BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN NGHIÊN CỨU HẢI SẢN
224 Lê Lai, Hải Phòng BÁO CÁO
TỔNG KẾT KHOA HỌC KỸ THUẬT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ NGUỒN LỢI SỨA VÙNG VEN BIỂN
VIỆT NAM, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ
(Đề tài độc lập cấp Bộ) Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Dương Thạo
9211
(Đề tài độc lập cấp Bộ)
Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Dương Thạo
Hải Phòng, tháng 12 năm 2011
© Bản quyền thuộc Viện Nghiên cứu Hải sản.
Đơn xin sao chép toàn bộ hoặc từng phần tài liệu này phải được gửi đến Viện
trưởng VNCHS trừ trường hợp sử dụng bởi mục đích nghiên cứu.
BNN&PTNT
VNCHS
BNN&PTNT
VNCHS
BNN&PTNT
VNCHS
i
DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN CHÍNH ĐỀ TÀI
TT Họ và tên Cơ quan công tác
1 TS. Nguyễn Dương Thạo Viện Nghiên cứu Hải sản, Bộ NN&PTNT
2 ThS. Nguyễn Công Thành - nt -
tế quan trọng, chưa có được số liệu
về nguồn lợi và hiện trạng khai thác Sứa ở
vùng ven biển Việt Nam.
Đề tài “Nghiên cứu, đánh giá nguồn lợi Sứa vùng ven biển Việt Nam, đề
xuất giải pháp khai thác và bảo vệ” được thực hiện từ tháng 1/2009 - 12/2011.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là toàn bộ vùng ven biển Việt Nam từ độ sâu 30m
trở vào bờ. Mục tiêu chính của đề tài là đánh giá được nguồn lợi và hiện trạng
khai thác nhóm Sứ
a kinh tế (chủ yếu là Sứa trắng, Sứa rô, Sứa đỏ,…) ở vùng ven
biển Việt Nam, đề xuất được các giải pháp về quản lý, khai thác hợp lý và bảo vệ
nguồn lợi Sứa biển.
Các phương pháp điều tra, nghiên cứu, tính toán mà đề tài sử dụng là
chuyên ngành, theo các quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn của quốc gia, của ngành
thủy sản.
Kết quả nghiên cứu của đề tài đã xác định được thành phần, phân b
ố, trữ
lượng, mùa vụ và khả năng khai thác 4 loài Sứa kinh tế quan trọng ở vùng ven
biển nước ta là Sứa trắng (Rhopilema hispidum), Sứa rô (Crambione
mastigophora), Sứa đỏ (Rhopilema esculentum) và Sứa Lobonema smithii; đã xác
định được 4 yếu tố sinh thái của môi trường có liên quan từ tương đối mật thiết
đến mật thiết với nguồn lợi Sứa biển; đó là nhiệt độ không khí, nhiệt độ nước
biể
n, độ muối nước biển và số lượng động vật phù du. Đề tài đã tiến hành điều
tra, đánh giá được hiện trạng khai thác Sứa ở các tỉnh ven biển Việt Nam, đánh
giá được hiệu quả kinh tế của các đội tàu và các nghề khai thác; tìm hiểu ảnh
hưởng của Sứa đối với hoạt động du lịch - tắm biển. Dựa trên kết quả điều tra,
nghiên cứu,
đề tài đã đề xuất được các giải pháp khai thác hợp lý và bảo vệ
nguồn lợi Sứa biển, đề xuất các biện pháp hạn chế tác hại của Sứa và bảo đảm an
toàn cho du khách khi tắm biển.
