nghiên cứu động thái cấu trúc đường kính của rừng tự nhiên nhiệt đới hỗn loài lá rộng rụng lá theo mùa ưu hợp họ dầu (rừng khộp) ở tây nguyên - Pdf 22


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRẦN ĐỨC MẠNH

NGHIÊN CỨU ĐỘNG THÁI CẤU TRÚC ĐƢỜNG KÍNH
CỦA RỪNG TỰ NHIÊN NHIỆT ĐỚI HỖN LOÀI LÁ RỘNG
RỤNG LÁ THEO MÙA ƢU HỢP HỌ DẦU (RỪNG KHỘP)
Ở TÂY NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

PGS.TS. TRẦN VĂN CON
THÁI NGUYÊN - 2010

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
1.1. Khái quát về động thái rừng 7
1.2. Nghiên cứu ngoài nƣớc 7
1.1.1. Các nghiên cứu về tái sinh và diễn thế rừng 7
1.1.2. Các nghiên cứu về sinh trƣởng rừng 12
1.1.3. Các nghiên cứu về rừng khộp 14
1.3. Nghiên cứu trong nƣớc 16
1.3.1. Các nghiên cứu về tái sinh và diễn thế rừng 16
1.3.2. Các nghiên cứu về tăng trƣởng rừng 18
1.3.3. Các nghiên cứu về rừng Khộp 21
1.4. Thảo luận và xác định vấn đề nghiên cứu 24
Chƣơng 2
MỤC TIÊU, NỘI DUNG, GIỚI HẠN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
30
2.1. Mục tiêu 30
2.1.1. Mục tiêu lý luận 30
2.1.2. Mục tiêu thực tiễn 30

Chƣơng 5
KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KHUYẾN NGHỊ 81
5.1.Kết luận 81
5.2. Tồn tại 83
5.3. Khuyến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC LUẬN VĂN 89

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 5
MỞ ĐẦU
Rừng là tài nguyên quý giá có khả năng tái tạo, rừng không những là cơ sở
của sự phát triển kinh tế mà còn giữ chức năng sinh thái rất quan trọng. Song nó là
một hệ sinh thái phức tạp bao gồm nhiều thành phần với các quy luật sắp xếp khác
nhau trong không gian và thời gian. Trong quản lý rừng, tác động lâm sinh là biện
pháp kỹ thuật then chốt để cải thiện và làm cho rừng có cấu trúc phù hợp nhất với
mục đích quản lý, nhằm đáp ứng đƣợc các yêu cầu đặt ra cho từng loại hình kinh
doanh rừng. Thực tiễn đã chứng minh rằng các giải pháp nhằm phục hồi rừng, quản
lý rừng bền vững chỉ có thể giải quyết thoả đáng một khi có sự hiểu biết đầy đủ về
bản chất quy luật sống của hệ sinh thái rừng (HSTR), trong đó có quy luật sinh
trƣởng và các nhân tố ảnh hƣởng đến sinh trƣởng, phát triển của rừng. Nghiên cứu
động thái của rừng tự nhiên là một công việc rất khó khăn nhƣng cần thiết để nắm
bắt đƣợc các qui luật phát triển của rừng để có các quyết định điều chỉnh hợp lý và
kịp thời trong từng giai đoạn phát triển của rừng. Các quá trình động thái diễn ra
trong rừng có thể chia thành 3 nhóm quá trình: (i) tăng trƣởng của cây dẫn đến sự
chuyển cấp trong tầng cây cao; (ii) quá trình tái sinh bổ sung; và (iii) quá trình chết
tự nhiên trong các cỡ kính, hai quá trình sau làm thay đổi tổ thành loài và cấu trúc
của lâm phần. Các nghiên cứu về cấu trúc và động thái của rừng tự nhiên đã đƣợc


