Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
==========
NGUYỄN ĐỨC LONG
NGHIÊN CỨU ĐỘNG THÁI CẤU TRÚC QUẦN
THỂ CÂY ƯƠI (SCA PHIUM MACRO PODUM)
TẠI KHU VỰC NAM TRUNG BỘ VIỆT NAM,
LÀM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN BẢO TỒN Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
4. Thời gian nghiên cứu 11
CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 12
1.1. Giới thiệu về cây Ươi 12
1.2. Khái quát về động thái rừng 12
1.3. Khái quát về cấu trúc 14
1.4. Khái quát về định lượng đa dạng sinh học 15
1.5. Các nghiên cứu về động thái cấu trúc trên thế giới 15
1.5.1. Các nghiên cứu về động thái 15
1.5.1.1. Các nghiên cứu về tái sinh 16
1.5.1.2. Các nghiên cứu về sinh trưởng 19
1.5.2. Các nghiên cứu về cấu trúc 20
1.5.3. Các nghiên cứu về định lượng đa dạng sinh học 23
1.6. Các nghiên cứu về động thái cấu trúc ở trong nước 23
1.6.1. Các nghiên cứu về động thái 23
1.6.1.1. Các nghiên cứu về tái sinh 23
1.6.1.2. Các nghiên cứu về sinh trưởng 25
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
1.6.2. Các nghiên cứu về cấu trúc 27
1.6.3.Các nghiên cứu về định lượng đa dạng sinh học 30
1.7. Thảo luận và xác định vấn đề nghiên cứu 30
CHƢƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1. Nội dung nghiên cứu 32
2.1.1. Nghiên cứu định lƣợng sinh thái quần xã 32
2.1.2. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây cao của quần thể Ươi 32
2.1.3. Nghiên cứu quy luật tương quan giữa H
vn
và D
3.3. Hiện trạng quản lý tại VQG Cát Tiên và VQG Bạch Mã 47
CHƢƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 48
4.1. Nghiên cứu định lượng các chỉ số đa dạng sinh học 48
4.1.1. Phân tích Chỉ số giá trị quan trọng IVI (Important Value Index) 48
4.1.2. Phân tích tỷ lệ A/F (Abundance/Frequency) 50
4.1.3. Phân tích đường cong đa dạng ưu thế (Dominance Diversity Curve) 52
4.1.4. Phân tích các chỉ số đa dạng sinh học loài 54
4.2. Cấu trúc tầng cây cao của quần thể Ươi 56
4.2.1. Cấu trúc ngang của quần thể Ươi 56
4.2.2. Cấu trúc đứng của quần thể Ươi 62
4.3. Tương quan giữa H
vn
và D
1.3
62
4.4. Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh của quần thể Ươi 65
4.4.1.Phân cấp tái sinh theo chiều cao 65
4.4.2. Phân cấp tái sinh theo chất lượng 66
4.5. Nghiên cứu động thái quần thể Ươi tại VQG Cát Tiên và VQG Bạch Mã 67
4.6. Đề xuất các phương án bảo tồn 76
KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KIẾN NGHỊ 78
Kết luận 78
Tồn tại 80
Kiến nghị 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH…………………………….……… ……… … 72
PHỤ BIỂU 80
Nguyễ n Đức Long
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu nêu trong luận văn là trung thực, các kết luận khoa học của luận văn chưa
từng ai công bố trong bất kỳ công trình khác.
Tác giả
Nguyễn Đức Long
VQG : Vườn Quốc Gia Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
3.1. Đặc điểm khí hậu VQG Bạch Mã 34
3.2. Đặc điểm khí hậu VQG Cát Tiên 37
4.1. Tổng hợp giá trị IVI của các loài cây gỗ trong các lâm phần nghiên cứu có cây
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
2.1. Sơ đồ phƣơng pháp lập Ô định vị nghiên cứu động thái quần thể 25
4.1. Đƣờng cong dạng ƣu thế D_D Curve tại VQG Cát tiên và VQG Bạch mã 45
4.2. Phân bố N/D1,3 của 3 OĐV tại VQG Cát Tiên 51
4.3. Phân bố N/D1,3 của OĐV số 1 tại VQG Bạch Mã. 52
4.4. Phân bố N/D1,3 của OĐV số 2 tại VQG Bạch Mã 53
4.5. Tƣơng quan H
vn
- D
1,3
lụt thiên tai, hạn hán , tài nguyên đất, nước cũng ngày một suy thoái và ô nhiễm.
