nghiên cứu đánh giá hiện trạng các loài thú nguy cấp và đề xuất giải pháp bảo tồn tại khu bảo tồn thiên nhiên thần sa-phượng hoàng - Pdf 22


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM PHẠM ANH TUẤN NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG
CÁC LOÀI THÚ NGUY CẤP VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
BẢO TỒN TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
THẦN SA - PHƢỢNG HOÀNG, THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: LÂM HỌC
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
TS. ĐỒNG THANH HẢI
TS. NGUYỄN VĂN THÁI

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng các
loài thú nguy cấp và đề xuất giải pháp bảo tồn tại khu Bảo tồn thiên
nhiên Thần Sa-Phƣợng Hoàng” ngoài sự nỗ lực của bản thân, tác giả còn
nhận được sự giúp đỡ tận tình của Khoa sau đại học - trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên. Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các
thầy giáo Tiến sỹ Đồng Thanh Hải và Tiến sỹ Nguyễn Văn Thái đã trực
tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài này.
Ngoài ra, tác giả xin cảm ơn chân thành sự giúp đỡ của Lãnh đạo Chi
cục Kiểm lâm Thái Nguyên, các Thầy giáo bộ môn động vật rừng - trường
Đại học Lâm nghiệp và tập thể cán bộ nhân viên Ban quản lý Khu bảo tồn
thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng. Ủy ban nhân dân các xã Thượng Nung, Thần
Sa, Vũ Chấn, Sảng Mộc, Nghinh Tường, nhân dân địa phương tại khu vực nghiên
cứu và bạn bè. Tác giả xin được cảm ơn tới những người thân trong gia đình
đã động viên, chia sẻ, giúp đỡ tác giả cả về tinh thần và vật chất để hoàn
thành đề tài này.
Đến nay, đề tài đã hoàn thành. Cho phép tác giả được bày tỏ lòng trân
trọng cảm ơn sâu sắc tới toàn thể sự giúp đỡ quý báu đó.
Do thời gian nghiên cứu cũng như trình độ bản thân còn hạn chế nên đề
tài không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Kính mong được sự đóng
góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để đề tài này được
hoàn chỉnh hơn.
Tác giả xin cam đoan số liệu trong đề tài là số liệu thu thập thực tế, nếu
có sai sót gì tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 19 tháng 9 năm 2010
Học viên thực hiện Phạm Anh Tuấn



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

iv
2.2.1. Dân số, lao động và dân tộc 19
2.2.2. Thực trạng kinh tế 19
2.2.3. Thực trạng cơ sở hạ tầng xã hội 19
2.3. Đặc điểm đa dạng sinh học 20
2.3.1. Đa dạng hệ sinh thái 20
2.3.2. Đa dạng thảm thực vật 21
2.3.3. Đa dạng hệ động vật 22
Chƣơng 3: MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 24
3.1. Mục tiêu 24
3.2. Đối tượng nghiên cứu 24
3.3. Phạm vi nghiên cứu 24
3.4. Nội dung 24
3.5. Phương pháp nghiên cứu 25
3.5.1. Phương pháp điều tra thành phần loài 25
3.5.2. Phân chia sinh cảnh và xác định phân bố của các loài 30
3.5.3. Các mối đe dọa 31
3.5.4. Đánh giá giá trị của thú tại khu vực nghiên cứu 33
3.5.5. Phương pháp nội nghiệp 33
Chƣơng 4: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 34
4.1. Thành phần các loài thú nguy cấp 34
4.2. Phân bố thú theo các dạng sinh cảnh trong khu vực nghiên cứu 41
4.2.1. Kiểu phụ rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới trên đất xương xẩu đá vôi 41
4.2.2. Kiểu phụ rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới trên đất xương
xẩu núi đá vôi 43
4.2.3. Kiểu phụ trảng cây to, cây bụi, khô nhiệt đới trên núi đất 44
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Từ viết tắt
Ý nghĩa
BQL
Ban quản lý
CCKL
Chi cục Kiểm lâm
FIPI
Viện điều tra qui hoạch rừng
KBTTN
Khu bảo tồn thiên nhiên
TS – PH
Thần Sa – Phượng Hoàng
PVĐTQH
Phân viện điều tra qui hoạch Tây Bắc Bộ
VND
Việt Nam Đồng
FFI