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 7
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Khái quát về động thái rừng
Động thái rừng là một khái niệm rất rộng và bao gồm nhiều quá trình rất
phức tạp. Nghiên cứu động thái rừng là một công việc hết sức khó khăn và càng đặc
biệt khó khăn hơn đối với rừng tự nhiên nhiệt đới bởi tính phức hợp của nó. Các
công trình nghiên cứu về động thái rừng tự nhiên nhiệt đới ở trên thế giới và ở Việt
Nam đã đƣợc công bố cho đến nay là không kể đƣợc. Sau đây chỉ cập nhật một số
công trình nghiên cứu quan trọng nhất liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài
luận văn, đặc biệt là các công trình nghiên cứu các quá trình động thái của quần thụ
cây gỗ trên 3 vấn đề chính: tái sinh, diễn thế và tăng trƣởng.
1.2. Nghiên cứu ngoài nước
1.1.1. Các nghiên cứu về tái sinh và diễn thế rừng
Có rất nhiều phƣơng pháp đã đƣợc sử dụng để nghiên cứu quá trình diễn thế
rừng, phƣơng pháp đƣợc sử dụng nhiều nhất là mô hình hóa các quy luật biến đổi
tầng cây cao và tầng cây bụi thảm tƣơi dƣới các tác động thay đổi điều kiện môi
trƣờng.
Hiện tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau trong nghiên cứu về lý thuyết
diễn thế của các hệ sinh thái, trong đó có thể chia thành hai trƣờng phái cơ bản:
(i) Các lý thuyết về diễn thế dựa trên phản ứng của các cá thể sinh vật và quan niệm
diễn thế là kết quả của các chiến lược thích nghi của các cá thể đối với môi trƣờng.
(ii) Các lý thuyết diễn thế dựa trên phản ứng của toàn bộ HSTR (Shugart,
H.H.1984) [52]. Diễn thế dƣới quan điểm của nhiều nhà sinh thái học, bao gồm sự
biến đổi của các hệ tự nhiên và hiểu biết về nguyên nhân cũng nhƣ xu hƣớng của
các biến đổi đó. Trong kho tàng tài liệu về sinh thái học, đã có quá nhiều các công

nhà khoa học quan tâm (Mibbre-ad, 1930; Richards, 1933; 1939; Aubreville, 1938; Beard,
1946; Lebrun và Gilbert, 1954; Joné, 1955-1956; Schultz, 1960; Baur, 1964; Rollet, 1969,
dẫn theo [5]). Do tính chất phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài có giá
trị nên trong thực tiễn, ngƣời ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định.
Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới vô cùng phức tạp và còn ít đƣợc
nghiên cứu. Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mƣa thƣờng chỉ
tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dƣới điều kiện rừng đã ít nhiều bị biến
đổi. Van steenis (1959)[54] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 9
mƣa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của
các loài cây ƣa sáng.
Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới đƣợc thảo luận nhiều nhất là hiệu quả các cách
thức xử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng.
Từ đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phƣơng thức chặt tái sinh.
Công trình của Bernard (1954, 1959), Wyatt Smith (1961) dẫn theo [2] với phƣơng
thức rừng đều tuổi ở Mã Lai; Nicholson (1958) ở Bắc Borneo; Donis và Maudoux
(1951, 1954) dẫn theo [2] với công thức đồng nhất hoá tầng trên ở Zaia; Taylor (1954),
Jones (1960) với phƣơng thức chặt dần tái sinh dƣới tán ở Nijêria và Gana; Barnarji
(1959) với phƣơng thức chặt dần nâng cao vòm lá ở Andamann. Nội dung chi tiết các
bƣớc và hiệu quả của từng phƣơng thức đối với tái sinh đã đƣợc Baur (1962) [2] tổng
kết trong tác phẩm: Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mƣa.
Nghiên cứu tái sinh ở rừng nhiệt đới Châu Phi, A.Obrevin (1938) nhận thấy cây
con của các loài cây ƣu thế trong rừng mƣa là rất hiếm. A.Obrevin đã khái quát hoá các
hiện tƣợng tái sinh ở rừng nhiệt đới Châu Phi để đúc kết nên lý luận bức khảm tái sinh,
nhƣng phần lý giải các hiện tƣợng đó còn bị hạn chế chƣa đƣa ra đƣợc những đề xuất
cụ thể. Vì vậy, lý luận của ông còn ít sức thuyết phục, chƣa giúp ích cho thực tiễn sản