Vì vậy cùng với các biện pháp khoanh nuôi làm giàu rừng, trồng rừng mới là một
trong các nhiệm vụ quan trọng của ngành Lâm nghiệp. Việc xác định cơ cấu cây
trồng cho từng vùng, từng khu vực sinh thái khác nhau là một việc làm quan trọng
và rất cấp bách, nhất là đối với những loài cây bản địa đa mục đích, vừa phủ xanh
đất trống đồi núi trọc, làm giàu rừng, bảo vệ môi trường lại vừa mang lại hiệu quả
cho người dân.
Để sử dụng, quản lý và phục hồi được các hệ sinh thái rừng nói chung và
rừng nhiệt đới nói riêng thì việc nghiên cứu động thái cấu trúc có ý nghĩa hết sức
quan trọng. Đây là cơ sở quan trọng để giúp chúng ta đưa các biện pháp kỹ thuật tác
động phù hợp theo hướng "tiếp cận gần với tự nhiên", là cơ sở tạo nên sự thành
công của công tác phục hồi rừng. Thực tiễn đã chứng minh rằng các giải pháp nhằm
phục hồi rừng, quản lý rừng bền vững chỉ có thể giải quyết thoả đáng một khi có sự
hiểu biết đầy đủ về bản chất quy luật sống của hệ sinh thái rừng. Do đó nghiên cứu
động thái cấu trúc rừng được xem là cơ sở quan trọng nhất, giúp các nhà lâm nghiệp
có thể chủ động trong việc xác lập các kế hoạch và biện pháp kỹ thuật tác động
chính xác vào rừng, góp phần quản lý và kinh doanh rừng bền vững.
Ươi (Scaphium macropodum) là loài cây gỗ đa tác dụng. Sản phẩm chủ yếu
là lấy quả hạt và gỗ. Ươi là một trong những loài cây quan trọng được lựa chọn cho
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
nhiều hoạt động trồng phục hồi rừng ở Việt Nam (Cẩm nang Lâm Nghiệp, 2006).
Hiện nay do nhu cầu hạt Ươi trên thị trường tăng nhanh, do khai thác quá
mức và không hợp lý như chặt cây để lấy quả các quần thể Ươi tự nhiên bị biến
động và đang ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng. Vấn đề đặt ra là phải tìm ra các
giải pháp nhằm duy trì, phát triển và khai thác bền vững các quần thể cây Ươi còn
xót lại trong tự nhiên.
Nhằm góp phần giải quyết vấn đề này. Đề tài "Nghiên cứu các biện pháp kỹ
nghiên cứu tại VQG Cát Tiên và VQG Bạch Mã. Riêng loài Lồ ô (Bambusa
procera) tại VQG Cát Tiên là trường hợp ngoại lệ vì loài cây này có liên quan trực
tiếp đến sinh trưởng, phát triển của quần xã thực vật và của quần thể Ươi.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là VQG Cát Tiên (thuộc huyện Định Quán tỉnh
Đồng Nai) và VQG Gia Bạch Mã (thuộc huyện Nam Đông - tỉnh Thừa Thiên Huế).
4. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 7 năm 2009 đến tháng 8 năm 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
mở rộng phạm vi phân bố của quần thể, quá trình sinh trưởng và phát triển, cho đến
hiện tượng diễn thế, tái sinh, sự thay đổi các nhân tố hoàn cảnh v .v Tất cả những
thay đổi đó của quần thể thực vật rừng được gọi chung là động thái rừng.
Những nghiên cứu về động thái rừng được xoay quanh những vấn đề chính
là: quá trình diễn thế rừng, quá trình sinh trưởng và phát triển rừng và tái sinh rừng.
