Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và khả năng phát triển loài Keo lá liềm (Acasia crassicarpa A. cunn ex benth) vùng đất cát ven biển Nam Trung Bộ - Pdf 12

ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam có đường bờ biển chạy dài từ Bắc vào Nam với 3.260km (không tính
các đảo), diện tích đất cát ven biển có tiềm năng lớn để khai phá, phục vụ nhu cầu du
lịch, nuôi trồng thủy hải sản và phát triển nông lâm nghiệp. Tuy nhiên trên thực tế,
diện tích đất ven biển ở nước ta sử dụng chưa thực sự hiệu quả, rất nhiều khu vực bị
bỏ hoang hóa, làm tăng tiến trình hoang mạc hóa, sự xâm lấn của cát biển vào sâu
trong đất liền. Đặc biệt là đối với khu vực miền trung Việt Nam, diện tích đất cát ven
biển bị bỏ hoang hóa và khó cải tạo đang còn rất lớn.
Theo số liệu của Viện quy hoạch và thống kê nông nghiệp, vùng đất cát ven biển
Nam Trung Bộ nằm trong vùng khô hạn, phần lớn là đất cát và cồn cát ven biển với tổng diện
tích 264.981 ha [12], trong đó diện tích khô hạn thường xuyên chiếm khoảng 2/3. Để làm
tăng hiệu quả sử dụng đất, ngăn chặn tiến trình hoang mạc hóa, nhiều nhà khoa học đã
nghiên cứu và đề xuất nhiều giải pháp trồng rừng ven biển, chắn sóng, chắn gió, chắn
cát bay… nhưng hiệu quả thực tế từ việc trồng rừng ven biển tại một số nơi chưa cao
do khả năng sinh trưởng và phát triển của một số loài chậm, dễ bị gió bão, sóng biển
hủy hoại, khả năng chắn gió, chắn cát chưa thực sự hiệu quả.
Một trong những loài được đưa vào gây trồng phục vụ cho việc chắn gió, chắn
cát ven biển được đánh giá cao là loài Keo lá liềm. Keo lá liềm có tên khoa học là
Acasia crassicarpa A. cunn ex benth, là loài có nhiều ưu điểm trong gây trồng trên
vùng đất cát ven biển do khả năng chịu hạn, chịu nhiệt cao, sức sinh trưởng tốt, khả
năng cố định đạm và cải tạo đất hiệu quả, có khả năng ứng dụng trồng rừng ở nhiều
vùng khác nhau nên đang được chú ý gây trồng và phát triển ở một số địa phương. Tuy
nhiên, việc phát triển của giống Keo lá liềm hiện nay còn bó hẹp ở phạm vi dự án hoặc
mô hình thực nghiệm nên khả năng ứng dụng và phát triển của loài này đang rất hạn
chế.
Từ thực tế trên, vấn đề cần đặt ra là làm thế nào để ứng dụng đưa cây Keo lá
liềm vào trồng rộng rãi ở các khu vực và phát triển bền vững loài cây này? Vì vậy, tôi
thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và khả năng phát triển loài Keo
lá liềm (Acasia crassicarpa A. cunn ex benth) vùng đất cát ven biển Nam Trung
Bộ”.
1

Chi: Acacia
Tông: Acacieae
2
Phân họ: Mimosoideae
Họ: Fabaceae
Bộ đậu: Fabales
* Giới hạn nghiên cứu
- Về thời gian nghiên cứu từ 15/11/2011 đến 15/5/2012.
- Về nội dung nghiên cứu sinh trưởng của Keo lá liềm chỉ ở một số điều kiện sau:
Phương thức làm đất khác nhau, mật độ trồng, phân bón, các loại đất cát khác nhau về
màu sắc.
- Về nội dung nghiên cứu ảnh hưởng của rừng Keo lá liềm đến kinh tế và xã hội
chỉ dựa vào phiếu phỏng vấn của người dân.
3
Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.1.1. Tổng quan về đất cát ven biển
Đất cát ven biển là hệ sinh thái phổ biến trên thế giới. Theo Mc Harg (1972),
các dải đất cát ven biển là một dạng công trình thiên nhiên có tác dụng hấp thu năng
lượng từ gió, thuỷ triều và sóng, qua đó bảo vệ các vùng đất phía trong. Các vùng đất
cát ven biển tại các châu lục khác nhau, tuy cách xa về mặt địa lý nhưng đều được xếp
vào cùng một dạng hệ sinh thái đặc thù do có chung một số đặc điểm như: kết cấu rời
rạc, độ phì thấp, khả năng trữ nước và chất dinh dưỡng kém, thảm thực vật chủ yếu là
các loại cây bụi có khả năng chống chọi lại các điều kiện khắc nghiệt (Moreno-
Casasola, 1982). [39]
Thực tế ở tất cả các quốc gia có đường bờ biển trên thế giới đều có hệ sinh thái
vùng cát ven biển, các bãi cát và cồn cát ven biển là vùng đệm an toàn giữa biển và đất
liền và rất dễ bị tổn thương do hoạt động của con người cũng như do thay đổi chế độ
động lực biển và khí hậu. Mỗi một vùng biển có thể có nhiều thế hệ đất cát xuất hiện
vào các thời kỳ địa chất khác nhau có mầu sắc khác nhau: đất cát đỏ (là loại cát cổ