cây tái sinh thƣờng khá lớn. Nhƣng số lƣợng loài cây có giá trị kinh tế thƣờng
không nhiều và đƣợc chú ý hơn, còn các loài cây có giá trị kinh tế thấp thƣờng ít
đƣợc nghiên cứu, đặc biệt là đối với tái sinh ở các trạng thái rừng phục hồi sau
nƣơng rẫy.
H. Lamprecht (1989)[46] căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài cây trong
suốt quá trình sống để phân chia cây rừng nhiệt đới thành nhóm cây ƣa sáng, nhóm cây
bạn chịu bóng và nhóm cây chịu bóng. Kết cấu của quần thụ lâm phần có ảnh hƣởng
đến tái sinh rừng. I.D.Yurkevich (1960) đã chứng minh độ tàn che tối ƣu cho sự phát
triển bình thƣờng của đa số các loài cây gỗ là 0,6 - 0,7.
Độ khép tán của quần thụ ảnh hƣởng trực tiếp đến mật độ và sức sống của cây
con. Trong công trình nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa cây con và quần thụ,
V.G.Karpov (1969) đã chỉ ra đặc điểm phức tạp trong quan hệ cạnh tranh về dinh
dƣỡng khoáng của đất, ánh sáng, độ ẩm và tính chất không thuần nhất của quan hệ qua
lại giữa các thực vật tuỳ thuộc đặc tính sinh vật học, tuổi và điều kiện sinh thái của
quần thể thực vật (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992)[29].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 11
Trong nghiên cứu tái sinh rừng ngƣời ta nhận thấy rằng tầng cỏ và cây bụi qua
thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dƣỡng khoáng của tầng đất mặt đã ảnh
hƣởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ. Những quần thụ kín tán, đất khô và
nghèo dinh dƣỡng khoáng do đó thảm cỏ và cây bụi sinh trƣởng kém nên ảnh hƣởng
của nó đến các cây gỗ tái sinh không đáng kể. Ngƣợc lại, những lâm phần thƣa, rừng
đã qua khai thác thì thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ. Trong điều kiện này
chúng là nhân tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng (Xannikov, 1967; Vipper, 1973)
(dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992)[29] .
Nhƣ vậy, các công trình nghiên cứu đƣợc đề cập ở trên đã phần nào làm sáng tỏ
việc đặc điểm tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới. Đó là cơ sở để xây dựng các phƣơng

pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm quản lý tài nguyên rừng bền vững.
1.1.2. Các nghiên cứu về sinh trƣởng rừng
Ngƣời ta đã dùng nhiều cách để mô tả sinh trƣởng của cây và sản lƣợng lâm
phần. Cách truyền thống mà các nhà lâm học cổ điển thƣờng dùng là bảng sản
lƣợng. Từ những năm 1960 trở lại đây ngày càng xuất hiện nhiều công trình dùng
mô hình toán để nghiên cứu quá trình sinh trƣởng của cây rừng. Ngày nay đã có
hàng loạt các hàm sinh trƣởng có thể diễn tả chính xác đƣờng cong sinh trƣởng của
cây rừng phụ thuộc vào thời gian. Backman (1962)[38]đã chỉ ra rằng: Suất tăng
trƣởng của một lâm phần là một hàm phụ thuộc vào tuổi, loài cây, lập địa và mật
độ. Clutter (1963) [42] đã dùng phƣơng trình vi phân để dự báo năng suất của rừng
thuần loài đều tuổi, còn Moser và Hau (1962 dẫn theo [55]) thì dùng phƣơng pháp
này để nghiên cứu rừng lá rộng khác tuổi. Các nghiên cứu về sau đã bổ sung thêm
nhiều yếu tố mới. Moser đã định lƣợng ba thành phần chủ yếu của quá trình sinh
trƣởng: Tái sinh (ingrowth); chết (mortality); tăng trƣởng cây sống (Survior
growth), ông đã phát triển một mô hình gồm các hệ phƣơng trình phi tuyến để dự
báo sinh trƣởng của rừng cho các cấp đất và cỡ đƣờng kính khác nhau. Leary (1970)
cũng tiến hành những nghiên cứu tƣơng tự, ông đã thảo luận sâu hơn về các luận
điểm lý thuyết của các mô hình mô phỏng sinh trƣỏng và đƣa ra những nguyên tắc,
để ƣớc lƣợng các tham số. Ek (1974) đã dùng hệ phƣơng trình phi tuyến để nghiên
cứu nhiều lâm phần rừng lá rộng khác tuổi (dẫn theo Trần Văn Con (1991)[6].
Ngƣời ta cũng có thể dùng các quá trình ngẫu nhiên để mô tả sinh trƣởng của
lâm phần. Burner và Moser (1973) đã dùng quá trình Markov để mô phỏng sự
chuyển hoá cấp kính theo thời gian. Stephen và Waggoner (1970) cho rằng có thể