MÙA KHAI THÁC
23
5.1.1. Khí tượng - thủy văn
23
5.1.2. Môi trường nước biển
25
5.1.2.1. Các thông số môi trường cơ bản
25
5.1.2.2. Hàm lượng N-NO
2
-
, N-NO
3
-
, N-NH
4
+
29
5.1.2.3. Hàm lượng P-PO
4
3-
30
5.1.2.4. Hàm lượng Si-SiO
3
2-
30
5.1.2.5. Hàm lượng tổng nitơ (T-N), tổng phôtpho (T-P)
48
5.2.3.2. Phân bố nguồn lợi
51
5.3. TRỮ LƯỢNG, MÙA VỤ, KHẢ NĂNG KHAI THÁC CÁC LOÀI SỨA
KINH TẾ Ở VÙNG VEN BIỂN VIỆT NAM
58
5.3.1. Trữ lượng
58
5.3.2. Mùa vụ
59
5.3.3. Khả năng khai thác
60
5.4. MỐI LIÊN QUAN GIỮA MỘT SỐ YẾU TỐ KHÍ TƯỢNG, HẢI DƯƠNG,
THỦY SINH VẬT VỚI NGUỒN LỢI SỨA
62
5.4.1. Phân tích tương quan
62
5.4.2. Phân tích hồi quy
63
5.5. HIỆN TRẠNG KHAI THÁC SỨA Ở CÁC TỈNH VEN BIỂN VIỆT NAM 64
5.5.1 Cơ cấu đội tàu khai thác
64
5.5.2. Đặc điểm mùa vụ và ngư trường khai thác
67
5.5.2.1. Ven biển Bắc Bộ
67
5.5.2.2. Ven biển Trung Bộ 67
5.5.2.3. Ven biển Tây Nam Bộ
68
5.5.3. Đặc điểm kỹ thuật tàu và trang thiết bị
80
5.5.6.3. Ven biển Tây Nam Bộ
80
5.5.7. Tìm hiểu ảnh hưởng của nghề khai thác và chế biến Sứa đối với môi
trường biển
81
5.6. TÌM HIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA SỨA ĐẾN CÁC HOẠT ĐỘNG DU LỊCH -
TẮM BIỂN, CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TOÀN CHO DU KHÁCH
83
5.6.1. Những tác động có hại của Sứa biển
83
5.6.2. Sự bùng phát của Sứa biển
83
5.6.3. Ảnh hưởng của Sứa đến ngành du lịch biển
84
5.6.4. Các tai nạn do Sứa biển gây ra
85
5.6.5. Các biện pháp phòng tránh và xử lý tác hại của Sứa khi tắm biển
89
5.6.5.1. Phòng tránh để không bị Sứa đốt
89
5.6.5.2. Xử lý tác hại khi bị Sứa đốt
90
5.7. CÁC GIẢI PHÁP KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ NGUỒN LỢI SỨA BIỂN 93
5.7.1. Một số vấn đề tồn tại chủ yếu cần giải quyết
93
5.7.1.1. Tồn tại các vấn đề liên quan đến nguồn lợi Sứa
93
5.7.1.2. Tồn tại các vấn đề liên quan đến khai thác Sứa
93
2 BTNMT Bộ Tài nguyên Môi trường
3 cv Mã lực
4 CV Hệ số phân tán
5 ĐVPD Động vật phù du
6 FAO Tổ chức nông lương Liên hiệp quốc (Food and
Agriculture Organization of the United Nations)
7 GHCP Giới hạn cho phép
8 KT&BVNLTS Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
9 KHKT Khoa học kỹ thuật
10 LNTB Lợi nhuận trung bình
11 QT&PT Quan trắc và Phân tích
12 QCVN Quy chuẩn Việt Nam
13 r Hệ số tương quan
14 S Độ muối nước biển (‰)
15 Std Độ lệch chuẩn
16 T
kk
Nhiệt độ không khí (
o
C)
17 T
nước
Nhiệt độ nước biển (
o
C)
18 TB Trung bình
19 TCCC Trứng cá - cá con
20 TNMT Tài nguyên Môi trường
21 TT-BTS Thông tư - Bộ Thuỷ sản
22 TVPD Thực vật phù du
Bảng 13. Mật độ trung bình Sứa kinh tế theo dải độ sâu ở vùng ven biển Vịnh Bắc Bộ 49
Bảng 14. Mật độ trung bình Sứa kinh tế theo dải độ sâu ở vùng ven biển Trung Bộ 50
Bảng 15. Mật độ trung bình Sứa kinh tế theo dải độ sâu ở vùng ven biển Đông Nam Bộ 50
Bảng 16. Mật độ trung bình Sứa kinh tế theo dải độ sâu ở vùng ven biển Tây Nam Bộ 51
Bảng 17. Trữ lượng nguồn lợi Sứa kinh tế ước tính ở các vùng ven biển Việt Nam 58
Bảng 18. Mùa vụ xuất hiện và độ sâu nơi phân bố của các loài Sứa kinh tế 59
Bảng 19. Khả năng khai thác nguồn lợi Sứa kinh tế ước tính ở vùng ven biển Việt Nam 61
Bảng 20. Phương trình hồi quy giữa nguồn lợi Sứa và một số yếu tố môi trường 63
Bảng 21. Cơ cấu đội tàu khai thác hải sản ở một số tỉnh ven biển 64
Bảng 22. Nghề khai thác Sứa theo nhóm công suất tàu ở từng địa phương 65
Bảng 23. Số lượng tàu khai thác Sứa ở ven biển Bắc Bộ 66
Bảng 24. Số lượng tàu khai thác Sứa ở ven biển Trung Bộ 66
Bảng 25. Số lượng tàu khai thác Sứa ở ven biển Tây Nam Bộ 66
Bảng 26. Đặc điểm kỹ thuật tàu khai thác Sứa ở ven biển Bắc Bộ 69
Bảng 27. Trang thiết bị trên tàu khai thác Sứa ở ven biển Bắc Bộ 69
viii
Bảng 28. Đặc điểm kỹ thuật tàu khai thác Sứa ở ven biển Trung Bộ 70