Hình 1.1. Bản đồ khu vực phân bố A.crassicarpa trên thế giới [38]
1.1.3. Tổng quan về Keo lưỡi liềm
Keo lá liềm là loài có khả năng cố định đạm, có thể sinh trưởng và phát triển tốt
ở các vùng đất thấp [29]. Về xuất xứ nguồn gốc thì, nó thường phát triển chiều cao từ
10-20m, nhưng trong các điều kiện thuận lợi, nó có thể đạt đến 30m. Xuất xứ của loài
được tìm thấy tự nhiên ở bờ biển phía đông bắc và vùng sâu của Queensland, Australia
[29] và ở các tỉnh Miền Tây của Papua New Guinea và khu vực lân cận của Irian Jaya,
Indonesia [28], một số được tìm thấy tại khu vực bờ biển phía Nam của Trung Quốc; Fiji
của Malaysia và Thái Lan [35].
Trong thời gian 15 năm trở lại đây, Keo lá liềm đã được nghiên cứu đưa vào
trồng ở một số nước Đông Nam Á và châu Phi, và nó đã chứng tỏ là một trong những
5
loài cây trồng lâm nghiệp mới có nhiều hứa hẹn cho các vùng đất cát ven biển, các
vùng đất bị suy thoái.
- Tại Queensland, Australia và Papua New Guinea:
Ban đầu, Keo lá liềm được trồng và phát triển mạnh mẽ trên đất bị suy thoái sau
khi trồng và đốt slash ở Papua New Guinea [28], chính những khả năng đặc biệt cua
loài Keo này nên nó đã được trồng và phát triển mạnh về phía Bắc của quần đảo.
Những nghiên cứu chính thức đã được Trung tâm giống cây lâm nghiệp Úc
(ATSC) đưa vào nghiên cứu để thuần hóa loài cây phục vụ cho mục đích thương mại
từ năm 1980 theo chương trình tài nguyên di truyền và cải thiện giống cây có sự hỗ trợ
của tổ chức Cơ quan Phát triển Quốc tế Úc (AusAID), Trung tâm Nghiên cứu Nông
nghiệp Quốc tế Úc (ACIAR) và Bộ lâm nghiệp Papua New Guinea. Đến năm 1993,
loài A. crassicarpa đã chứng minh sự tồn tại và sức mạnh tuyệt vời trong một loạt các
thử nghiệm trong vùng nhiệt đới ẩm và đã được ghi nhận bởi nhóm tư vấn các nhà tài
trợ cho Nghiên cứu và phát triển keo (COGREDA) ở khu vực Đông Nam Á [30].
Sau hơn 15 năm nghiên cứu và thử nghiệm, đến nay các chương trình nghiên
cứu của ATSC vẫn đang tiếp tục với mục đích đi sâu vào nghiên cứu phân tử đa dạng
di truyền của loài Keo này, đưa loài cây này thành cây lâm nghiệp ưu tiên phát triển ở
vùng đất cát ven biển các nước trong khu vực Châu Á.