Fauna & Flora International.
(Tổ chức bảo tồn động thực vật hoang dã quốc tế)
IUCN
The International Union for Convervation of Nature.
(Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế )

sinh cảnh 49
Bảng 4.4: Kết quả đánh giá các mối đe dọa 67
Bảng 4.5: Giá trị nguồn gen các loài thú nguy cấp tại khu BTTN Thần Sa -
Phượng Hoàng 70
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1: Dựng lán ngủ trong rừng (Phạm Anh Tuấn) 27
Hình 3.2: Tuyến điều tra khu vực Lũng Khà - Thần Sa (Phạm Anh Tuấn) 28
Hình 3.3: Bản đồ phân bố các tuyến điều tra 30
Hình 4.1: Nơi ở của Vọoc đen má trắng tại khu vực Lũng Khà to xã Thần Sa 36
Hình 4.2: Khỉ Mốc tại Núi Tam Tu (Phạm Anh Tuấn) 37
Hình 4.3: Hươu xạ bị thợ săn người H’mông bẫy bắt (Phạm Anh tuấn) 39
Hình 4.4: Kiểu phụ rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới trên đất xương xẩu đá vôi 42
Hình 4.5: Kiểu phụ rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới trên đất xương
xẩu núi đá vôi.(Phạm Anh Tuấn) 43
Hình 4.6: Kiểu phụ trảng cây to, cây bụi, khô nhiệt đới trên núi đất 45
Hình 4.7: Kiểu phụ trảng cây bụi, cỏ cao khô nhiệt đới trên đất xương xẩu núi
đá vôi. (Phạm Anh Tuấn) 45
Hình 4.8: Kiểu phụ rừng kín thường xanh ẩm á nhiệt đới trên đất xương xẩu
đá vôi. (Phạm Anh Tuấn) 47
Hình 4.9: Kiểu phụ rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đất. 48
Hình 4.10: Bản đồ phân bố các loài thú nguy cấp theo kết quả điều tra tuyến 50
Hình 4.11: Bản đồ phân bố của Bộ Linh Trưởng theo kết quả phỏng vấn 51
Hình 4.12: Bản đồ phân bố của Bộ Móng Guốc theo kết quả phỏng vấn 51

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đồng hành với việc mất rừng tự nhiên là suy giảm tính đa dạng sinh học,
giảm sức sản xuất của đất đai, của hệ sinh thái và gây hiệu ứng nhà kính.
Trong tương lai con người sẽ bị đe dọa khi tình trạng suy thoái tài nguyên vẫn
tiếp tục và những người nghèo sẽ phải gánh chịu những ảnh hưởng bất lợi của
quá trình (Amith,1997). Có nhiều nguyên nhân gây ra sự suy giảm trên,
nhưng chủ yếu là do các hoạt động của con người tác động tới: Khai thác lâm
sản, khai phá rừng làm đất nông nghiệp, phát triển các khu dân cư, cháy rừng
và sự yếu kém trong công tác quản lý. Cùng với sự suy giảm diện tích rừng tự
nhiên, môi trường sống của động vật hoang dã bị thu hẹp, ảnh hưởng đến chất
lượng và số lượng của các quần thể động vật hoang dã, trong đó có nhiều loài
động vật đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng.
Khu hệ thú đóng một vai trò quan trọng trong hệ sinh thái rừng, chúng
ảnh hưởng đến cấu trúc của thảm thực vật, chu trình dinh dưỡng và thành
phần loài, từ đó chúng sẽ tác động đến chức năng của hệ sinh thái và tính đa
dạng sinh học. Đây cũng là đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất với bất kể sự thay
đổi nào của sinh cảnh nơi cư trú. Chính vì vậy, các loài thú được coi là các
loài chủ yếu trong hoạt động quản lý và bảo tồn động vật hoang dã, đặc biệt
các loài thú lớn. Điều này có nghĩa là nếu các loài thú này được quản lý và
bảo vệ tốt thì các loài sinh vật khác trong quần xã cũng sẽ được bảo vệ.
Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng, huyện Võ Nhai, tỉnh
Thái Nguyên nằm trong vùng núi đá miền Bắc Việt Nam Được đánh giá là
một trong những khu bảo tồn có tính đa dạng sinh học cao ở Việt Nam. Theo
thống kê trong báo cáo xây dựng dự án xác lập khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa
- Phượng Hoàng, hệ động vật ở đây đặc trưng cho hệ động vật trên núi đá vôi
vùng Đông Bắc Việt Nam. Kết quả khảo sát sơ bộ đã thống kê được 295 loài
thuộc 93 họ, 30 bộ, và 5 lớp động vật có xương sống. Trong đó, một số loài là
đặc hữu của vùng và Việt Nam.