Bảng 29. Trang thiết bị trên tàu khai thác Sứa ở ven biển Trung Bộ 70
Bảng 30. Đặc điểm kỹ thuật tàu khai thác Sứa ở ven biển Tây Nam Bộ 71
Bảng 31. Trang thiết bị trên tàu khai thác Sứa ở ven biển Tây Nam Bộ 71
Bảng 32. Đặc điểm kỹ thuật ngư cụ khai thác Sứa ở ven biển Bắc Bộ 72
Bảng 33. Đặc điểm kỹ thuật ngư cụ khai thác Sứa ở ven biển Trung Bộ 73
Bảng 34. Đặc điểm kỹ thuật ngư cụ khai thác Sứa ở ven biển Tây Nam Bộ 73
Bảng 35. Năng suất khai thác Sứa ở ven biển Bắc Bộ 74
Bảng 36. Cường lực khai thác Sứa của các đội tàu ở ven biển Bắc Bộ 75
Bảng 37. Sản lượng khai thác Sứa ở ven biển Bắc Bộ 76
Bảng 38. Năng suất khai thác Sứa ở ven biển Trung Bộ 76
Bảng 39. Cường lực khai thác Sứa của các đội tàu ở ven biển Trung Bộ 76
Bảng 40. Sản lượng khai thác Sứa ở ven biển Trung Bộ 77
Bảng 41. Năng suất khai thác Sứa ở ven biển Tây Nam Bộ 77
Hình 9. Phân bố khối lượng ĐVPD ở vùng ven biển Tây Nam Bộ 36
Hình 10. Phân bố mật độ TCCC ở vùng ven biển phía tây Vịnh Bắc Bộ 37
Hình 11. Phân bố mật độ TCCC ở vùng ven biển Đông Nam Bộ 38
Hình 12. Phân bố mật độ TCCC ở vùng ven biển Tây Nam Bộ 38
Hình 13. Tương quan giữa đường kính dù và khối lượng của Sứa trắng ở vùng
ven biển phía tây Vịnh Bắc Bộ và Trung Bộ 45
Hình 14. Tương quan giữa đường kính dù và khối lượng của Sứa trắng ở vùng
ven biển Tây Nam Bộ
46
Hình 15. Tương quan giữa đường kính dù và khối lượng của Sứa đỏ ở vùng ven
biển phía tây Vịnh Bắc Bộ
47
Hình 16. Tương quan giữa đường kính dù và khối lượng của Sứa rô ở vùng ven
biển Trung Bộ
47
Hình 17. Tương quan giữa đường kính dù và khối lượng của Sứa Lobonema
smithii ở vùng ven biển Đông - Tây Nam Bộ
48
Hình 18. Phân bố khối lượng Sứa kinh tế (tấn/km
2
) ở vùng ven biển phía tây Vịnh Bắc Bộ 53
Hình 19. Phân bố khối lượng Sứa trắng (tấn/km
2
) ở vùng ven biển phía tây Vịnh Bắc Bộ 53
Hình 20. Phân bố khối lượng Sứa đỏ (tấn/km
2
) ở vùng ven biển phía tây Vịnh Bắc Bộ 54
Hình 21. Phân bố khối lượng Sứa kinh tế (tấn/km
2
) ở vùng ven biển Trung Bộ 54
Hình 35. Muống biển ở bãi tắm Đồ Sơn - Hải Phòng 921
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhóm Sứa có giá trị kinh tế (edible jellyfish) là động vật phù du biển thuộc
ngành Xoang tràng có trữ lượng khá lớn ở biển nước ta. Sứa dùng để chế biến
đặc sản có giá trị kinh tế cao. Những năm gần đây, Sứa đã trở thành nguồn lợi
hải sản có giá trị, là đối tượng khai thác với vốn đầu tư thấp nhưng cho thu nhập
cao của ngư dân nhiều t
ỉnh ven biển Bắc Bộ. Một số địa phương mà nguồn lợi
hải sản đã cạn kiệt như Thịnh Long (Nam Định), Quảng Xương (Thanh Hóa),
nghề khai thác và chế biến Sứa đã làm đổi mới cả một vùng quê nghèo. Nhiều hộ
ngư dân chuyển nghề từ khai thác tôm cá ven bờ sang khai thác hay chế biến Sứa
đã trở lên khá giả; trong vụ khai thác nhiều hộ ngư dân có mức thu nhập từ 15 -
30 triệu đồng/tháng. Phần lớn sản phẩm Sứa qua sơ chế được bán cho thương
nhân Trung Quốc tại Việt Nam hoặc xuất khẩu sang Trung Quốc bằng đường
tiểu ngạnh. Thị trường tiêu thụ Sứa trên thế giới hiện đã mở rộng sang Hàn
Quốc, Nhật Bản v.v. Nhu cầu các sản phẩm chế biến từ Sứa của thị trường ngày
một gia tăng, đặc bi
ệt là ở Trung Quốc. Ngoài giá trị làm thực phẩm, một số sản
phẩm chiết xuất từ Sứa còn được sử dụng trong dược phẩm, các sản phẩm mỹ
phẩm, chất phụ gia của thức ăn và một số sản phẩm giá trị khác. Trên thế giới,
nghiên cứu về Sứa được coi trọng trong nhiều thập niên gần đây. Tuy nhiên, đến
nay ở nước ta Sứa mớ
i bắt đầu được quan tâm nghiên cứu, chủ yếu là thành phần
loài; hiện chưa có các công trình nghiên cứu chuyên sâu về nhóm Sứa kinh tế,
chưa có được dữ liệu về nguồn lợi Sứa làm cơ sở khoa học cho khai thác hợp lý và
bảo vệ nguồn lợi.