môi trường. Tuy nhiên, phần lớn công tác trồng rừng hiện nay đều tập trung đánh giá
cả 3 tác động vào kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường, trong đó vấn đề bảo vệ môi
trường đang là vấn đề rất được quan tâm.
Theo FAO [22], thì đánh giá về mặt kinh tế thường dùng để phân tích các lợi
ích và chi phí của xã hội, nên các lợi ích và chi phí đó phải được tính chi suốt thời gian
mà chúng còn có tác dụng, nhất là đối với công tác trồng rừng, phải sau một khoảng
thời gian dài thì chúng mới tạo ra một đầu ra nhất định, đồng thời lại có những tác
động về môi trường có thể còn có tác dụng lâu dài hơn nhiều sau khi kết thúc việc
trồng rừng.
1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.1. Một số nét về trồng và phát triển cây lâm nghiệp trên đất cát ven biển
Vùng đất cát và vùng ven biển Việt Nam được hình thành cách đây khoảng
600.000 năm, hiện nay chúng vẫn đang tiếp tục được hình thành và có địa hình bằng
phẳng. Đặc điểm tự nhiên ở các vùng đất cát ven biển nước ta vô cùng khắc nghiệt,
trong khi đó những vùng này có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, an
ninh quốc phòng và phát triển kinh tế - xã hội. Việc xây dựng rừng phòng hộ chắn gió,
chắn cát ven biển là một giải pháp rất có hiệu quả và đã được thực hiện ở nước ta hàng
trăm năm nay. Trong các loài cây lâm nghiệp được nghiên cứu và trồng nhiều nhất chủ
yếu là Phi lao, các loài Keo, Xoan chịu hạn và một số các loài cây bản địa
1.2.1.1. Những loài cây trồng trên đất cát ven biển giai đoạn trước đây
Trong giai đoạn trước đây, cây Phi lao được xem là cây độc nhất ở dải cát ven
biển Miền trung với sức sống rất oai hùng, khả chắn gió bão, chắn cát bay, đem
màu xanh cho vùng đất cát khô cằn, nơi mà khó có cây gì sống được. Cây Phi lao
7
cứng cáp, lá xanh tươi bốn mùa. Lá khô và quả dùng để đun nấu. Thân cây mau
lớn, sau 6-7 năm được thu hoạch, bán gỗ hay bán củi đều là nguồn lợi cho tới tận
ngày nay. Gỗ đỏ màu xám rất rắn dùng trong xây dựng, làm than, làm củi. Từ
lâu các nhà trồng cây cảnh đã trồng uốn làm cây cảnh nghệ thuật. Vỏ xám trên
cành non, nâu sẫm trên cành già, chứa chất casuarin dùng để nhuộm, do có Tanin
nên được dùng để thuộc da, chế với sunfat sắt cho màu đen. Tro của gỗ là nguyên

của gió Tây-Nam khô nóng. Khó khăn của vùng này là nhiều gió mạnh, nắng nóng, ít
8
nước mặt, đất nghèo dinh dưỡng. Trong suốt một thời gian dài, cây Phi lao luôn được
ưu tiên số 1 cho việc trồng phòng hộ ở dải cát ven biển miền trung với mục đích chắn
gió bão, chắn cát bay. Đã có nhiều nghiên cứu về nông lâm nghiệp nhằm mục đích
trồng và cải tạo diện tích đất cát ở vùng này, việc lựa chọn các loài cây trồng, các mô
hình canh tác được quan tâm chú ý đặc biệt là trong 2 thập kỷ gần đây, rất nhiều loài
cây lâm nghiệp đã được đưa vào nghiên cứu với mục đích cải tạo đất thay cho các loài
Phi lao, Dừa, trong đó các loài Keo (Acacia) được đưa vào trồng và phát triển vì những
khả năng tốt của chúng, nhất là khả năng cải tạo đất, chống xói mòn và năng suất cao,
góp phần cung cấp lâm sản tại chỗ cho người dân.
Keo (Acacia) là nhóm cây trồng có khả năng thích ứng cao với các điều kiện
lập địa khác nhau từ đất đồng bằng giàu dinh dưỡng đến đất trống, đồi núi trọc nghèo
dinh dưỡng và vùng cát khô hạn ven biển. Cây Keo thuộc về phân họ Trinh nữ
(Mimosoideae) thuộc họ Đậu (Fabaceae), là họ mà chủ yếu gồm các loài cây có nốt
sần ở rễ, có khả năng cố định đạm khí quyển nên keo còn có khả năng cải tạo đất và
được dùng cho trồng rừng cải tạo đất, chống sa mạc hóa, bảo vệ môi trường và phòng
hộ đầu nguồn. Đó là chưa nói Keo lá liềm là loài có khả năng thích ứng cao với các
loại đất khác nhau từ đất chua đến đất có độ kiềm tương đối lớn nên đang được trồng
rộng rãi ở những điều kiện lập địa khác nhau. Gỗ keo được dùng làm nguyên liệu sản
xuất Bột giấy, ván dăm, gỗ dán, gỗ ép, cũng như được dùng để sản xuất đồ mộc, ván
sàn, dùng trong xây dựng và làm củi đun, v.v… Riêng Keo đen còn được trồng để sản
xuất tanin dùng trong công nghiệp thuộc da.
1.2.2.1. Các loài cây lâm nghiệp đang được ưu tiên gây trồng
Các tỉnh vùng cát ven biển Nam Trung Bộ từ đèo Hải Vân trở vào bao gồm
Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận. Hệ sinh
thái vùng cát bao gồm các cồn cát, bãi cát di động, bãi thấp, bãi cao, hồ, bàu. Thực vật
vùng cát bao gồm các cây tự nhiên và cây trồng có đặc tính chung là chịu hạn, chịu gió
cát ven biển, sống trong điều kiện nghèo chất dinh dưỡng, nhiệt độ cao. Ngoài tính
thích nghi cao của các loại cây tự nhiên, cây trồng nhân tạo cũng được nhân dân lựa