Trước khi tìm hiểu về các quá trình của động thái rừng ta cần hiểu rõ một số
quan điểm và quy luật của các quá trình sau:
(1)Tái sinh rừng: là việc xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ
ở những nơi còn hoàn cảnh rừng hoặc mất nhưng chưa lâu. Như vậy, tái sinh rừng
là điểm mốc khởi đầu cho một thế hệ rừng mới.
Tái sinh tự nhiên là quá trình chủ yếu để phục hồi rừng qua các pha diễn thế.
Có hai cách tái sinh tự nhiên: (i) Cách tái sinh liên tục dưới tán kín rậm của những
loài chịu bóng thường thưa thớt và yếu ớt vì thiếu ánh sáng nên chỉ có một số ít cây
thoát khỏi giai đoạn nguy hiểm, ức chế kéo dài để chờ cơ hội vươn lên tầng cao có
đủ nhu cầu về sinh thái; (ii) Cách tái sinh vệt để hàn gắn những lỗ trống trong tán
rừng do cây già đổ gãy hay do gió bão. Trên lỗ trống, trước hết mọc lên các loài cây
tiên phong ưa sáng, mọc nhanh. Dưới tán của các cây tiên phong, các cây định vị
trong thành phần quần thụ cũng thường đòi hỏi che bóng 1-2 năm đầu sẽ mọc sau
và dần vươn lên thay thế những loài tiên phong tạm tời có tuổi thọ ngắn.
(2) Quá trình sinh trƣởng và phát triển: đây là biểu hiện quan trọng của
động thái rừng, kết quả của quá trình này quyết định tới sản lượng rừng, do vậy, nó
có ảnh hưởng đến mục tiêu kinh doanh của ngành lâm nghiệp.
Sinh trưởng được coi là sự tăng lên về kích thước và trọng lượng của cây
Phát triển là tiến trình có tính quy luật của những biến đổi về chất lượng đã
đạt đến điểm ngoặt để chuyển sang biến đổi về chất, nó thể hiện các giai đoạn phát
triển của rừng (ví dụ: rừng non, chuyển sang rừng sào, rừng trung niên và cuối cùng
Đường cong giảm có một đỉnh lệch trái; (iii) Đường cong giảm có hai đỉnh.
Các dạng phân bố N/D đều có thể mô tả bằng các hàm toán học. Kết quả
nghiên cứu của Lê Sáu (1996), Nguyễn Văn Đoan/ Trần Văn Con (1998) ở Kon Hà
Nừng; Lê Minh Trung (1991) ở Gia nghĩa đều cho thấy rừng tự nhiên ít bị tác
động (trạng thái IV) đều có cấu trúc N/D dạng một đỉnh lệch trái và có thể mô
phỏng được bằng hàm Weibull.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
Cấu trúc thẳng đứng (tầng thứ): phân bố số cây theo chiều cao cũng được các
nhà lâm học quan tâm để xác định tầng thứ của rừng. Sự phân bố theo không gian
của tầng cây gỗ theo chiều thẳng đứng, phụ thuộc vào đặc tính sinhh thái học, nhu
cầu ánh sáng của các loài tham gia tổ thành. Cấu trúc tầng thứ của hệ sinh thái rừng
nhiệt đới thường nhiều tầng thứ hơn các hệ sinh thái rừng ôn đới.
1.4. Khái quát về định lƣợng đa dạng sinh học
Đa dạng sinh học được nghĩa theo nhiều cách bởi nhiều tổ chức khác nhau.
Theo định nghĩa của Phòng Đánh giá Công nghệ Hoa Kỳ (U.S Offce of Technology
Assessment, 1987) thì "Đa dạng sinh học là sự đa dạng (Variety) và khả năng biến
đổi (Varebility) của các sinh vật và các phức hệ sinh thái mà trong đó chúng đang
tồn tại".
Theo UNEP (1992), đa dạng sinh học là sự phong phú của sinh vật từ tất cả
các nguồn trong hệ sinh thái trên cạn, dưới nước, ở biển và mọi tổ hợp sinh thái mà
chúng tạo thành. Đa dạng sinh học bao gồm đa dạng di truyền hay còn gọi là đa
dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái.
Trong khuôn khổ đề tài này chúng tôi tiến hành nghiên cứu đa dạng loài ().
