NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ CỦA QUẦN THỂ DỪA NƯỚC TẠI XÃ CẨM THANH, THÀNH PHỐ HỘI AN - Pdf 33

TRƯỜNG CAO ĐẲNG ĐỨC TRÍ
KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC – MÔI TRƯỜNG

NGÔ THỊ TRÀ MY
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ
CỦA QUẦN THỂ DỪA NƯỚC TẠI XÃ
CẨM THANH, THÀNH PHỐ HỘI AN
Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÀ NẴNG, 2011
1
TRƯỜNG CAO ĐẲNG ĐỨC TRÍ
KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC – MÔI TRƯỜNG

NGÔ THỊ TRÀ MY
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ
CỦA QUẦN THỂ DỪA NƯỚC TẠI XÃ
CẨM THANH, THÀNH PHỐ HỘI AN
Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học: NGUYỄN THỊ GIA THẠNH
ĐÀ NẴNG, 2011
2
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập tại trường em đã tiếp thu rất nhiều kiến thức và khóa
luận này là thành quả của quá trình học tập và rèn luyện dưới sự dày công dạy bảo
của Quý Thầy Cô Trường Cao đẳng Đức Trí. Em xin gởi đến Quý Thầy Cô lời cảm
ơn chân thành, đặc biệt em xin cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô Nguyễn Thị Gia
Thạnh đã giúp em hoàn thành tốt bài khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn các chú trong Hội Nông Dân xã Cẩm Thanh đã tạo điều
kiện thuận lợi và giúp đỡ em trong suốt quá trình làm đề tài.
Với thời gian thực tập hạn hẹp và kinh nghiệm thực tế chưa nhiều nên không tránh

Hình 3.2 . Ranh giới hành chính xã Cẩm Thanh ở hạ lưu sông Thu Bồn và vị trí phân
bố của dừa nước.
Hình 3.3. Hoa và quả Dừa nước
Hình 3.4 . Chuyển diện tích rừng Dừa nước thành ruộng nuôi tôm
Hình 3.5. Khai thác thủy sản và rong câu từ rừng Dừa nước
Hình 3.6. Vật liệu xây dựng làm từ lá dừa nước
Hình 3.7. Nhà du lịch được làm từ Dừa nước
Hình 3.8. Khai thác hàu trong rừng Dừa nước
Hình 3.9. Vai trò môi trường của rừng Dừa nước đối với các rạn san hô ở Cù Lao
Chàm
7
MỞ ĐẦU
Trải dài trên nhiều vĩ tuyến và có khí hậu thay đổi từ Bắc đến Nam, hệ sinh
thái rừng Việt Nam, nhất là rừng ngập mặn (RNM) có tính đa dạng sinh học rất cao.
Rừng ngập mặn là hệ sinh thái có năng suất cao ở vùng cửa sông ven biển nhiệt đới
nhưng rất nhạy cảm với các tác động của con người và thiên nhiên. RNM không
những cung cấp các lâm sản có giá trị như gỗ, than, củi,… mà còn là nơi sống và
ươm giống của nhiều loài hải sản, chim nước. Ngoài ra, RNM còn có tác dụng to lớn
trong việc bảo vệ bờ biển, bờ sông điều hòa khí hậu, hạn chế xói lỡ, mở rộng diện
tích lục địa,…bảo vệ nơi sống của người dân ven biển trước sự tàn phá của gió mùa,
bão, nước biển dâng. Tuy nhiên, chiến tranh và sức ép dân số đã làm cho những thảm
thực vật RNM ở Việt Nam suy thoái nghiêm trọng.
Ở Quảng Nam hệ sinh thái dừa nước có vai trò quan trọng đối với môi trường
và sinh vật. Tuy nhiên, trong những năm gần đây diện tích rừng ngập mặn ở ven biển
Cẩm Thanh ( Hội An) mất dần do việc khai thác nguyên liệu dừa nước một cách ồ ạt
để phát triển làng nghề và đào ao nuôi tôm, cua, cá, đã tạo điều kiện cho sự xâm
nhiễm nước mặn vào đất liền diễn ra rất nhanh, thúc đẩy quá trình xói lỡ, gây ô
nhiễm đất và nguồn nước [11]. Đặc biệt, trong bối cảnh sự biến đổi khí hậu (BĐKH)
đang diễn ra nhanh chóng trên quy mô toàn cầu, trong khi Việt Nam được dự báo là
một trong 5 quốc gia trên thế giới sẽ hứng chịu hậu quả nặng nề nhất do thảm họa này