Thực tế trong nhiều năm qua trồng rừng cũng như các mô hình sinh thái như: ở
Tuy Phong (Bình Thuận); Thăng Bình (Quảng Nam) đều đem lại kết quả tốt và đã chỉ
ra được các loài cây thích hợp trên vùng cát như: Phi lao, các loài keo chịu hạn, dừa,
đều sinh trưởng phát triển tốt đồng thời điều kiện lập địa được cải thiện rõ rệt.
Những cây Lâm nghiệp trồng trên địa bàn vùng cát mang lại những giá trị về
nhiều mặt cho người dân địa phương. Theo thống kê, hiện có có tới 60 - 70% số dân
vùng cát sống bằng nghề nông và lâm nghiệp. Lâm nghiệp đã trở thành một nghề trong
các gia đình nông dấn sống ở vùng đất cát như tạo cây con vườn ươm, trồng rừng và
khai thác gỗ củi. Hoạt động kinh doanh rừng hiện nay cũng đang diễn ra rất phổ biến,
nhận thức được giá trị kinh tế của các loài cây lâm nghiệp hiện nay, nhiều người đã có
những suy nghĩ và biện pháp trồng rừng mang lại hiệu quả kinh tế cao, tận dụng được
những diện tích đất đang còn bị hoang hóa.
Như đã nói, các loài cây được ưu tiên phát triển hiện nay chủ yếu là các loài
Keo, Xoan chịu hạn, Phi lao Keo là loài cây gỗ đa tác dụng, thích hợp trồng ở vùng
cát ven biển, có tác dụng chắn gió, chống cát bay, chắn gió bảo vệ đồng ruộng, làng
10
mạc. Cành rơi rụng tạo một lớp thảm mục khô, thảm mục có tác dụng chống xói mòn
và cải thiện đất. Ngoài ra, ở rể có các nốt sần có tác dụng cố định Nitơ cải tạo điều
kiện môi trường đất. Về mặt kinh tế, trồng Keo nhanh cho thu hoạch, sinh khối lớn, sử
dụng gỗ để đóng đồ gia dụng, cành nhánh làm nguyên liệu giấy…
Các loài cây trồng dùng lấy gỗ và nguyên liệu giấy ở các địa phương như
Quảng Nam, Đà Nẵng, Bình Định, Ninh Thuận, Bình Thuận chủ yếu là các loài Keo,
với sức sinh trưởng mạnh và được thị trường ưa chuộng. Keo dùng để bán nguyên liệu
giấy thường có thời gian trồng ngắn, nhanh cho thu hoạch (khoảng 4-5 năm) giá bán
Keo nguyên liệu giấy từ 1 triệu – 1,2 triệu/tấn. Mỗi ha cho thu nhập từ 50 – 65 triệu
đồng. Đối với các loài Keo trồng để bán lấy gỗ thường có thời gian trồng dài hơn (từ
9-10 năm), gỗ Keo dùng để đóng đồ gia dụng có giá bán dao động từ 3,5 – 4 triệu
đồng/m
3
. Mỗi ha Keo có thể cho thu nhập từ 200 – 250 triệu đồng. Đây là nguồn thu