Nguồn lợi hải sản ở vùng biển ven bờ Việt Nam đã suy giảm nghiêm trọng.
quá mức có thể dẫn đến làm mất cân bằng tự nhiên đối với quần xã sinh vật biển.
Vì vậy, xác định được trữ lượng và khả năng khai thác nhóm Sứa kinh tế sẽ làm
cơ sở khoa học cho việc khai thác hợp lý, vừa tận dụng tối đa nguồn lợi Sứa
biển, vừa bảo vệ được nguồn lợi hải sản.
Việc khai thác Sứa không hợ
p lý ở một số địa phương dẫn đến nguy cơ cạn
kiệt nguồn lợi, ô nhiễm môi trường biển, ảnh hưởng nghiêm trọng đến một số
hoạt động kinh tế biển. Xây dựng được các giải pháp khai thác hợp lý để bảo vệ
nguồn lợi và môi trường biển là vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rõ rệt
cho ngành thủy sản và các địa phương ven biển.
Từ cơ sở khoa học và thực tiễn nêu trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài
“Nghiên cứu, đánh giá nguồn lợi Sứa vùng ven biển Việt Nam, đề xuất giải pháp
khai thác và bảo vệ”; thời gian thực hiện trong 3 năm (2009 - 2011) do Viện
Nghiên cứu Hải sản là cơ quan chủ trì. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở
khoa học góp phần phát triển kinh tế - xã hội, phân công lại lao động, chuyể
n dịch
nhiều nghề khai thác hải sản ở khu vực gần bờ sang khai thác Sứa để bảo vệ và tái
tạo nguồn lợi.
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC
Trên thế giới, nghiên cứu về Sứa đã có từ hàng trăm năm nay, chủ yếu là
thành phần khu hệ. Những năm gần đây, Sứa biển bắt đầu được quan tâm nghiên
cứu nhiều hơn do vai trò quan trọng của chúng trong hệ sinh thái. Những thông tin
chung về Sứa như hệ thống phân loại, đặc điểm sinh học, vòng đời, phân bố, độc
tính, tầm quan trọng đối với con người, v.v. được công b
ố trong nhiều công trình
nghiên cứu sinh học biển.
Về thành phần khu hệ, người có công trình nghiên cứu khá đầy đủ thành
phần khu hệ Sứa ở vùng biển ôn đới là Yamaji. Năm 1973, ông đã công bố 133
loài Sứa sinh sống ở vùng biển Nhật Bản thuộc lớp Thủy tức (Hydrozoa) và lớp
Sứa chính thức (Scyphozoa). Bouillon (1995) tìm thấy 47 loài Sứa ở vùng biển
cách mọc chồi trực tiếp từ cơ thể mẹ. Các vị trí nảy chồi cũng khác nhau tùy theo
loài, từ các mấu lồi trên xúc tu, từ cán dù phía trên miệng hoặc từ tuyến sinh dục
thấy ở lớp Hydrozoa (Mills, 1987).
Minh họa vòng đời của Sứa biển (Nguồn: www.infovisual.info/jellyfish)
Những năm gần đây, đã có một số công trình nghiên cứu về vòng đời và sinh
sản của Sứa được công bố. Eggers & Jarms (2007) nghiên cứu sự phát triển giai
đoạn ấu trùng ephyra của 2 loài Atorella vanhoeffeni và Nausithoe maculata
trong quá trình hình thành chuỗi đốt sinh sản. Holst (2007) nghiên cứu vòng đời
của Rhizostoma octopus trong phòng thí nghiệm từ giai đoạn ấu trùng planula
đến giai đoạn medusa. Calder (1973) cũng công bố kết quả quan sát vòng đời
Rhopilema verrilli từ giai đoạn ấ
u trùng planula đến giai đoạn medusa. Ohtsu và
cs. (2007) đã kích thích chín muồi sinh dục và cho đẻ thành công loài
Nemopilema nomurai trong phòng thí nghiệm.