Theo Whttker (1975) thì đa dạng sinh học alpha liên quan đến thông tin thành phần
số lượng loài của một khu vực, hiện trường nghiên cứu cụ thể, chẳng hạn như một ô
tiêu chuẩn là 20m x 50m (quadrat).
Tóm lại: Động thái là khái niệm rất rộng và bao gồm nhiều quá trình rất
(Povarnixbun, 1934; Yurkevich, 1938). Phương pháp này trong điều kiện tái sinh sẽ
khó xác định được quy luật phân bố hình thái của lớp cây tái sinh trên mặt đất
rừng. Để giảm sai số trong khi thống kê, Barnard (1950), [51] đã đề nghị phương
pháp "Điều tra chẩn đoán", theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo
giai đoạn phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau. Phương pháp
này được áp dụng nhiều hơn vì nó thích hợp cho từng đối tượng cụ thể.
Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới vô cùng phức tạp và còn ít được
nghiên cứu. Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa thường chỉ
tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng đã ít nhiều bị biến
đổi. Van steenis (1956) đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng mưa
nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các
loài cây ưa sáng.
Khi nghiên cứu tái sinh ở rừng nhiệt đới Châu Phi, A. Obrevin (1938) nhận
thấy cây của các loài ưu thế trong rừng mưa là rất hiếm, Ông gọi đó là hiện tượng
bất thụ của cây mẹ trong thành phần tầng cây gỗ của rừng mưa. Mặt khác trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
rừng mưa tổ thành rừng thường thay đổi theo không gian và thời gian, ngay cả trong
cùng một địa điểm, cùng một thời gian nhất định, tổ hợp các cây sẽ bị thay thế bằng
tổ hợp các loài cây khác hẳn. Nếu xét trên diện tích nhỏ, tổ hợp loài cây tái sinh
không mang tính chất kế thừa. Nhưng nếu xét trên một phạm vi rộng, thì tổ hợp các
loài cây sẽ kế thừa nhau theo phương thức tuần hoàn. Thành công này của A.
Obrevin đã khái quát được hiện tượng bức khảm tái sinh. Ông coi đó là "Hiện tượng
thuần tuý ngẫu nhiên". Nhưng phần lý giải các hiện tượng đó còn bị hạn chế chưa
đưa ra được những đề xuất cụ thể. Vì vậy, lý luận của ông ít sức thuyết phục, chưa
giúp ích cho thực tế sản xuất để điều khiển tái sinh rừng theo những mục tiêu kinh
doanh đã đề ra.
Tuy nhiên, những kết quả quan sát của Davit và P.W Risa (1933), Bot
cho thấy rằng, loài Ươi (Sterculia macrophylla) có mật độ tái sinh cao nhất tại P1 &
P2, Ươi là một trong các loài cây tiên phong, có khả năng tái sinh tự nhiên cao đặc
biệt trong các khoảng trồng tại các ô nghiên cứu.
Yamada và Suzuki (1997) đã tiến hành nghiên cứu sự phân bố không gian
của cây Ươi trong tự nhiên qua 5 giai đoạn phát triển bao gồm: cây con nảy mầm,
cây con bé, cây con lớn, cây trước thành thục và cây thành thục, nghiên cứu các đặc
điểm sinh lý sinh thái và điều kiện khả năng tái sinh tự nhiên. Kết quả nghiên cứu
cho thấy, các tái sinh được thiết lập thành công thường nằm ngoài tán của cây mẹ,
cách gốc khoảng 14 m. Một thực tế quan sát tái sinh tự nhiên cho thấy rằng, các cây
mẹ trưởng thành và cây non tái sinh thường phân bố riêng rẽ theo cách “loại trừ
nhau", mật độ hạt và nảy mầm được phát hiện cao nhất trong diện tích đất dưới tán
cây mẹ gieo hạt, nhưng tại đây, tỷ lệ chết của cây con nảy mầm là cao nhất bởi tầng
rơi dụng và tầng tán các cây mẹ quà dày, cây con Ươi cần khoảng trống, đủ sáng và
rễ của nó cần bám sâu được xuống đất để thiết lập thành công tái sinh.