2.1.3. Đánh giá ảnh hưởng của rừng Keo lá liềm đến kinh tế, xã hội, môi trường
vùng NTB
2.1.3.1. Ảnh hưởng về kinh tế
2.1.3.2. Ảnh hưởng về xã hội
2.1.3.3. Ảnh hưởng về môi trường
2.1.3.4. So sánh mức độ ảnh hưởng của khu vực trồng rừng Keo lá liềm và khu vực
đất cát trống
2.1.4. Khả năng phát triển và đề xuất một số giải pháp phát triển loài Keo lá liềm
trên vùng đất cát ven biển NTB
2.1.4.1. Khả năng phát triển và hướng dẫn kỹ thuật trồng Keo lá liềm trên vùng đất
cát ven biển NTB
2.1.4.2. Đề xuất một số giải pháp phát triển loài Keo lá liềm trên vùng đất cát ven
biển NTB
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
2.2.1.1. Kế thừa số liệu thứ cấp
- Thông qua niên giám thống kê hàng năm của khu vực về điều kiện tự nhiên,
kinh tế xã hội.
12
- Thông qua các tài liệu có sẵn, số liệu từ các đơn vị thiết kế trồng rừng, các
chương trình, dự án đã và đang thực hiện, các số liệu của Sở, Ban, Ngành có liên
quan
2.2.1.2. Điều tra số liệu sơ cấp
* Điều tra vị trí khu vực trồng rừng Keo lá liềm:
- Điều tra hiện trạng trực tiếp tại hiện trường, sử dụng máy định vị GPS 60CSx
để xác định tọa độ khu vực trồng Keo lá liềm. Sử dụng hệ tọa độ VN-2000 được định
vị trên Ellipsoid của hệ tọa độ thế giới WGS-84, hiệu chỉnh các tham số dịch chuyển
tọa độ VN-2000 với các đại lượng theo Quyết định số 05/2007/QĐ-BTNMT ngày
27/02/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường:
”X = -191.90441429 (mét) ; ”Y = -39.30318279(mét); ”Z = -111.45032835

- Nếu lập 3 ô tiêu chuẩn/1 đối tượng cần nghiên cứu thì dùng phương pháp
phân tích phương sai 1 nhân tố để đánh giá, tính tiêu chuẩn F (Fisher), dùng tiêu chuẩn
t (Student) để tìm công thức tốt nhất.
* Điều tra đất, khí hậu:
- Phương pháp đào phẫu diện đất: Trong mỗi ô tiêu chuẩn sơ cấp, chọn vị trí đại
diện cho khu vực để đào phẫu diện, kích thước rộng 0,8-1m, dài 1,6-2m, sâu 1,2m
13
hướng về phía mặt trời. Lấy mẫu đất ở các độ sâu thống nhất 0-30cm, 30-60, 60-
100cm theo các tầng từ dưới sâu lấy ngược lên, mỗi mẫu lấy khoảng 1kg. Mẫu đất cho
vào túi nilon ghi ký hiệu mẫu đem về phòng phân tích.
- Nhiệt độ không khí: Dùng nhiệt kế đồng hồ tiến hành đo ở hai vị trí trong
rừng và ngoài đất trống, đo ở độ cao 1,5m so với mặt đất, thời điểm đo cũng được bố
trí như đo nhiệt độ đất.
- Nhiệt độ đất: Dùng 3 chiếc nhiệt kế gồm nhiệt kế thường, nhiệt kế tối cao và
nhiệt kế tối thấp, tiến hành đo trong rừng và ngoài đất trống cách đai rừng 12m. Đo
vào các ngày nắng trong tháng 3/2012, khu vực đo trên 2 vùng đất cát trắng xám ở
Quảng nam và vùng đất cát đỏ khô hạn của Bình Thuận. Thời gian trong ngày được bố
trí đo vào các thời điểm 10h, 13h, 16h.
- Ẩm độ không khí: Dùng ẩm kế tóc tiến hành đo ở hai vị trí trong và ngoài
rừng, đo ở độ cao 1,5m so với mặt đất.
- Ẩm độ đất: Lấy đất cho vào hộp nhôm, cân hộp nhôm và đất để thu thập trọng
lượng đất còn ẩm sau khi lấy mẫu, sau đó mang về phòng thí nghiệm để sấy đất ở nhiệt
độ 105
0
C trong vòng 6 giờ cho đến khi khối lượng không đổi, lấy trọng lượng đất khô
kiệt.
- Xác định tính lý hóa của đất: Đào phẫu diện và lấy các mẫu đất ở các độ sâu
0-30cm, 30-60cm, 60-100cm, trong OTC sơ cấp và ngoài đất trống, phân tích hàm
lượng và thành phần lý hoá tính của đất, so sánh giá trị của các chỉ tiêu lý hoá tính của
đất trong và ngoài rừng.