Tuổi thọ của Sứa có thể kéo dài từ vài giờ (ở một số loài thuộc lớp Thủy
tức) đến vài tháng. Loài Turritopsis dohrnii có thể coi là “bất tử” do khả năng
biến đổi giữa medusa và polyp (Piraino và cs, 1996). Đa số các loài Sứa lớn sống
ở vùng nước ven bờ đều có thể sống từ 2 - 6 tháng, trong thời gian đó
đường
4
kính thân của chúng phát triển từ 1 - 2mm đến hàng chục cm. Chúng ăn liên tục
và phát triển đến kích thước trưởng thành khá nhanh. Sau khi đạt đến kích thước
trưởng thành, nếu đủ thức ăn chúng sẽ đẻ trứng hàng ngày. Hầu hết các loài đẻ
trứng đều bị ảnh hưởng bởi ánh sáng, do đó toàn bộ quần thể Sứa đều đẻ trứng
vào cùng một thời gian trong ngày, thường vào lúc tối trời hoặc bình minh (Mills
& Claudia, 1983).
Sứa phàm ă
n và sinh trưởng nhanh, đối với các loài thuộc bộ Rhizostomeae,
kích thích hóa học và cơ học trong nước.
Barz và cs. (2007) khi nghiên cứu chu kỳ xuất hiện hàng năm của Sứa ở khu
vực phía nam biển Bắc nhận thấy có 3 kiểu xuất hiện theo mùa: (1) xuất hiện
sớm Cyanea lamarckii (tháng 2 - tháng 8), (2) xuất hi
ện vào thời gian giữa năm
C. capillata và A. aurita (tháng 4 - tháng 8), (3) xuất hiện muộn C. hysoscella
(tháng 7 - tháng 9). Cyanea lamarckii là loài bắt gặp thường xuyên và phong phú
nhất trong năm ở phía nam biển Bắc.
Malej và cs. (2006) công bố mô hình di cư thẳng đứng và các mối tương tác
5
về dinh dưỡng của Sứa Aurelia sp ở vùng biển hồ Mljet thuộc biển Adriatic. Đa
phần thời gian Aurelia phân bố ở đáy của tầng nước có sự thay đổi nhiệt độ đột
ngột (tầng nhảy vọt), ở nhiệt độ thấp hơn 19
0
C. Khi trời tối, Aurelia di cư thẳng
đứng lên tầng mặt, tập trung ở tầng nhiệt nhảy vọt hoặc ngay trên tầng nước này;
đêm đến, chúng di chuyển xuống tầng nước sâu hơn, dưới 25m.
Sự phát triển bùng nổ của Sứa trong tự nhiên được sinh sản từ những polyp
sống đáy thường vào mùa xuân khi có nhiều ánh sáng mặt trời và sinh vật phù
du, cho nên Sứa xuất hiện khá đột ngột và thường vớ
i số lượng lớn, thậm chí
ngay cả khi một hệ sinh thái đang trong trạng thái cân bằng (Mills, 2001).
Sứa cũng có nhiều địch hại. Các động vặt ăn Sứa bao gồm các loài cá ngừ,
cá mập, cá kiếm và rùa biển. Chim biển đôi khi cũng ăn các loại giáp xác cộng
sinh sống trên dù Sứa gần bề mặt nước biển, chắc chắn cũng ăn luôn động vật
chủ là Sứa.
Về tác hạ
i của Sứa biển, bao gồm khả năng gây hại của một số loài Sứa độc
hoặc làm cản trở hoạt động sản xuất ở một số lĩnh vực như sản xuất điện, nuôi
thực sự gây nguy hiểm cho con người như Physalia physalis (Sứa lửa) sống ở
vùng biển ấm Nhật Bản, Chironex fleckeri (Sứa kim) phân bố từ Thái Bình Dương
6
đến Ấn Độ Dương, Chiropsalmus quadrigatus phân bố ở vùng biển Australia. 3
loài Sứa độc khác cũng thường gặp ở một số vùng biển trên thế giới là Chrysaora
quinquecirrha, Stomolophus meleagris, Pilema pulmo. Nagai (2003) đã thông báo
những tiến bộ gần đây trong nghiên cứu độc tố của Sứa; công bố những loại chất
độc, khả năng gây độc đối với người và động vật được tìm thấy trong một s
ố loài
như Chiropsalmus quadrigatus, Chironex fleckeri v.v.
Sự phát triển quá mức của Sứa trong những năm gần đây ở nhiều nơi trên thế
giới đã gây thiệt hại cho nhiều ngành kinh tế biển, ảnh hưởng đến hoạt động du
lịch - tắm biển. Ở nhiều nước châu Âu và châu Á như Tây Ban Nha, Pháp, Nhật
Bản, Philippin, Malaysia, … và cả ở Việt Nam hàng năm vào mùa du lịch có rất
nhiều du khách bị bỏng hay bị
dị ứng do chạm phải Sứa khi tắm biển.