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 13
dùng mô hình Markov để mô phỏng sự biến đổi thành phần loài của một lâm phần
trong vòng 40 năm. Suzuki và Umemura (1974). Kouba, J. (1976) đã dùng chuỗi


14
hƣớng này về sau đã chi tiết đến các cấp kích thƣớc và nhóm loài. Xu hƣớng thứ
hai là mô hình từng cây, là những mô hình rất chi tiết với một khối lƣợng tính toán
lớn, phức tạp, tuy nhiên nó đã trở thành hiện thực thông qua các tiến bộ của kỹ thuật
máy tính điện tử.
1.1.3. Các nghiên cứu về rừng khộp
Rừng Khộp là tên gọi chung cho các loại rừng thƣa ƣu hợp họ dầu, rụng lá
mùa khô (tiếng Pháp gọi là Forets Claires Dipterocarpacees; tiếng Anh là dry open
dipterocarps forest). Đây là một HSTR đặc trƣng chỉ phân bố tự nhiên ở những lập
địa khô vùng Đông nam Châu Á nhƣ: Việt Nam, Lào, Căm Pu Chia, Thái Lan,
Mianmar và một phần nhỏ ở đông bắc Ấn Độ. Rừng Khộp đƣợc hình thành dƣới
những điều kiện sinh thái cực kỳ khắc nghiệt: chúng ta có thể bắt gặp rừng Khộp ở
những nơi có khí hậu gió mùa với mùa khô kéo dài từ 5-6 tháng và tổng lƣợng mƣa
năm không quá 1500mm, nằm trên độ cao từ 150-1300m, nhƣng nhìn chung rừng
khộp thƣờng phân bố ở độ cao không quá 1000m, tập trung trên các đai địa hình cao
nguyên tƣơng đối bằng phẳng và trên các bình nguyên bị bào mòn với độ dốc không
quá 10 độ. Rừng Khộp có thành phần thực vật tƣơng đối đơn giản và đƣợc đặc
trƣng bởi 4 loài cây chính: Cà chắc (Shorea obtusa Wall), Cẩm liên (Shorea
siamensis, Miq.), Dầu trà beng (Dipterocarpus obtusifolius Teysm) và Dầu đồng
(Dipterocarpus tuberculatus Roxb). So với các kiểu rừng khác nhƣ rừng lá rộng
thƣờng xanh, rừng thông… thì các nghiên cứu trƣớc đây về rừng khộp còn rất ít,
nhất là những nghiên cứu trên địa bàn Tây Nguyên. Ngƣợc dòng thời gian có thể kể
đến các nghiên cứu của Kurs (1897) ở Mianmar, Ryan và Keen (1911) ở bắc Thái
Lan, Champion (1936), Edward (1950) ở Ấn Độ và Mianmar, Maurand, Rollet
(1952), Vidal (1958) ở Đông dƣơng (dẫn theo Vũ Biệt Linh và cộng sự (1998) [14].
Bunyavejchevin B. (1983) [40] nghiên cứu cấu trúc quần thụ của rừng khộp ở miền
Bắc, Tây Bắc và miền Tây Thái Lan đã chia thành 5 kiểu ƣu hợp dựa vào các loài
ƣu thế chính:
1. Ƣu hợp Cẩm liên, đƣợc chia thành hai kiểu phụ: kiểu phụ dạng cây bụi và kiểu