cứu, đánh giá một số chỉ tiêu:
Nghiên cứu tác động của hoạt động trồng cây Keo lá liềm đến nhận thức của
người dân trong công tác trồng rừng, chăm sóc rừng và bảo vệ rừng.
Tác động chất lượng cuộc sống của người dân qua cơ cấu lao động, việc làm, sự
tăng giảm mật độ dân số, mở rộng mạng lưới giao thông.
+ Ảnh hưởng về môi trường:
Tác động của trồng Keo lá liềm đến khả năng cải tạo đất.
Căn cứ vào hiện trạng, tình hình triển khai thực hiện trồng rừng trên địa bàn, tiến
hành điều tra một số chỉ tiêu cơ bản tác động đến: độ che phủ, khả năng chống xói mòn,
sự thay đổi của tiểu khi hậu xung quanh (chế độ gió, nhiệt độ không khí).v.v…
* Phỏng vấn các bên liên quan:
- Phỏng vấn: Lập phiếu phỏng vấn một số đơn vị thực hiện dự án và người
dân địa phương, tập trung khảo sát vào vấn đề chính.
- Phỏng vấn linh hoạt bằng trao đổi, trò chuyện
2.2.2. Xử lý số liệu
* Xử lý bản đồ trồng rừng Keo lá liềm:
Số liệu thu thập được từ máy định vị GPS 60CSx được đưa vào phần mềm
excel 2003, có sự hỗ trợ của bộ công cụ forest_tool và phần mềm Mapinfor
15
Professional 10.5 để lập nền bản đồ khu vực phân bố và thiết lập hồ sơ. Xuất file ảnh
độc lập ở các tỉnh.
* Xử lý số liệu của các đại lượng sinh trưởng:
Đối với các khu vực điều tra không đồng nhất về điều kiện lập địa (các tỉnh
khác nhau) thực hiện việc kiểm tra sự thuần nhất giữa các ô tiêu chuẩn, các khu vực
khác nhau: Áp dụng tiêu chuẩn K của Kruskal và Wallis để kiểm tra sự thuần nhất về
chiều cao, đường kính và đường kính tán giữa các khu vực.
H =
( )











ln
R
T
H
i
3
1
Đánh giá sinh trưởng theo phương pháp phân tích phương sai: Tiến hành phân
tích phương sai một nhân tố để xác định tiêu chuẩn F (Fisher) là tiêu chuẩn nói lên
mức độ biến động về sinh trưởng của các loài cây:
N
A
t
V
V
a
an
F



=

N
= V
T
- V
A
V
T
: Biến động chung
CxV
a
i
n
j
ijT
i
−=
∑∑
= =1 1
2
Việc tìm công thức trội nhất dựa vào việc so sánh 2 giá trị trung bình lớn nhất
thứ nhất và lớn nhất thứ hai thông qua tiêu chuẩn t (Student):
16
nn
S
N
tính
XX
t
21
21

S

=
So sánh |t| với t
05
(k=n-a):
Nếu |t| ≤ t
05
: Như vậy 2 công thức điều tra i và j đều có hiệu quả như
nhau. Việc lựa chọn công thức nào hiệu quả nhất dựa vào ý nghĩa kinh tế.
Nếu |t| > t
05
: Công thức hiệu quả nhất là công thức có giá trị trung bình
lớn hơn.
* Đánh giá sinh trưởng theo phân bố chuẩn tiêu chuẩn:
n
S
n
S
XX
U
tính
2
2
2
1
2
1
21
+

X

So sánh |U
tính
| với U
05
:
Nếu |U
tính
| ≤ U
05
: Ảnh hưởng giữa 2 công thức trên Keo lá liềm là tương
đương nhau, không có sự sai khác rõ rệt. Việc lựa chọn công thức nào hiệu quả nhất
dựa vào ý nghĩa kinh tế.
Nếu |U
tính
| > U
05
: Công thức hiệu quả hơn là công thức có giá trị trung
bình lớn hơn.
17
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và xác định khu vực trồng rừng Keo lá liềm
vùng Nam Trung Bộ
Hình 3.1. Bản đồ hành chính vùng Nam Trung Bộ
18
3.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội vùng NTB
3.1.1.1. Vị trí địa lý
Vùng Nam Trung Bộ trải dài từ 10°35' đến 16°40' độ vĩ Bắc và từ 107°17' đến
109°29' độ kinh Đông, xuất phát từ Thành phố Đà Nẵng đến tỉnh Bình Thuận. Phía