Ở vùng biển Địa Trung Hải thuộc Tây Ban Nha, Sứa Pelagia noctiluca xuất
hiện dày đặc trong một vài năm gần đây được nhiều nhà khoa học cho rằng là do
sự thay đổi của khí hậu. Các vùng nước ưu dưỡng có hàm lượng oxy thấp thường
là vùng Sứa ưa thích, vì vậy chúng phát triển mạnh hơn các loài cá. Sự gia tăng
của Sứa là dấu hiệu củ
a một số biến cố đã xảy ra trong hệ sinh thái (The
Washington Post, May 6, 2002).
Holst & Jarms (2007) từ nghiên cứu tập tính định cư của ấu trùng planula
và sự phát triển của chúng đến thời kỳ polyp của 5 loài Sứa là Aurelia aurita,
Cyanea capillata, C. lamarckii, Chrysaora hysoscella và Rhizostoma octopus đã
nhận định, việc ngày càng có nhiều các loại chất nền nhân tạo được thải ra biển
và các hoạt động xây dựng công trình dưới biển đã làm tăng diện tích phân bố
của polyp Sứa cả ở khu vực ven bờ và ngoài khơi. Theo đó, sự tăng số lượng ấu
nước và 3 - 6% protein, cung cấp một lượng calo thấp rất thích hợp với nhu cầu
cuộc sống hiện đại của con người (Hsieh và cs, 2001).
Trong ngành công nghệ sinh học và dượ
c phẩm, ngay từ năm 1961, khi
nghiên cứu về sự phát quang sinh học, các nhà khoa học đã phát hiện ra protein
GFP (green fluorescent protein) ở loài Sứa Aequorea victoria. Từ đó, loại protein
này trở thành một công cụ cực kỳ hữu ích, được sử dụng chủ yếu trong các
nghiên cứu khoa học về mô và gen, tạo ra bước ngoặt lớn trong khoa học đánh
dấu. Kỹ thuật cấy gen liên quan đến gen tạo GFP (Pieribone & Gruber, 2006).
Nọc độc của một số loài S
ứa đang là mối quan tâm để tìm hiểu bản chất độc tố,
tạo tiền đề cho các nghiên cứu tìm kiếm các hoạt chất từ sinh vật biển và ứng
dụng chúng, đặc biệt trong việc nghiên cứu vacxin kháng lại chất độc của Sứa.
Một số nghiên cứu sinh hóa học cho thấy, thịt Sứa tuy chứa chất dinh
dưỡng thấp song có một số chất rất quý, đặc biệt là các loại vitamin không thay
th
ế và axit nicitinic. Lượng cholesterol có trong Sứa là rất thấp, < 0,35mg/100g
Sứa tươi. Sứa tươi lại rất giàu khoáng chất như Na, Ca, K, Mg (Hsied và cs,
1996). Chất tạo keo (colagen) chiết xuất từ Sứa được sử dụng trong nhiều ứng
dụng khoa học khác nhau, bao gồm cả việc điều trị bệnh viêm khớp mãn tính,
thuốc chữa trị bỏng và làm da nhân tạo (Pieribone & Gruber, 2006).
Về khai thác và tiêu thụ Sứa, ít nhất có 11 loài thuộc 5 họ Cepheidae,
Catostylidae, Lobonematidae, Rhizostomatidae và Stomolophidae c
ủa bộ
Rhizostomeae được khai thác làm thực phẩm trên khắp thế giới. Lượng Sứa đánh
bắt trung bình hàng năm giai đoạn 1988 - 1999 ở Đông Nam Á ước tính là
169.000 tấn Sứa tươi và trên thế giới ước khoảng 321.000 tấn. Mùa khai thác đối
với mỗi loại Sứa khác nhau ở từng vùng biển với các bãi khai thác chính nằm ở
Đông Nam Á. Ở Thái Lan, Sứa được khai thác dọc theo vịnh Thái Lan từ
Rayong đến Songkla từ tháng 5 đến tháng 7 và xung quanh Ranong nằm trong
địa phương. Việc khai thác được ngư dân thực hiện vào ban ngày khi Sứa xuất
hiện nhiều trên bề mặt nước biển. Về tự nhiên, điều kiện thời tiết và thủy triều
ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động khai thác vì Sứa tập trung trên bề mặt nước
khi biển lặng. Đặc điểm của nghề
Sứa là có sự biến đổi bất thường của việc đánh
bắt hàng năm với một mùa đánh bắt ngắn (Omori và cs, 2001).
Những năm gần đây, một số công trình nghiên cứu về Sứa ở các nước châu Á,
tập trung vào các lĩnh vực khai thác, nuôi và tái tạo nguồn lợi đã được công bố.
Muhammed và cs (2007) cho biết những thông tin về 2 loài Sứa ăn được
Catostylus mosaicus và Rhizostoma pulmo ở các vùng biển gần bờ
của Pakistan.