Kostermann (1985)[44], Kutintata (1975), Perset Sornsathapornkul (2002) [48] về
cấu trúc rừng khộp cũng cho các kết quả tƣơng tự.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 16
1.3. Nghiên cứu trong nước
1.3.1. Các nghiên cứu về tái sinh và diễn thế rừng
Tái sinh là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của HSTR, mà biểu hiện
là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ. Hiểu theo nghĩa hẹp, tái
sinh rừng là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ.
Hay nói cách khác tái sinh rừng là quá trình sinh học quan trọng nhất trong đời sống
của rừng.
Phục hồi rừng bằng khoanh nuôi có nghĩa là lợi dụng tái sinh tự nhiên kết
hợp với tác động hợp lý của con ngƣời tạo ra một thế hệ mới có thành phần loài cây
đáp ứng mục đích kinh doanh và phù hợp với điều kiện tự nhiên, tạo ra HSTR ổn
định bền vững.
Tái sinh rừng mƣa nhiệt đới có đặc điểm phân tán liên tục, ngoài ra còn có
tái sinh theo vệt. Rừng nhiệt đới Việt Nam thích hợp với cả hai kiểu tái sinh trên,
ngoài ra còn có hiện tƣợng nảy mầm đồng thời tạo ra một thế hệ rừng tiên phong
thuần loài, nhƣ rừng Sau Sau (Hữu Lũng - Lạng Sơn), rừng Bồ Đề (Phú Thọ)
Tái sinh tự nhiên là qúa trình chủ yếu để phục hồi rừng qua các pha diến thế.
Có hai phƣơng thức tái sinh tự nhiên:
1. Tái sinh liên lục dƣới tán kín rậm của những loài chịu bóng thƣờng thƣa
thớt và yếu ớt vì thiếu áng sáng nên chỉ có một số ít cây thoát khỏi giai đoạn nguy
hiểm, ức chế kéo dài để chờ cơ hội vƣơn lên tầng cao cho thích hợp với nhu cầu
sinh thái;
2. Tái sinh theo vệt để hàn gắn những lỗ trống trong tán rừng do cây già đổ
rụi hay gió bão làm đổ gãy. Trên lỗ trống đó, trƣớc hết sẽ mọc lên các loài cây tiên

tổng số cây tái sinh mục đích đạt 2594 cây/ha, trong khi đó rừng IIIA2 số lƣợng
giảm xuống còn 1481 cây/ha, ở rừng IIIA1 chỉ còn là 750 cây/ha; trong đó có một
số loài hầu nhƣ rất ít gặp nhƣ Lim xanh, Re, Vàng tâm, Xoay, Sến. Tỷ lệ % so với
tổng số các loài cây tái sinh cũng giảm rõ rệt. Tuy nhiên, rừng ở Kon Hà Nừng còn
có trữ lƣợng cao và khai thác chọn mới đƣợc diễn ra trong vòng 10 năm thì sự thay
đổi trong tái sinh chƣa xẩy ra mạnh.
Hoàng Văn Tuấn (2007) [30], khi nghiên cứu về đặc điểm tái sinh và động thái tái
sinh của HSTR lá rộng thường xanh vùng Tây bắc đã chỉ ra rằng: có một sự tích luỹ
số loài ở các lớp cây có kích thƣớc lớn hơn so với các lớp cây dƣới đó. Thực tế này
phản ánh kết quả của sự khác nhau về tốc độ sinh trƣởng của các loài cây tái sinh và