3
Chƣơng I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về lớp thú
Lớp Thú tên khoa học là Mammalia, gồm những loài có tổ chức cao nhất
trong các lớp động vật có xương sống. Chúng có thân nhiệt cao và ổn định.
Hệ thần kinh rất phát triển, đặc biệt là lớp vỏ xám của não bộ. Đẻ con và nuôi
con bằng sữa. Trong một số tài liệu tiếng Việt khác gọi là (lớp) động vật có
vú (động vật hữu nhũ), vì đặc điểm của chúng là có nhiều tuyến vú dưới da
ngực, tiết ra sữa để nuôi con mới sinh. Ngoài ra động vật thuộc lớp này có 3
xương nhỏ trong tai, da có lông, răng và não phát triển cao cấp hơn những
loài lớp khác, tim có 4 thất, và máu nóng.
1.1.1 Lớp Thú có 3 dạng chính do thích nghi với môi trƣờng sống
Dạng có đầu, mình, cổ và đuôi phân biệt rõ ràng: Dạng này chiếm đa số
các loài trong lớp thú, các loài này chủ yếu là sống trên cạn. Ví dụ: Mèo, Thỏ,
Trâu, Bò
Dạng có cánh: Dạng này thích nghi với môi trường sống không khí, có khả
năng bay lượn. Giữa các ngón của chi, có lớp da, y như cánh của các loài chim, Ví
dụ: Dơi Hoặc màng da nối chi trước với cổ, chi sau. Ví dụ: Chồn bay
Dạng thích nghi bơi lội: Cơ thể có các chi biến đổi thành các vây. Lớp da
thì trở nên trơn, bóng hơn. Ví dụ: Cá voi, Cá heo, và một số khác
1.1.2 Môi trƣờng sống
Thú có khả năng điều hòa thân nhiệt tốt, giúp cho thân nhiệt luôn ở mức
cao và ổn định (đa số loài thú có thân nhiệt ổn định từ 36 - 38
o
c). Điều này
giúp thú ít bị lệ thuộc vào các điều kiện khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm) như các lớp
có xương sống thấp và do đó có khả năng sinh sống ở nhiều điều kiện môi
trường khác nhau.

cũng đi ăn đêm nhưng có khi ra ăn cả ban ngày nếu chúng phát hiện ra con
mồi. Khoảng thời gian hoạt động thực sự phụ thuộc vào chu kỳ trăng (thú
không hoạt động khi trăng sáng). Một số loài chuyên ăn côn trùng (Đồi,…),
ăn cá (Rái cá, thú biển,…), ăn chim (Chồn vàng, Triết,…) đi ăn ngày.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

5
Các loài thú ăn thực vật thường hoạt động ban ngày (diurnal) như các
loài Sóc, Khỉ, Vượn, Nai, Hoẵng. Một số ít loài thú ăn thực vật vì lý do tự vệ
(đi ăn đơn độc, nơi đi ăn gần người qua lại,…) chuyển sang hoàn toàn ăn đêm
(Chuột đồng, Cầy vòi hương, Nhím, Don,…) hoặc một phần ăn đêm (Nai,
Hoẵng,…).
Chu kỳ hoạt động mùa: các loài thú ôn đới có hiện tượng ngủ đông khi
thức ăn trở nên khan hiếm trong mùa lạnh. Chỉ một số loài thú (Dơi,…) có
hiện tượng ngủ đông, nhưng là do tính di truyền do các loài này thuộc vùng
ôn đới hoặc núi cao.
1.1.6 Di cƣ
Một số loài thú có hiện tượng di cư vì thiếu thức ăn. Nhiều loài dơi ở
phía Bắc tới mùa lạnh di cư về phía Nam, nơi có nhiều côn trùng hơn. Một số
loài như Hổ, Voi rừng,… khi điều kiện sinh cảnh cho phép có thể di cư từ
vùng này sang vùng khác cách xa nhau hàng trăm kilômét để kiếm ăn.
1.1.7 Vùng lãnh thổ
Nhiều loài thú có tập tính chiếm cứ một diện tích sinh cảnh nhất định
làm vùng lãnh thổ là nơi trú và hoạt động của đàn nhiều cá thể cùng loài.
Vùng lãnh thổ của mỗi đàn hoặc cá thể phụ thuộc vào kích thước cơ thể của
loài, số lượng cá thể trong đàn, tập tính hoạt động của loài và độ phong phú
của thức ăn, nước uống trong môi trường.[3]
1.2. Lƣợc sử nghiên cứu khu hệ thú ở Việt Nam
1.2.1. Thời kỳ trƣớc năm 1945