Chúng rất phong phú trong suốt thời gian từ tháng 3 đến tháng 8, đỉnh cao vào
tháng 6 và tháng 7. Kết quả khảo sát cho biết Catostylus mosaicus phong phú
hơn Rhizostoma pulmo. Nghề khai thác thương mại ở Pakistan chỉ mới bắt đầu
với quy mô nhỏ, cả 2 loài Sứa trên đều được khai thác, chế biến và xuất khẩu
sang các nước Đông Nam Á.
Ở Trung Quốc, do nhu cầu của thị trường ngày một tăng nên nhiều nghiên
cứu về sinh học, kỹ
thuật sinh sản và nuôi đang tập trung vào loài Sứa đỏ (You
và cs, 2007).
Với mục đích tạo nguồn lợi và tăng sản lượng đánh bắt, các nhà sinh học
biển Trung Quốc trong nhiều năm đã nghiên cứu làm gia tăng nguồn lợi Sứa đỏ
(Rhopilema esculentum) ở vịnh Liaodong của Trung Quốc. Năm 2005 - 2006, sự
tái tạo nguồn lợi được thực hiện lần đầu tiên trên quy mô lớn với 414 triệu ấ
u
trùng juvenile (đường kính dù >1cm) được thả vào vịnh Liaodong. Tỷ lệ bắt lại
trong số Sứa thả ra là 3,0% và 3,2% và ngư dân đã thu được 159 triệu nhân dân
tệ trong thời gian này. Tỷ lệ đầu vào (chi phí nuôi ấu trùng juvenile) và đầu ra
(giá trị bán được) vào khoảng 1/18. Giá trị thương mại cao của sự tái tạo nguồn
lợi Sứa đỏ đã tạo ra một công việc kinh doanh rất thành công ở vịnh Liaodong
ng chỉ công bố thành phần loài Sứa trong
các đợt khảo sát; thiếu các nghiên cứu về đặc điểm sinh học, đặc trưng phân bố
v.v. Trong báo cáo của một số dự án và đề tài điều tra biển, Sứa chỉ được thống
kê trong thành phần khu hệ động vật phù du.
Chương trình NAGA (1959-1961) đã ghi nhận được 31 loài Sứa ống
(Siphonophora) và 17 loài Sứa dù (Scyphozoa) ở vùng biển phía nam Biển
Đông, trong khi vịnh Thái Lan chỉ bắt gặp 7 loài Sứ
a ống và 13 loài Sứa dù
(Alvarino, 1963). Trong báo cáo kết quả điều tra tổng hợp Vịnh Bắc Bộ của Đội
điều tra liên hợp Việt - Trung (1965) đã thống kê được 16 loài Sứa ống. Đề tài
điều tra sinh vật vùng triều và vùng cửa sông Hồng, sông Ninh Cơ và sông Đáy
tỉnh Hà Nam Ninh (1970 - 1971) đã thống kê được 6 loài Sứa trong tổng số 104
loài động vật phù du (Nguyễn Văn Khôi & Dương Thị Thơm, 1980). Chương
trình điều tra t
ổng hợp biển Thuận Hải - Minh Hải (1978 - 1980) đã thống kê
được 20 loài Sứa biển (Nguyễn Văn Khôi và cs, 1991) v.v.
Những năm gần đây ở Việt Nam, Sứa biển bắt đầu được chú ý do vai trò
quan trọng của chúng trong hệ sinh thái và giá trị kinh tế.
Một số đặc điểm sinh học cơ bản của nhóm Sứa kinh tế đã được tổng hợp
trong các tài liệu “Sổ tay nuôi một số độ
ng vật thủy sản nước mặn” của Trung
tâm Khuyến ngư Quốc gia (2005) và “Bách khoa thủy sản” của Hội nghề cá Việt
Nam (2007):
- Hình thái ngoài: Cơ thể nhóm Sứa biển ăn được có cấu tạo gồm 2 phần, phần
dù (thân) và phần tay. Thân Sứa hình bán cầu hơi dẹp, trong suốt, phía lưng lồi
cao và mỏng dần từ đỉnh ra xung quanh tạo thành mép dù hay vạt bờ dù. Mép dù
10
mỏng, uốn lượn và tạo thành các thùy nhỏ đều đặn. Mặt dưới thân (mặt bụng) có
nhiều nếp cơ vòng như những vòng tròn đồng tâm. Hoạt động của các nếp cơ
sinh
trưởng của Sứa giảm xuống trị số âm, cơ thể co lại, khối lượng giảm dần cho đến
khi chết. Sứa có thể sống được tới 6 tháng.
Theo Nguyễn Dương Thạo (2008), Sứa Diphyes chamissonic là một trong 7
loài ưu thế của quần xã động vật phù du ở vùng nước khơi biển Tây Nam Bộ
thuộc vịnh Thái Lan, chúng xuất hiện nhiều ở các bãi cá truyền thống trong vịnh.