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 18
tuỳ vào kích thƣớc của lỗ trống đƣợc tạo ra trong tán rừng làm tiền đề cho quá trình
tái sinh. Trần Văn Con và cộng sự (2006) [7] đã chỉ ra rằng, động thái rừng có thể
đƣợc nghiên cứu bằng theo dõi các ô định vị qua nhiều năm. Kết quả phân tích tài
liệu thu thập đƣợc trong 3 năm từ các ô tiêu chuẩn định vị ở Kon Hà Nừng đã cho
thấy qui luật động thái của rừng. Biến động về số cây ở lớp cây tái sinh rất lớn, tỷ lệ
chết và tỷ lệ tái sinh vào cấp kính nhỏ nhất khá cao. Tỷ lệ chết cao nhất là ở lớp cây
tái sinh có D
1,3
từ 1 đến 10cm (64%) chứng tỏ có một sự cạnh tranh rất lớn trong lớp
cây tái sinh này. Trong thời gian quan sát 3 năm, số cây chết trong tầng cây cao là
25 cây (chiếm 6%), trong đó chết chủ yếu ở cấp kính từ 10 - 20cm. Số cây từ lớp
cây tái sinh chuyển lên tầng cây cao là 28 cây. Số cây trong tầng cây cao chuyển lên
các cỡ kính cao hơn là 56 cây.
1.3.2. Các nghiên cứu về tăng trƣởng rừng
Ở Việt Nam, nghiên cứu tăng trƣởng rừng mới đƣợc bắt đầu từ những năm

số do phân cấp thời gian, nắn tròn số lẻ, hoặc các sai số do sử dụng công thức gần
đúng. Hiện nay đã có biểu tăng trƣởng cho khoảng 100 loài cây trồng rừng phổ biến
và loài cây rừng tự nhiên. Có thể nêu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau
(Dẫn theo Cẩm nang Lâm nghiệp, chƣơng Tăng trƣởng rừng - Cục Lâm nghiệp và
GTZ (2006) [3].
Giai đoạn 1981-1985: Trịnh Khắc Mƣời (1993) [17] đã nghiên cứu qui luật tăng
trƣởng làm cơ sở cho việc tỉa thƣa, nuôi dƣỡng rừng Thông nhựa vùng Thanh Nghệ
Tĩnh và vùng Đông Bắc trên cơ sở đo đếm 187 ô định vị và tạm thời, 481 cây giải
tích và khoan tăng trƣởng.
Năm 1985: Vũ Đình Phƣơng và cộng sự Viện Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp (nay
là Viện Nghiên cứu lâm nghiệp) đã nhiên cứu qui luật tăng trƣởng của lâm phần
thuần loài và hỗn loài năng suất cao để làm cơ sở đƣa ra các phƣơng pháp kinh
doanh rừng hợp lý (đề tài 04010102a - Chƣơng trình 04.01). Tài liệu nghiên cứu từ
50 ô tiêu chuẩn, mỗi ô có diện tích từ 0,25-1ha ở các khu rừng giàu tại Kon Hà
Nừng và lƣu vực Sông Hiếu.
Nguyễn Ngọc Lung và Đào Công Khanh (1990) [16] nghiên cứu tăng trƣởng và sản
lƣợng rừng trồng Thông ba lá dựa trên tài liệu thu thập từ 142 ô định vị và bán định
vị, 350 ô tiêu chuẩn tạm thời, 420 cây tiêu chuẩn theo cỡ kính, giải tích 242 cây
ngả, đo 548 bộ tán lá về diện tích và đƣờng kính hình chiếu tán, đo đếm sinh khối

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 20
thân, cành, lá, rễ của 60 cây, sử dụng tài liệu 572 ô tròn, chặt trắng 4 ô tiêu chuẩn
100 x100m.
Năm 1998: Trần Quốc Dũng và các cộng sự Viện Điều tra qui hoạch rừng đã nghiên
cứu phân tích đánh giá tăng trƣởng rừng thƣờng xanh cây gỗ lá rộng vùng Bắc
Trung bộ dựa trên 587 cây giải tích của 27 loài ƣu thế (dẫn theo [3]).
Năm 2000: Trần Quốc Dũng và các cộng sự Viện Điều tra qui hoạch rừng đã nghiên