Tóm lại, kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trên thế
giới cho chúng những hiểu biết các phương pháp nghiên cứu, quy luật tái sinh tự
nhiên ở một số nơi. Đặc biệt, sự vận dụng các hiểu biết quy luật tái sinh để xây
dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm phục hồi và quản lý tài nguyên rừng
bền vững. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
19
1.5.1.2. Các nghiên cứu về sinh trưởng
Có nhiều cách để mô tả sinh trưởng của cây rừng và sản lượng lâm phần.
Cách truyền thống mà các nhà lâm học cổ điển thường dùng là bằng sản lượng. Từ
những năm 1960, ngày càng xuất hiện nhiều công trình dùng mô hình toán để
nghiên cứu quá trình sinh trưởng của cây rừng. Ngày nay, hàng loạt các hàm sinh
trưởng có thể diễn tả chính xác đường cong sinh trưởng của cây rừng phụ thuộc vào
thực vật với hoàn cảnh sống. Để góp phần xây dựng những nguyên lý và đề cập đến
đến nhiều biện pháp kỹ thuật về kinh doanh rừng mưa nhiệt đới đã có nhiều tác giả
nước ngoài dày công nghiên cứu về cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng, tiêu biểu như:
Richard (1960) với công trình Rừng mưa nhiệt đới; Catinot (1965) với công trình
Lâm sinh học nhiệt đới; Baur (1970) với tác phẩm Cơ sở sinh thái của kinh doanh
rừng mưa; Lampard (1968) với công trình Lâm sinh học nhiệt đới
Baur G.N (1964) [2], Odum E. P (1971) [25], đã tập trung nghiên cứu các vấn
đề sinh thái nói chung và cơ sở sinh thái cho kinh doanh rừng mưa nói riêng. Qua đó
làm sáng tỏ khái niệm về hệ sinh thái rừng, đây là cơ sở nghiên cứu các nhân tố cấu
trúc đứng trên quan điểm sinh thái học.
Catinot R. (1965) [3], đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng mưa bằng các
phẫu đồ rừng, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân
loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến.
Odum E.P [25], đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở thuật ngữ
hệ sinh thái (ecosytem) của Tensley A.P, (1935). Khái niệm hệ sinh thái được làm
sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học.
Các công trình nghiên cứu này đã chỉ ra rằng rừng nhiệt đới rất đa dạng phong
phú về thành phần loài, trong rừng thường phân hoá thành một số tầng nhất định.
Đồng thời các tác giả đã nghiên cứu, thảo luận và đề xuất nhiều vấn đề lý luận, kỹ
thuật và cả kinh tế xã hội có vai trò quan trọng trong kinh doanh hệ sinh thái rừng tự
nhiên.
Richards (1953) [29], đã đi sâu nghiên cứu và biểu diễn cấu trúc rừng mưa
nhiệt đới về mặt hình thái. Theo tác giả, một số đặc điểm nổi bật của rừng mưa
nhiệt đới là tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ và các tác giả đã phân biệt
tổ thành thực vật của rừng mưa thành hai loại rừng hỗn hợp có tổ thành loài cây
phức tạp và rừng mưa đơn ưu có tổ thành cây đơn giản, trong những lập địa đặc biệt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
21
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
22
ngờ sự phân tầng rừng rậm nơi có độ cao dưới 600m ở Puecto - Rico và cho rằng
không có sự tập trung khối tán ở một tầng riêng biệt nào cả.
Như vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về tầng thứ đưa ra nhũng nhận
xét mang tính định tính, việc phân chia tầng thứ theo chiều cao mang tính cơ giới
nên chưa phản ánh được sự phân tầng phức tạp của rừng nhiệt đới.
Việc nghiên cứu cấu trúc rừng đã từ lâu và được chuyển dần từ mô tả định
tính sang định lượng. Nhiều tác giả đã sử dụng các công thức, hàm toán học với sự
hỗ trợ của thống kê toán học và tin học đã mô hình hoá cấu trúc của một số nhân tố,
xác định mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc rừng.