Baurae (1900), Huede (1901), Anonyme (1902), Bonhote J.L (1903, 1907),
Dauplay J (1908), O. Thomas (1909, 1912, 1925, 1929).
Từ năm 1925- 1930 J. Delacour đã tiến hành sưu tập mẫu thú ở Bắc Bộ,
Trung Bộ và một số vùng ở Nam Bộ.
Trong 2 năm 1923-1924, Herbert Steven (Mỹ) đã tiến hành sưu tập thú
Bắc Bộ, tập trung chủ yếu ở Yên Bái; F.R Wulsin sưu tầm thú ở Lai Châu vào
năm 1924.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

7
Năm 1932, H.Osgood đã tập hợp tất cả những tài liệu của các tác giả trên
và đưa ra thông báo chung về thú và đã thống kê 172 loài và phân loài. Đây là
tài liệu có giá trị về nghiên cứu phân loài và khu hệ thú ở Việt Nam.
1.2.2. Thời kỳ 1945 đến 1954
Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945-1954) hoạt động
nghiên cứu về thú ở Việt Nam bị gián đoạn. Trong những năm này nhiều nhà
khoa học Pháp đã dựa trên những tiêu bản, những ghi nhận thực địa để tổng
hợp công bố thêm về thú ở Việt Nam và Đông Dương.
1.2.3. Thời kỳ từ 1954 đến 1975
Ở Miền Nam, do bị đế quốc Mĩ chiếm đóng các hoạt động nghiên cứu
thú gần như bị đình trệ mãi đến những năm của thập kỷ 60. Đáng chú ý có
công trình của Vương Đình Sâm - Giáo sư Trường Nông-Lâm-Súc Sài Gòn
(1960-1970). Ông đã biên soạn giáo trình giảng dạy cho sinh viên của trường,
trong đó có phần “Thú lạp” mô tả nhiều loài thú thuộc các bộ Dơi, Gặm
nhấm, Linh Trưởng, Móng Guốc, Thú ăn thịt có ở miền Nam Việt Nam. Một
số nhà khoa học nước ngoài đã tiến hành khảo sát nghiên cứu các nhóm thú
có liên quan đến dịch tế học, chủ yếu là các loài thú thuộc bộ gặm nhấm
(Rodentia). Một số công trình đã công bố như: Van Peenen et al. (1967, 1969,
1970, 1971). Ducan et al. (1970, 1971). Công trình “Perliminary Idetification

ngoài (Zoologicheskii Zhurnal của Liên Xô cũ, ). Một số công trình tiêu
biểu như:
Năm 1968, Đặng Duy Huỳnh đã công bố một phần kết quả nghiên cứu về
thú ăn thịt và thú móng guốc miền bắc Việt Nam trong cuốn “Sinh học và sinh
thái các loài thú móng guốc ở Việt Nam” Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.
Năm 1973, trong cuốn sách “Thú kinh tế miền Bắc Việt Nam”, Lê Hiền
Hào đã giới thiệu một số đặc điểm sinh vật học chủ yếu và phân bố của những
loài thú kinh tế miền Bắc Việt Nam.
Trong thời kỳ này, các nhà khoa học đã thống kê được ở miền Bắc có
169 loài thú (202 phân loài) thuộc 32 họ và 11 bộ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
1.2.4. Thời kỳ từ 1975 đến nay
Các nghiên cứu về thú đặc biệt phát triển mạnh sau ngày miền Nam hoàn
toàn giải phóng. Công tác điều tra thống kê thành phần loài và đánh giá các
giá trị khu hệ thú của các địa phương trên toàn quốc. Nội dung chủ yếu tập
trung vào:
- Điều tra thống kê, đánh giá khu hệ và đánh giá giá trị khu hệ và tài
nguyên thú ở các địa phương phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế và bảo tồn
đa dạng sinh học.
- Nghiên cứu chuyên sâu về sinh học, sinh thái một số nhóm thú có giá
trị kinh tế cao hoặc có tầm quan trọng bảo tồn gen cao và xây dựng kế hoạch
quản lý, bảo tồn và sử dụng bền vững chúng.
Địa bàn nghiên cứu được mở rộng ra toàn quốc, đặc biệt là các tỉnh phía
Nam. Lực lượng nghiên cứu phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng,
bao gồm các Viện nghiên cứu (Viện điều tra qui hoạch rừng, Viện sinh học
nhiệt đới ), các trường Đại học trên cả nước (Đại học Lâm nghiệp, Đại học
Sư phạm Hà Nội ). Nhà nước đã có nhiều chương trình trọng điểm Quốc gia