.,2007)[27].
Năm 2004-2006, nhóm nghiên cứu do Trần Văn Con chủ trì đã nghiên cứu bổ sung
qui luật sinh trƣởng của chiều cao 20 loài cây thƣờng đƣợc khai thác ở Tây Nguyên
cho phép phân thành ba nhóm theo đặc điểm sinh trƣởng: (i): Các loài cây ƣa bóng
giai đoạn đầu, sinh trƣởng chiều cao trong 10 năm đầu rất chậm sau đó tăng dần lên
khi vƣợt lên đƣợc tầng cây cao để trở thành tầng trội. Đó là các loài: Xoay, Chò,
Cồng, Thạch đảm, Giẻ và Hoàng đàn. (ii) Các loài cây chịu bóng nhẹ (trung tính)
giai đoạn đầu, sinh trƣởng chiều cao ở 10 năm đầu trung bình và tăng lên ở giai
đoạn sau đạt tầng cây cao ở tuổi thành thục. Đó là các loài: Re, Vạng, Vàng tâm,
Trám, Sến, Gội, Giổi và Cóc đá. (iii) Các loài cây ƣa sáng, sinh trƣởng chiều cao
giai đoạn đầu rất nhanh sau đó chậm lại và dừng lại rồi dừng lại ở tầng giữa của
rừng ổn định. Đó là các loài: Bời lời, Chân chim, Bứa, Côm, Gáo, và Trâm. Nghiên
cứu qui luật sinh trƣởng đƣờng kính đã xác định đƣợc đƣờng kính tại đó tăng
trƣởng đạt tối đa để làm căn cứ khoa học cho việc xác định đƣờng kính khai thác tối
thiểu (Trần Văn Con và cộng sự., 2006) [7].
1.3.3. Các nghiên cứu về rừng Khộp
Ở Việt Nam, có các nghiên cứu của Schmid (1962) ở Buôn Ma Thuột, Rollet
(1952) ở Lang Hanh và của Nguyễn Tiến Hiệp (1960) ở Trảng Bom (dẫn theo Vũ
Biệt Linh và cộng sự., 1998) [14]. Nhìn chung các nghiên cứu này chủ yếu nặng về
phân loại rừng, mô tả thảm thực vật một cách định tính. Sau ngày miền Nam đƣợc
giải phóng (1975), do ý nghĩa quan trọng về kinh tế-xã hội và sinh thái, rừng Khộp
ở Tây Nguyên đã trở thành đối tƣợng của nhiều nhà nghiên cứu khoa học thuộc các
lĩnh vực khác nhau. Viện điều tra qui hoạch rừng (1983) đã công bố một loạt các kết
quả điều tra, nghiên cứu về tài nguyên rừng khộp ở Tây Nguyên. Về hệ thực vật
trong rừng khộp đã có các nghiên cứu của Phan Kế Lộc, Nguyễn Tiến Hiệp (1987)
[15], Nguyễn Bội Quỳnh, Trần Hợp, Đoàn Sỹ Hiên (1988) [23], Ngô Tiến Dũng
(2000) [9], 2004 [10]. Về đất, có các nghiên cứu của Tôn Thất Chiểu (1976),