(Quảng Ngãi), Lại Giang (Bình Định), Sông Ba (Phú Yên), Sông Cái (Khánh Hòa)…
xen kẽ là hàng trăm sông suối lớn nhỏ chằng chịt, mật độ cầu cống khá cao. Thời tiết
có 2 mùa rõ rệt và chênh lệch nhau giữa 2 vùng; khi Tây Nguyên mùa khô thì đồng
bằng lại mùa mưa, năm nào cũng bị bão lụt, thiên tai gây nhiều tổn thất về người và
của.
19
Với vị trí chiến lược của vùng đã mở ra triển vọng về khả năng hợp tác với các
nước trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới trong các lĩnh vực khai thác dầu mỏ,
thủy hải sản, chế biến gỗ và lâm sản, sản xuất và trao đổi hàng hóa, tổ chức vận tải quá
cảnh thông qua hệ thống đường biển mở ra khả năng to lớn đối với vùng Nam Trung
Bộ.
Nằm ở miền Trung của đất nước và khu vực biên giới 3 nước Đông Dương,
trước mặt là biển Đông có đồng bằng trù phú, giáp với dải Trường Sơn và Tây Nguyên
hùng vĩ. Vùng Nam Trung Bộ có một vị trí chiến lược rất quan trọng cả về chính trị,
kinh tế và quốc phòng an ninh của cả nước. Trong các cuộc kháng chiến chống Pháp
và chống Mỹ trước đây, vùng Nam Trung Bộ là một là một căn cứ địa vững chắc và
lâu dài của cách mạng, là chỗ dựa và là bàn đạp để tỏa ra các hướng chiến lược khác,
đồng thời là hành lang chiến lược nối liền 2 miền Nam - Bắc nước ta, tạo nên thế đứng
vững chãi ở phần giữa nước ta và phần Nam Đông Dương. Mặt khác, do địa thế và vị
trí chiến lược, đây cũng là nơi dễ bị chia cắt, vì vậy vùng trở thành một chiến trường
ác liệt trong cả 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Có thời kỳ tại đây đã
diễn ra những cuộc đụng độ qui mô lớn, những chiến thắng quan trọng của ta đã góp
phần làm thay đổi cục diện chiến trường miền Nam, tạo ra những bước ngoặt quan
trọng của chiến tranh. Rõ ràng vùng Nam Trung Bộ có vị trí chiến lược quan trọng
không chỉ trong chiến tranh giải phóng trước đây mà cả trong sự nghiệp phát triển kinh
tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
3.1.1.2. Địa chất, địa hình
Địa chất: Cấu tạo địa chất của vùng Nam Trung Bộ chủ yếu là đá granit và
ryolit, đaxit có nguồn gốc mác ma xâm nhập hoặc phún trào kiểu mới. Ngoài ra còn có
các loại đá cát, đá trầm tích ở một số nơi. Về địa hình kiến tạo, phần đất của vùng đã

có hướng tây nam - đông bắc, kéo dài trên 60 km, tạo thành ranh giới tự nhiên giữa hai
tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên, Đắk Lắk. Đến phía Nam và Tây Nam, lại xuất hiện một
vùng núi rộng, với nhiều đỉnh núi cao trên 1500 m đến trên 2000 m, trong đó có Đỉnh
Hòn Giao (2062 m) thuộc địa phận huyện Khánh Vĩnh, là đỉnh núi cao nhất Khánh
Hòa. Do có nhiều núi cao, mật độ chia cắt lớn bởi khe, suối, sông tạo thành nhiều hẻm,
vực, thung lũng sâu, gây khó khăn cho giao thông. Ngoài ra, khu vực này còn có thung
lũng Ô Kha, được biết đến là một vùng nguy hiểm cho hàng không.
Khu vực Ninh Thuận, Bình Thuận là phần tiếp giáp với vùng kinh tế Đông
Nam Bộ, có nhiều nét tương đồng với vùng Đông Nam Bộ. Phía Tây chủ yếu là đồi
núi, có nhiều ngọn núi cao giáp Lâm Đồng, phần giữa các tỉnh và ven biển là vùng
đồng bằng khô cằn nên được mệnh danh là miền Viễn Tây của Việt Nam. Tại khu vực
Ninh Thuận thì vùng núi cao và gò đồi chiếm khoảng 4/5 tổng diện tích tự nhiên toàn
tỉnh.
Nhìn chung, địa hình vùng Nam Trung Bộ khá đa dạng, đồi núi cao tập trung ở
khu vực phía Tây và thấp dần về phía đông, có nhiều dải núi đâm ngang ra biển, chia
cắt các vùng đồng bằng và các cồn cát, dải cát ven biển thành nhiều phẩn nhỏ, đất đai
hạn hán và khô cằn.
3.1.1.3. Khí hậu
Vùng Nam Trung Bộ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình,
nhiệt độ cao và ít biến động, mùa đông không lạnh. Khí hậu của vùng là nơi chuyển
tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc và miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới
21
điển hình ở phía Nam, chia thành 2 mùa là mùa khô và mùa mưa rõ rệt. Mùa khô
thường kéo dài từ tháng 1 đến cuối tháng 8, mùa mưa từ cuối tháng 8 đến tháng 12
hàng năm. Nhiệt độ bình quân năm: > 26,5
0
C (thấp nhất 20
o
C-21
o