với nhiều loài động vật trên cạn mà cuộc sống gắn liền với bãi triều thì RNM là nơi
tập trung để kiếm thức ăn.
1.1.2.2. Duy trì nguồn dinh dưỡng cho sự phát triển các loài sinh vật
RNM hàng năm cung cấp một sản lượng rơi rụng khá lớn để làm giàu cho môi
trường đất rừng và vùng cửa sông ven biển. Ngoài các chất thải bã, xác chết của các
loài động vật, lượng rơi rụng của bản thân cây rừng được đánh giá vào khoảng 8-20
tấn/ha, trong đó 79,7% là lá. Những sản phẩm này một phần có thể sử dụng trực tiếp
bởi một số ít loài động vật, một phần nhỏ nằm dưới dạng chất hữu cơ hòa tan cung
cấp cho một số loài dinh dưỡng bằng con đường thẩm thấu. Phần chủ yếu còn lại
chuyển thành nguồn thức ăn phế liệu hay cặn vẩn để nuôi sống các loài động vật ăn
mùn bã thực vật .
1.1.2.3. RNM là nơi nuôi dưỡng ấu trùng, ấu thể các hải sản
9
RNM không những là nguồn cung cấp thức ăn mà còn là nơi cư trú, nuôi
dưỡng con non của nhiều loài thủy sản có giá trị, đặc biệt là các loài tôm sú, tôm biển
xuất khẩu. Trong vòng đời của một số lớn các loài cá, tôm, cua,… có một hoặc nhiều
giai đoạn bắt buộc phải sống trong các vùng nước nông, cửa sông có RNM. Ví dụ
điển hình là vòng đời của loài tôm thẻ (Penaeus merguiensis). Loài tôm này có tập
tính đẻ ở biển, cách xa bờ chừng 12 km, do tác động của dòng nước và thay đổi của
nước triều, sau khi trứng thụ tinh, ấu trùng chuyển vào vùng nước ven bờ, bơi dần
vào cửa sông theo nước triều lên, thường tìm những vùng nước nông có giá bám như
bụi cỏ, rễ cây,… sau đó đi sâu vào kênh rạch RNM. Chúng sinh trưởng và phát triển
ở đó cho tới khi thành thục, thường từ 3 – 4 tháng. Ở giai đoạn trưởng thành thì
chúng lại bắt đầu di cư ra biển để đẻ. RNM ở đây vừa là nơi bảo vệ vừa là nơi nuôi
dưỡng con non.
Với vai trò vừa là nơi bảo vệ, nuôi dưỡng con non, con giống vừa cung cấp
thức ăn, RNM đóng góp một cách đáng kể vào sản lượng thủy sản.
1.1.2.4. Nơi bảo tồn nguồn gen của các loài động vật trên cạn
RNM có vai trò quan trọng không kém gì rừng nội địa đồng thời là nơi lưu trữ
những loài động vật quý hiếm mà trên cạn không có như cá sấu nước, hổ Bengal.

Ví dụ: Ở huyện Thái Thụy – Thái Bình có hai tuyến đê số 7 dài 45,1 km, đê số 8 dài
41,5km bao quanh huyện. Hầu hết hai tuyến đê này được xây dựng từ lâu đời, việc
đắp đê chủ yếu bằng lao động thủ công nhưng cơn bão số 6 và số 7 năm 2005 đúng
lúc triều cường sóng lớn nhưng các tuyến đê ở Thái Thụy không bị xói lở đó là nhờ
dải RNM với diện tích 4.564 ha rừng với độ rộng 800 đến 1.300 mét. Độ cao cây
trung bình từ 2,5 đến 3 mét với các loài cây: sú vẹt, đước, trang.
Khi RNM chưa bị phá thì quá trình xâm nhập mặn diễn ra chậm, phạm vi hẹp,
vì khi thủy triều cao nước đã lan tỏa vào trong những khu RNM có hệ thống rễ cây
dày đặc đã làm giảm tốc độ dòng chảy, tán cây hạn chế tốc độ gió. Nhưng hiện nay,
hầu hết RNM ven biển đã bị phá để làm ruộng sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là đắp
những dãy bờ lớn để làm đầm nuôi tôm quảng canh làm thu hẹp phạm vi phân bố của
nước triều ở ven biển, cưả sông. Do đó, nước mặn theo dòng triều lên được gió mùa
hỗ trợ đã vào sâu trong các dòng sông trong đất liền với tốc độ lớn, kèm theo sóng,
gây ra xói lở bờ sông và các chân đê. Nước mặn còn thẩm thấu qua chân đê vào đồng
ruộng, làm năng suất bị giảm, thiếu nước ngọt, ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt.
1.1.2.7. Điều hòa khí hậu, tích tụ cacbon
Rừng ngập mặn có vai trò điều hòa khí hậu, Theo Blasco (1975) nghiên cứu
khí hậu và vi khí hậu rừng, đã có nhận xét: các quần xã RNM là một tác nhân làm
cho khí hậu dịu mát hơn, giảm nhiệt độ tối đa và biên độ nhiệt.
Hệ sinh thái RNM giúp cân bằng O
2
và CO
2
trong khí quyển, điều hoà khí hậu
địa phương (nhiệt độ, lượng mưa) và giảm thiểu khí nhà kính. Theo Lê Xuân Tuấn và
cộng sự, 2005, hàm lượng CO
2
của nước ở trong rừng (7,38mg/l) thấp hơn nơi không
có rừng (7,63mg/l). Lượng cacbon tích tụ trên bề mặt đến độ sâu 100cm khoảng từ
71- 82 tấn cacbon/ha. Nhờ các tán lá hút CO