Một số tác giả quan tâm nghiên cứu cấu trúc theo hướng định lượng và dùng
các mô hình toán học để mô phỏng các quy luật cấu trúc. Rollet (1971) [47], đã mô
tả mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính bằng các hàm hồi quy, phân bố đường
kính bằng các dạng phân bố xác suất. Nhiều tác giả còn sử dụng hàm Weibull để
mô hình hoá cấu trúc đường kính loài thông theo mô hình của Schumarcher và Coi.
Bên cạnh đó các dạng hàm Meyer, Hyperbol, hàm mũ, Pearson, hàm Weibull cũng
được nhiều tác giả sử dụng để mô hình hoá cấu trúc.
Một vấn đề nữa có liên quan đến nghiên cứu cấu trúc rừng đó là việc phân
loại rừng theo cấu trúc ngoại hay ngoại mạo sinh thái, cơ sở phân loại rừng theo xu
hướng này là nghiên cứu đặc điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ và
một số đặc điểm hình thái khác của quần xã thực vật rừng. Đại diện cho hệ thống
rừng theo hướng này có Humbold, Schimper. Khác với xu hướng phân loại rừng
theo cấu trúc và ngoại mạo chủ yếu mô tả rừng ở dạng tĩnh, trên cơ sở nghiên cứu
rừng theo thời gian, đặc biệt là sự biến đổi tổ thành loài cây trong lâm phần qua các
giai đoạn khác nhau trong quá trình phát sinh và phát triển của rừng (dẫn theo Lý
Thọ, 1999) [31].
Yamada và cộng sự (2000) đã tiến hành nghiên cứu sự hình thành cấu trúc
tán và tương quan sinh trưởng các bộ phận 3 loài Scaphium, trong đó có Ươi (S.
khai thác.
1.6. Các nghiên cứu về động thái cấu trúc ở trong nƣớc
1.6.1. Các nghiên cứu về động thái
1.6.1.1. Các nghiên cứu về tái sinh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
24
Nghiên cứu về tái sinh rừng ở Việt Nam cũng chỉ mới bắt đầu từ những năm
1960. Rừng nhiệt đới Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới
nói chung, nhưng do phần lớn là rừng thứ sinh bị tác động của con người nên những
quy luật tái sinh bị xáo trộn nhiều. Các kết quả nghiên cứu về tái sinh mới chỉ đề
cập trong các công trình nghiên cứu về thảm thực vật, trong các báo cáo khoa học
công bố trên tạp trí Lâm nghiệp. Nổi bật có công trình của Thái Văn Trừng (1963,
1978) [39], về "Thảm thực vật rừng Việt Nam". Ông đã nhấn mạnh ánh sáng là nhân
tố sinh thái khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên ở cả rừng nguyên
sinh và thứ sinh.
Hoàng Văn Tuấn (2007) [32], khi "Nghiên cứu về đặc điểm tái sinh và động
thái tái sinh của hệ sinh thái rừng lá rộng thường xanh vùng Tây Bắc" đã chỉ ra
rằng: có một sự tích luỹ số loài ở các lớp cây có kích thước lớn hơn so với các lớp
cây dưới đó. Thực tế này phản ánh kết quả của sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng
của các loài cây tái sinh và tuỳ vào kích thước của lỗ trống được tạo ra trong tán
rừng làm tiền đề cho quá trình tái sinh. Trần Văn Con và cộng sự (2006), đã chỉ ra
rằng, động thái rừng có thể được nghiên cứu bằng theo dõi các ô định vị qua nhiều
năm. Kết quả phân tích tài liệu thu thập được trong ba năm từ các ô tiêu chuẩn định
vị ở Kon Hà Nừng đã cho thấy qui luật động thái của rừng. Biến động về số cây ở
lớp cây tái sinh rất lớn, tỷ lệ chết và tỷ lệ tái sinh vào cấp kính nhỏ nhất khá cao. Tỷ
lệ chết cao nhất là ở lớp cây mạ.
Nguyễn Văn Thường (1991) [34], đã tổng kết và đưa ra kết luận về tình hình
tái sinh ở một số khu rừng ở miền Bắc Việt Nam như sau: hiện tượng tái sinh dưới