 52,3 mm) và đánh giá mối quan hệ giữa phân bố
của chúng với các điều kiện nƣớc ở cửa sông. GĐ sớm của cá xuất hiện ở miền Bắc
Việt Nam từ tháng 4 đến tháng 12, tập trung ở tháng 5 và 6. Chúng phân bố chủ yếu
ở xa cửa sông, nơi có độ mặn từ 4,5 đến 22,4 ‰ [26].
Lê Thị Nam Thuận (2015) nghiên cứu một số đặc điểm sinh sản của cá Ong
căng T. jarbua vùng ven biển tỉnh Quảng Bình. Cá Ong căng chƣa phân biệt đƣợc
giới tính ở nhóm tuổi 0+, cá bắt đầu có sự phân biệt giới tính rõ ràng ở các nhóm
tuổi 1+, 2+, 3+ và tỷ lệ cá cái nhiều hơn cá đực. Sức sinh sản tuyệt đối của cá khá
cao, dao động từ 11.008 đến 27.080 tế bào trứng, phụ thuộc vào kích thƣớc của cá
cái, trung bình 19.098 tế bào trứng. Sức sinh sản tƣơng đối của cá dao động từ 48 –
52 trứng/g cơ thể cá, đạt trung bình 50 trứng /g cơ thể cá [30].
Năm 2016, Lê Thị Nam Thuận và cs tiếp tục nghiên cứu về đặc điểm tổ chức
học, tế bào – mô học trong quá trình phát triển tuyến sinh dục của cá Ong căng T.
jarbua ở vùng ven biển tỉnh Quảng Bình. Kết quả cho thấy sự phát triển của tế bào
sinh dục vàtuyến sinh dục của cá ong căng có đặc điểm hình thái, tế bào học và mô


của đề tài trên [34].
Tuy nhiên, trong GĐ này, gần nhƣ các nghiên cứu sản xuất giống cá biển ở
Việt Nam chƣa thực sự thành công trong việc sản xuất giống ở qui mô thƣơng mại.

14


Nguồn cá giống cung cấp cho nghề nuôi cá biển gần nhƣ nhập từ Trung Quốc, Đài
Loan hoặc từ khai thác tự nhiên.
Từ năm 1996 – 2006, đƣợc sự tài trợ của Hội đồng Đào tạo Đại học Na Uy
(NUFU), trƣờng Đại học Nha Trang thực hiện chƣơng trình “Nghiên cứu và Đào tạo
Sau Đại học về Nuôi trồng Hải sản tại Việt Nam” (gọi tắt là dự án NUFU) với sự
tham gia của các nhà khoa học đến từ Na Uy, Bồ Đào Nha, Bỉ. GĐ 2 của dự án đã
tập trung nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện qui trình sản xuất giống nhân tạo cá
chẽm (Lates calcarifer). Cuối năm 2003 đến nay, từ việc kế thừa các kết quả nghiên
cứu trƣớc, ứng dụng các thành quả nghiên cứu đƣợc của dự án, cá chẽm giống đã
đƣợc sản xuất ở qui mô thƣơng mại với qui trình sản xuất ổn định, cung cấp số
lƣợng lớn con giống cho nghề nuôi cá chẽm thƣơng phẩm, chuyển giao công nghệ
cho nhiều địa phƣơng trong cả nƣớc.
Năm 2003, tại Hội nghị khoa học toàn quốc về NTTS, Lê Xân đã có báo cáo
về kết quả nghiên cứu sản xuất giống cá Song chấm nâu (Epinephelus coioides)
[42], Đỗ Văn Minh và cs có báo cáo hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá Giò
(Rachycentron canadum) [16].
Nguyễn Tuần và cs (2002) đã sử dụng HCG ở liều 4.500IU/kg cá cái để kích
thích sinh sản nhân tạo cá Chẽm (Lates calcarifer). Kết quả sau từ 12 – 35 giờ cá
đẻ, tỷ lệ thụ tinh đạt từ 0 – 99%, tỷ lệ nở đạt 24 – 99,9%. Tỷ lệ sống của cá từ GĐ
cá bột lên cá hƣơng là 60% và từ cá hƣơng lên cá giống là 65,7% [34].
Khi nuôi vỗ và cho cá Giò sinh sản tự nhiên, Đỗ Văn Minh (2003) đã thu đƣợc
kết quả là tỷ lệ thành thục trong nuôi vỗ là 65 – 78%, tỷ lệ cá tham gia sinh sản đạt
từ 70% trở lên, tỷ lệ thụ tinh lớn hơn 60%, tỷ lệ nở lớn hơn 70% và tỷ lệ sống của

giờ; tỷ lệ thụ tinh 76,5 – 82,3% và tỷ lệ nở 60,4 – 84,4% ở kích dục tố LHRHa liều
300 µg/kg là cao nhất [39].
Năm 2014, Nguyễn Anh Tuấn và cs đã nghiên cứu kích thích cá Bóp
Rachycentron canadum sinh sản bằng các hormone HCG và LHRHa với các liều
lƣợng khác nhau. Kết quả thu đƣợc, thời gian cá đẻ dao động từ 36 – 62 giờ và tỷ lệ
cá đẻ dao động từ 25 – 80%. Sử dụng chất kích thích LHRHa ở nồng độ 20 – 30
µg/kg cá cái cho kết quả cao nhất với tỷ lệ đẻ đạt 80%, tỷ lệ thụ tinh đạt từ 73,17 –
79,25% và tỷ lệ trứng nở đạt từ 74,2 – 83,53% [33].
Lý Văn Khánh và cs (2012) đã nghiên cứu sinh sản thành công cá Nâu
(Scatophagus argus Linnaeus, 1766). Các tác giả đã kích thích sinh sản bằng

16


Ovaprim, LHRHa và HCG ở các liều lƣợng khác nhau. Kết quả thu đƣợc thời gian
hiệu ứng của kích dục tố là 12-32 giờ; tiêm ovaprim 1 ml/kg thì tỷ lệ cá rụng trứng
cao nhất là 93,3%; tỷ lệ thụ tinh là 76,5%; tỷ lệ nở là 69,5%; và tỷ lệ cá dị hình chỉ
2,16% [13].
Để kích thích sinh sản nhân tạo cá Chốt trắng (Mystus planiceps Cuvier and
Valenciennes), Lý Văn Khánh và cs (2013) đã sử dụng LHRHa và HCG ở các liều
lƣợng khác nhau. Thời gian hiệu ứng khi tiêm LHRHa (liều 50 – 150 µg/kg cá cái)
là 6,4 – 7,11 giờ, HCG (1000 – 1500 IU/kg cá cái) là 7 – 8 giờ. Tiêm LHRHa liều
100 sẽ cho tỷ lệ đẻ cao nhất 83,3%, tỷ lệ thụ tinh và nở cao nhất lần lƣợt là 81,1%
và 82,2% ở HCG liều 1500 IU/kg cá cái. Tác giả cũng đƣa ra kết luận nên ấp trứng
cá Chốt trắng ở độ mặn 10‰ với mật độ 100 trứng/lít [14].
Nhìn chung, ở Việt Nam, các nghiên cứu về sinh sản nhân tạo cá biển đƣợc
thực hiện chủ yếu ở các vùng ven biển và các đối tƣợng là các loài cá có giá trị kinh
tế ở địa phƣơng. Để sinh sản nhân tạo cá biển, các tác giả sử dụng các kích dục tố nhƣ
Não thùy thể, HCG, LHRHa+Dom, Ovaprim với các liều lƣợng khác nhau.
Với não thùy thể: Não thùy thể cá chép đƣợc xem là kích dục tố mạnh cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status