thế giới chia thành hai khu vực chính là khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương bao gồm
Nam Nhật Bản, Philippin, Đông Nam Á, Ấn Độ, bờ biển Hồng Hải, Đông Phi, Úc,
NewZealand, các đảo phía Nam Thái Bình Dương kéo dài tới quần đảo Xamoa và
khu vực Tây Phi – Châu Mỹ bao gồm bờ biển Châu Phi ở Đại Tây Dương, quần đảo
Galapagos và Châu Mỹ, khu vực Ấn Độ - Malaysia được xem là trung tâm phân bố
các loài ngập mặn. Các vùng RNM phồn thịnh nhất ở Đông Nam Á bao gồm:
Malaysia, Indonesia, Việt Nam.
1.1.4.2. Phân bố rừng ngập mặn ở Việt Nam
12
Theo Phan Nguyên Hồng, hệ sinh thái rừng ngập mặn nước ta gồm có 77 loài
cây ngập mặn thuộc 2 nhóm được phân chia theo các điều kiện môi trường và dạng
sống khác nhau.
Nhóm 1 có 35 loài cây ngập mặn thuộc 20 chi của 16 họ, nhóm này thường được gọi
là cây ngập mặn “thực thụ”.
Nhóm 2 có 42 loài thuộc 36 chi của 28 họ, nhóm này bao gồm các loài cây “gia
nhập” . Sự phân bố địa lí rừng ngập mặn khác nhau giữ miền Bắc với miền Nam . Ở
miền Nam có 69 loài trong khi ở miền Bắc chỉ có 34 loài. Sự phân bố, độ nhiều của
các loài thực vật ngập mặn ven biển Việt Nam cho thấy phần lớn đều nằm ở ven biển
Nam Bộ, rồi đến Bắc Bộ và miền Trung.
Theo Phan Nguyên Hồng thì RNM Việt Nam được chia thành 4 khu vực bao gồm:
Khu vực I: Ven biển Đông Bắc, từ mũi Ngọc đến mũi Đồ Sơn
Khu vực II: Ven biển đồng bằng Bắc Bộ từ mũi Đồ Sơn đến cửa Lạch Trường
Khu vực III: Ven biển miền Trung từ cửa Lạch Trường đến mũi Vùng Tàu
Khu vực IV: Ven biển Nam Bộ, từ mũi Vũng Tàu đến Hà Tiên
1.1.5. Tình hình RNM trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.5.1. Tình hình RNM trên thế giới
Trên thế giới RNM phân bố chủ yếu ở các vùng cửa sông, ven biển nhiệt đới
và một vài loài ở vùng á nhiệt đới. Theo đánh giá của Hutchings và Seaneg (1987) thì
diện tích RNM trên thế giới là 15.429.000 ha, trong đó 6.246.000 ha nằm ở vùng
Châu Á nhiệt đới và Châu Đại Dương, 5.781.000 ha nằm ở vùng Châu Mỹ nhiệt đới