“Danh lục các loài thú Việt Nam” của Đặng Ngọc Quân và cộng sự
(2008) thống kê 295 loài thú (298 loài và phân loài) thú thuộc 37 họ và 13 bộ
ở Việt Nam (không kể thú biển).
Bảng 1.1: Sự phân bố các taxon các bộ thú trong sách đỏ Việt Nam
STT
Bộ
Họ
Loài
1
Bộ cánh da - Dermoptera
1
1
2
Bộ Dơi - Chiroptera
2
7
3
Bộ linh trưởng - Primates
3
21
4
Bộ thú ăn thịt - Carnivora
4
24
5
Bộ có vòi - Proboscidea
1
1
6
Bộ móng guốc ngón lẻ - Perissodactyla


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
1.3. Đặc điểm địa động vật khu hệ thú hoang dã Việt Nam
Việt nam là một bộ phận của phân miền địa lý - động vật Đông Dương
(Indochinese subregion) thuộc miền địa lý động vật Phương Đông (Oriental
Region hay còn gọi Miền Ðịa lý - động vật Indômalai (Indomalayan
Region). Phân miền Ðông Dương (bao gồm Miama, Vân Nam, và Tứ Xuyên
của Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Việt nam, Campuchia, Đảo Hải Nam, Đài Loan,
quần đảo Ryukyu).
Theo Đào văn Tiến (1987) và Lê Vũ Khôi (2008) Việt Nam nằm trên
luồng di cư của hai luồng động vật từ Himalaya qua Vân Nam xuống và từ
Malaixia lên, có một khu hệ thú nói chung phong phú, đa dạng. Tính chất này
thể hiện ở mối quan hệ của khu hệ thú Việt Nam với các khu hệ thú lân cận.
Khu hệ thú Việt nam được cấu thành bởi các nhóm yếu tố động vật học:
Nhóm yếu tố Ấn Độ - Himalaia (gọi tắt là Himalaia) có ở miền Đông
Bắc Ấn Độ, Neepan, Mianma, Tây Bắc Vân Nam - Tứ Xuyên (Trung Quốc).
Nhóm này mang tính chất ôn đới núi cao.
Nhóm yếu tố Trung Hoa (chủ yếu là Hoa Nam, Trung Quốc) mang
tính chất cận nhiệt đới và có ở khu Đông Nam Vân Nam, Quảng Tây,
Quảng Đông và Phúc Kiến.
Nhóm yếu tố đặc hữu của Việt Nam (có thể có cả của Lào hoặc
Campuchia) có tính chất hỗn hợp về tính chất địa động vật học của vùng Bắc
Trung Bộ.
Căn cứ vào các yếu tố địa hình, địa mạo, khí hậu, môi trường sống, sự
phân bố của thảm thực vật và của các lớp động vật, một số nhà động vật học
Việt nam (Đào Văn Tiến, Đặng Huy Huỳnh, Cao Văn Sung, Lê Vũ Khôi ).
Việt Nam có thể chia thành 5 đơn vị địa lý động vật học sau đây:
Khu Đông Bắc: Khu đông bắc thuộc đơn vị địa - sinh học Bắc trung tâm

Pleistoxten dẫn tới chuyển hẳn khí hậu cận nhiệt đới của Miền Bắc sang khí
hậu cận nhiệt đới của Miền Nam hình thành nhiều ổ sinh thái mới, tạo điều