(
o
C)
Độ ẩm
trung bình
(%)
Lượng mưa
trung bình
(mm)
Ghi chú
1 Đà Nẵng 25,9 83,4 2504,57
2 Quảng Nam 25,4 84 2000-2500
3 Quảng Ngãi 25-26,9 82 2198
4 Bình Định 27 79 200-2400
5 Phú Yên 26,5 80-82 1600-1700
6 Khánh Hòa 26,7 80,5 1200
7 Ninh Thuận 27 75-77 700-800
8 Bình Thuận 26-27 79 800-1500
Trung bình 26,38 80,61 1762,82
Khí hậu của vùng Nam Trung Bộ nhìn chung có thể dựa trên số liệu quan trắc
tại một số Trạm thủy văn mang tính chất đại diện chung cho 3 khu vực:
- Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi: Trạm quan trắc tại Đà Nẵng
- Bình Định, Phú Yên: Trạm quan trắc tại Quy Nhơn
22
- Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận: Trạm quan trắc tại Nha Trang
Bảng 3.2. Tổng lượng mưa tại một số trạm quan trắc
mm
Năm
TT
Nam

ngày. Nhóm đất cát ven biển đang được khai thác cho mục đích nuôi trồng thủy sản.
Theo số liệu của Tổng cục thống kê đến năm 2010, diện tích đất lâm nghiệp của
cả vùng là 2.200.200ha chiếm tỷ lệ lớn nhất (49,6%), kế tiếp là đất dành cho sản xuất
nông nghiệp, đất chuyên dùng đất thổ cư và đất thổ cư. Diện tích đất trống đồi trọc, đất
cát ven biển chưa được sử dụng còn chiếm diện tích lớn.
Bảng 3.4. Hiện trạng sử dụng đất phân theo địa phương
Nghìn ha
Phân vùng
Tổng
diện
tích
Trong đó
Đất sản
xuất nông
nghiệp
Đất lâm
nghiệp
Đất
chuyên
dùng
Đất ở
Duyên hải Nam Trung Bộ 4436.1 946.1 2200.2 248.8 67.5
1 Đà Nẵng 128.3 8.7 67.8 39.2 5.8
2 Quảng Nam 1043.8 110.7 566.0 29.8 20.9
3 Quảng Ngãi 515.3 125.7 262.8 18.1 9.4
4 Bình Định 604.0 138.1 259.2 25.3 7.8
5 Phú Yên 506.1 121.7 256.3 14.2 5.9
6 Khánh Hoà 521.8 88.6 211.4 82.8 6.2
7 Ninh Thuận 335.8 69.7 186.0 16.1 3.8
8 Bình Thuận 781.0 282.9 390.7 23.3 7.7

Quá trình tích lũy Fe
2
O
3
(làm cho đất có màu đỏ) liên quan đến hoạt động địa
chất ở thời kỳ cuối Plioxen đến Pleitoxen do có hoạt động núi lửa rất mạnh ở khu vực
Ðông Nam châu Á (từ Malaixia đến Hải Nam), các vùng bazan được hình thành đủ để
trong nước biển có hàm lượng muối tan cao, thêm vào đó nhờ lượng oxit tan trong
nước biển nhiều lên kết hợp với sự hoạt động mạnh của vi sinh vật trong nước kết quả
tạo ra muối của oxit sắt Fe
2
O
3
. Mặt khác ở đây lại nằm trong vùng khô hạn lượng mưa
thấp hơn lượng bốc hơi khá nhiều nên muối oxyt sắt cũng được di chuyển trong mao
quản theo con đường bốc hơi và dần dần tích lũy trên mặt đất. Cũng có giả thiết cho
rằng do các cồn cát này nằm tiếp giáp với dải Trường Sơn nên do đó một lượng hợp
chất sắt từ dãy núi này được chuyển dịch xuống và tích lũy lại ở đây.
- Ðặc điểm, tính chất của cồn cát đỏ:
Cồn cát đỏ thường cố định hơn so với các cồn cát trắng và vàng, chúng tập
trung thành dải cao (có khi tới 200m). Cồn cát đỏ có tỷ lệ sét và limon cao hơn ở các
cồn cát trắng vàng (sét vật lý khoảng trên 10%). Ðất thường ít chua đến chua. Các
chất dinh dưỡng tổng số N, P, K đều ở mức nghèo đến rất nghèo. Hàm lượng các chất
dễ tiêu đạt ở mức rất nghèo; nghèo cation trao đổi (Ca
2+
, Mg
2+
); CEC của đất thấp, tuy
nhiên đất có BS% vào loại khá. Ðất nhiều cát nên dễ bị xói mòn, khả năng giữ phân và
nước kém, so với đất cồn cát trắng và vàng sự phân tầng ở cồn cát đỏ có sự ổn định và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status