Ở Việt Nam, RNM là những căn cứ quan trọng của hai cuộc chiến tranh chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Chính vì thế, mà quân đội Mỹ đã dùng bom đạn và chất độc hóa học, chất diệt cỏ và
chất làm rụng lá cây với liều lượng cao để hủy diệt rừng. Theo kết quả điều tra của
viện điều tra quy hoạch rừng, đối chiếu với kết quả điều tra của một số địa phương,
bước đầu tính ra được diện tích RNM Nam Bộ bị rải chất diệt cỏ là 159.200 ha.
1.1.6.2. Khai thác quá mức
Miền Nam sau chiến tranh nhân dân ven biển trở về quê cũ cùng với sự di dân
ồ ạt từ nhiều nơi khác đến vùng RNM cùng với nhu cầu về xây dựng, củi, than đun
nấu tăng. Mặt khác, việc khai thác của ngành lâm nghiệp tăng hàng năm. Có một thời
gian nhân dân đua nhau làm các lò than gia đình đem ra các tỉnh khác bán đã phá hủy
các khu rừng quí giá kể cả rừng mới trồng sau chiến tranh.
1.1.6.3. Phá RNM để làm đầm nuôi tôm quảng canh
Do nhu cầu về tôm xuất khẩu lớn vào những năm cuối thập kỷ 80 và đầu thập
kỷ 90, ở hầu hết vùng ven biển, cửa sông nước ta, nhân dân và các cơ quan đã phá
những khu rừng ngập mặn xanh tốt để làm đầm nuôi tôm quảng canh thô sơ. Ở nhiều
địa phương RNM đã biến mất còn lại các đầm tôm và đất hoang hóa.
1.1.6.4. Phá RNM lấy đất sản xuất nông nghiệp
14
Do tăng dân số quá nhanh, thiếu lương thực nên nhiều địa phương đã phá
RNM để lấy đất sản xuất nông nghiệp hậu quả là thiếu nước ngọt, năng suất cây
trồng thấp hoặc không thu hoạch được.
Ví dụ: Vào đầu những năm 1960, tỉnh Quảng Ninh có chủ trương phá hơn 2.000 ha
RNM tự nhiên ( ở xã Hải Lạng – Tiên Yên) đắp đê sản xuất nông nghiệp nhưng
không có nước tưới buộc phải bỏ hoang sau chuyển sang nuôi thủy sản cũng không
thành công.
1.1.6.5. Phá rừng ngập mặn làm đồng muối
Do dân số tăng nhanh, thiếu việc làm nhân dân một số nơi đã phá RNM để
làm ruộng muối, kể cả rừng phòng hộ như Thụy Nguyên, Kiến Thụy( Hải Phòng),
Vĩnh Châu ( Sóc Trăng). Ở Minh Hải có 9,067 ha ruộng muối trải dài trên 59 km bờ

vào các khu RNM giảm đã ảnh hưởng lớn đến các hoạt động sinh lý của các loài
động thực vật nhất là vào mùa sinh sản. Sự thay đổi dòng chảy lưu lượng trong sông
kết hợp với tác động của gió nùa đông bắc đã đưa nước mặn vào sâu trong đất liền
gây ra nhiễm mặn, mặt khác làm thay đổi quá trình bồi lỡ.
1.1.6.9. Ô nhiễm môi trường
Hệ sinh thái RNM ở vùng cửa sông ven biển chịu ảnh hưởng nặng nề của việc
thải bừa bãi các chất rắn, chất lỏng trong sinh hoạt và công nghiệp. Đặc biệt là ô
nhiễm dầu đã và đang làm cho một số cây ngập mặn và sinh vật đáy chết.
1.1.7. Tình hình nghiên cứu cây Dừa nước
Dừa nước (DN) phân bố rộng rãi trong RNM các nước châu Á và bờ biển
Đông Châu Phi. Lá của chúng dài từ 3 – 9 mét, phần thân ngầm bò, ngắn với hệ
thống rể chùm. Dừa nước thường phân bố dọc theo các bờ sông thành những dãy dài,
chúng rất cần chế độ ngập nước theo thủy triều.
Người dân Bangladesh trồng dừa nước thành ruộng để dùng cho nhu cầu làm nhà.
DN phát triển ở các vùng nước ngọt và nước biển nơi có tác động của thuỷ triều.
Nhiều dân tộc biết khai thác đa dạng các sản phẩm từ DN như chế tạo đường từ dịch
chiết của buồng DN. Đây là công nghệ rất lý thú ở vùng quê của Dawei Township
(Thái Lan). Trong tiến trình chế tạo đường từ DN, trước tiên là cuống buồng DN sẽ
được cắt, sau đó dùng ống tre hứng phía dưới cuống buồng quả qua 1 đêm để lấy
nước nhựa từ cuống chảy ra. Sáng hôm sau ống tre sẽ đầy nước dừa và được thu
hoạch. Nước quả này sẽ được lọc rồi đun sôi trong chảo rộng. Khi sôi sẽ được vớt bọt
để làm nước đường sạch hơn. Sau khi đun sôi 3 giờ, nước quả này sẽ keo lại, để
nguội và thu được đường từ DN. Cuối cùng các ống tre sẽ được rửa sạch và được
xông khói để dùng cho việc thu thập nước quả DN vào ngày mai, và cứ lặp lại như
vậy [2].
Các nghiên cứu riêng về dừa nước ở Việt Nam hiện vẫn còn rất ít.
Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Đại (Viện Hải dương học, 2006) đánh giá tài nguyên
đất ngập nước hạ lưu sông Thu Bồn và đề xuất giải pháp bảo vệ, phục hồi. Tác giả đã
nghiên cứu vùng đất ngập nước (RNM, thảm cỏ biển) tại Hội An và một số địa
phương lân cận như Duy Xuyên, Điện Bàn. Tại Hội An, đã xác định RNM ở Hội An

1.2. Diễn thế sinh thái
1.2.1. Khái niệm diễn thế sinh thái
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status