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
kiện cho sự phân hóa các loài động vật. Khu hệ thú gồm các dạng đặc trưng
sau: Sao la (Pseudoryx nghetinhensis), Mang lớn (Muntiacuv uquangensis),
Voọc Hà Tĩnh (Trachypithecus hatinhesis), Cầy bay (Cynocephalus
variegatus), Chà vá chân xám (Pygathrix cinereus), Thỏ vằn Đông Dương
(Nesolagus timminsi)
Xét chung toàn Miền Bắc Việt Nam (từ Bắc vào đến đèo hải Vân - Bạch Mã)
yếu tố Himalaia trội nhất rồi tới yếu tố đặc hữu, số yếu tố Trung Hoa và Malaixia
không lớn. Vì vậy có thể nói Miền Bắc Việt nam có khu hệ thú hỗn hợp gồm
các yếu tố cận nhiệt đới tiếp cận với các yếu tố ôn đới của khu Phương Bắc và
yếu tố nhiệt đới của khu Phương Nam. Khu hệ thú miền Bắc Việt Nam thuộc khu
hệ thú Bắc Trung tâm Đông Dương khác với khu hệ thú Miền Nam Việt nam
thuộc khu hệ thú Nam Trung tâm Đông Dương.
Khu Nam Trung Bộ và Tây Nguyên: Khu vực này bao gồm cao nguyên
Tây nguyên và cao nguyên Đà Lạt thuộc Nam trung tâm Đông Dương (South
Central Indochina bionit) có nhiều yếu tố Malaixia tiếp đến là yếu tố Ấn Độ,
còn yếu tố Trung Hoa ít. Các loài đặc trưng sau: Voọc bạc Đông Dương
(Trachypityhecus margarita), Bò xám (Bos porcinus), Bò rừng (Bos
javanicus), Hươu cà toong (Rucervus eldii), Hươu vàng (Axis porcinus), Cheo
cheo napu (Tragulus napu) Cheo cheo Việt nam (Tragulus versicolour) Voi
(Elephas Maximus) Chó rừng (Canis aureus)
Khu Nam Bộ (bao gồm cả Đồng bằng sông Cửu Long): Khu vực này bao
gồm vùng nam trung tâm Đông Dương mang nhiều yếu tố Malaixia, còn yếu
tố Ấn Độ và yếu tố Trung hoa ít. Các loài đặc trưng có: Tê Giác Java
(Rhinoceros sondaicus), Voọc bạc (Trachypithecus germaini), Voi (Elephas

6
Ít nguy cấp (LR)
5
7
Thiếu số liệu xếp bậc (DD)
8
1.5. Các mối đe dọa đối với khu hệ thú
Tài nguyên thú nước ta vốn rất phong phú, do nước ta là một nước nghèo
với 80% dân số sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp và Lâm nghiệp, đất
nước ta lại trải qua nhiều cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài và nhiều thiên tai
liên tục xảy ra nên để tồn tại bảo vệ và xây dựng đất nước, người dân Việt
Nam đã phải tận dụng hết mức nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước
trong đó có tài nguyên thú hoang dã.
Sau khi chiến tranh kết thúc, sự đói nghèo và dân số tăng nhanh cùng với
sự yếu kém trong quản lý bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên đã dẫn đến sự
khai thác lạm dụng tài nguyên sinh vật nói chung và nguồn lợi thú nói riêng
(khai thác bằng nhiều phương tiện mang tính hủy diệt, khai thác với sản lượng
lớn và liên tục vượt quá khả năng tự phục hồi của các quần thể ). Đồng thời

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

15
hủy hoại nghiêm trọng các sinh cảnh của các loài thú hoang dã (phá rừng để
lấy đất cấy trồng nông nghiệp, chiếm dụng đất rừng để phát triển các công
trình cơ sở hạ tầng hoặc phát triển các ngành sản xuất kinh doanh khác ). Kết
quả là tài nguyên thú nước ta giảm sút nghiêm trọng với nhiều loài có giá trị
kinh tế cao đã bị tuyệt chủng hay đứng trước bờ vực diệt vong. Những loài
khác thì có số lượng giảm nhiều so với số lượng trước đây. [3]
1.6. Nghiên cứu về khu hệ thú tại Khu BTTN Thần Sa - Phƣợng Hoàng
Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng, huyện Võ Nhai, tỉnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status