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên


bẹt và phân tán, nếu  lớn thì phân bố nhọn và tập trung. Tham số  biểu thị dạng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 23
của phân bố: nếu  = 1 thì phân bố có dạng phân bố mũ (phân bố giảm, nếu  < 3,6
phân bố có dạng một đỉnh lệch trái, nếu  > 3,6 phân bố có dạng một đỉnh lệch
phải, trong trƣờng hợp  = 3,6 thì phân bố có dạng chuẩn. Nhƣ vậy, cặp tham số (
, ) cấu trúc nội tại của lâm phần. Qua số liệu thực nghiệm, dựa vào giá trị của tham
số , cho thấy trong rừng khộp có thể tồn tại 3 dạng cấu trúc N/D:
(I) Phân bố giảm (giá trị 0,75 <  < 1,25) qui về =1, đặc trƣng cho rừng khác
tuổi có lớp tái sinh liên tục và đủ lớn. Loại rừng này có thể kinh doanh bằng
phƣơng thức chặt chọn theo cấp kính.
(II) Phân bố một đỉnh lệch trái (giá trị 1,25 <  < 1,75) qui về =1,5, đặc trƣng
cho rừng khác tuổi có lớp cây tái sinh liên tục nhƣng không đủ số lƣợng. Số
cây có cấp kính từ 15-19 cm chiếm đa số.
(III) Phân bố Rayleich, một đỉnh lệch trái ít hơn, đặc trƣng cho rừng gần nhƣ
đồng tuổi (có thể coi là gần chuẩn, giá trị 1,25 <  < 2,5 qui về =2). Quá
trình tái sinh trong dạng cấu trúc này bị gián đoạn nhiều kỳ, số lƣợng tái sinh
ít, rừng có thể kinh doanh theo phƣơng thức chặt trắng theo đám nhỏ.
Dựa vào tham số  có thể chia rừng thành 3 cấp:
(1) Giá trị  nằm từ 1-2,5, nghĩa là đƣờng kính bình quân của lâm phần >20cm, đặc
trƣng cho loại rừng non hoặc rừng gỗ nhỏ.
(2) Giá trị  nằm từ 2,5-4, nghĩa là đƣờng kính bình quân của lâm phần nằm trong
khoảng 20-30cm, đặc trƣng cho rừng trung niên hoặc gổ nhỡ.
(3) Giá trị  lớn hơn 4, nghĩa là đƣờng kính bình quân lâm phần lớn hơn 30 cm, đặc
trƣng cho rừng thành thục và gỗ lớn.
Đại đa số các ô quan sát có cấu trúc N/D theo dạng II, nghĩa là phân bố một đỉnh
lệch trái. Do giữa  và  có tƣơng quan tỷ lệ thuận, nên hầu hết các ô có dạng phân

Biểu đồ mô phỏng tƣơng quan tổng tiết diện ngang G với số cây N/ha và cấp
kính Dg của rừng có thể dùng để xác định mật độ tối ƣu và tối đa của rừng khộp.
Phân tích biểu đồ này Trần Văn Con (1991) [6] nhận xét rằng, hiện trạng mật độ
rừng Khộp đã nghiên cứu ở Tây Nguyên thƣa hơn nhiều so với mật độ tối ƣu, độ
đầy của rừng hiện tại chỉ đạt khoảng 0,3- 0,7 so với rừng chuẩn.
1.4. Thảo luận và xác định vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu về quá trình động thái của rừng tự nhiên là hết sức phức tạp nhƣng lại
có vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác định các phƣơng pháp hiệu quả để dự

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên 25
báo tà nguyên rừng. Các phƣơng pháp mô hình hoá các quá trình động còn có khả
năng thăm dò các lựa chọn về quản lý và phƣơng án kỹ thuật lâm sinh. Chẵng hạn,
các nhà lâm học muốn biết hiệu quả lâu dài của một biện pháp kỹ thuật lâm sinh cụ
thể nhƣ việc thay đổi cƣờng độ khai thác rừng và khả năng khai thác trong tƣơng
lai. Với một mô hình sinh trƣởng, nhà nghiên cứu có thể kiểm tra đầu ra của các
phƣơng án (kịch bản) khai thác khác nhau để lựa chọn đƣợc phƣơng án tối ƣu nhất.
Quá trình xây dựng một mô hình sinh trƣởng còn khó khả năng tìm hiểu sâu hơn về
các kiến thức động thái của lâm phần rừng. Đã có quá nhiều các công trình nghiên
cứu mô hình hoá sinh trƣởng của rừng thuần loài đều tuổi, đặc biệt là cho rừng
trồng. Tuy nhiên, các HSTR trồng thƣờng rất đơn giản và phƣơng pháp tiếp cận để
xây dựng mô hình cho chúng không thể áp dụng đƣợc đối với rừng hỗn loài, khác
tuổi. Rừng hỗn loài nhiệt đới ẩm với sự tồn tại hàng trăm loài cây khác nhau ở các
cấp tuổi (cấp kích thƣớc) và kiểu sinh trƣởng rất đa dạng là một thách thức lớn đối
với việc xây dựng các quá trình động thái.
Các nhà quản lý lâm nghiệp cần các thông tin về hiện trạng tài nguyên rừng ( ví dụ
số cây theo loài, theo cỡ kính, …) các dự báo về xu thế phát triển của rừng, lƣợng
khai thác và thời gian có thể khai thác trong tƣơng lai… Các thông tin này có thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status