Nguy
ễn Thị Thu và cs. (2008) đã thống kê được 121 loài Sứa phân bố ở
vùng biển Việt Nam, xác định được thành phần hóa học của loài Sứa trắng gồm
5 hợp chất thiên nhiên có thể dùng làm nguyên liệu cho sản xuất mỹ phẩm. Về
ảnh hưởng của Sứa đối với nguồn lợi thủy sản, các quan sát cho thấy trung bình
một con Sứa roi sống trong các đầm quảng canh khu vực Phù Long và Tiên Lãng
(Hải Phòng) có đường kính 4 - 7cm tương ứng với khối lượng 50 - 100g ăn hết
128 cá thể động vật phù du, trong đó có từ 15 - 20 cá bột trong một ngày. Sứa
trắng và Sứa đỏ có kích thước từ 20 - 40cm tương ứng với khối lượng từ 5 - 8kg
ăn hết từ 7 - 11 cá thể tôm con hay cá con trong một ngày.
11
Về nguồn lợi Sứa biển Việt Nam, các thông tin, số liệu hiện có rất tản mạn
và sơ lược. Mùa vụ khai thác Sứa có thể là quanh năm ở vùng biển ven bờ Việt
Nam; tuy nhiên, theo các vùng địa lý lại có sự khác biệt. Mùa vụ của nhóm Sứa
kinh tế bước đầu được ghi nhận ở vùng biển phía tây Vịnh Bắc Bộ thường từ
tháng 3 đến tháng 6, vùng ven biển Trung Bộ thường từ tháng 2 - 5 và tháng 7 -
10, vùng ven biển Đ
ông Nam Bộ thường từ tháng 8 - 10, vùng biển Tây Nam Bộ
thuộc Vịnh Thái Lan từ tháng 11, tháng 12 đến tháng 3 năm sau (Omori và cs,
2001; Nguyễn Thị Thu và cs, 2008).
Hiện có 2 loài Sứa được khai thác ở các tỉnh phía Bắc là Sứa trắng và Sứa đỏ.
Mùa vụ khai thác Sứa tập trung từ tháng 3 đến tháng 5 với sản lượng khai thác
trung bình hàng năm tới hàng trăm nghìn tấn, nghề khai thác chính là vợt xúc và
3. 1. Tiếp cận trên cơ sở khoa học
Cơ sở khoa học cho sử dụng hợp lý nguồn lợi Sứa dựa trên các luận cứ
khoa học cơ b
ản về:
12
- Phân tích, đánh giá hiện trạng và xu thế biến động nguồn lợi Sứa ở vùng biển
ven bờ; ước tính được trữ lượng, từ đó đề xuất khả năng khai thác bền vững.
- Phân tích, đánh giá hiện trạng khai thác nguồn lợi Sứa, xác định được hiệu quả
và ảnh hưởng của các ngư cụ và hình thức khai thác đến nguồn lợi Sứa; trên cơ
sở đó đề xu
ất các biện pháp khai thác hợp lý để bảo vệ nguồn lợi.
3. 2. Tiếp cận theo hướng sinh thái môi trường
Trong hệ sinh thái biển, Sứa là sinh vật rất nhạy cảm; sự xuất hiện, phân
bố của Sứa liên quan mật thiết với các yếu tố sinh thái của môi trường. Vì
vậy, nghiên cứu nguồn lợi Sứa biển cần gắn liền với nghiên cứu các yếu tố
sinh thái môi trường để phụ
c vụ công tác dự báo nguồn lợi.
3. 3. Tiếp cận theo hướng phối hợp liên ngành
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu có liên quan đến nhiều bộ, nhiều ngành; vì
vậy muốn bảo vệ nguồn lợi Sứa và khai thác hợp lý cần có sự phối hợp liên
ngành nhằm có được một cơ chế quản lý thống nhất, đồng bộ giữa các bộ, ngành
liên quan.
- Nghiên cứu nguồn lợi Sứa cần có s
ự phối hợp thực hiện của các cơ quan nghiên
cứu khoa học chuyên ngành, các cơ quan quản lý ở các địa phương để có được
các điều kiện thuận lợi khi triển khai đề tài, tận dụng được năng lực và kinh
nghiệm trong công tác điều tra, nghiên cứu.
3. 4. Tiếp cận chuyên ngành
- Điều tra trực tiếp nguồn lợi Sứa bằng tàu nghiên cứu: sử dụng tàu nghiên cứu
trạm khảo sát nguồn lợi Sứa và quan trắc các thông số môi trường liên quan:
+ Vùng ven biển phía tây Vịnh Bắc Bộ: từ Quảng Ninh đến Quảng Trị (21
0
30’-
17
0
00’N) với 48 trạm khảo sát (Phụ lục 1: hình 1, bảng 1).
+ Vùng ven biển Trung Bộ: từ Quảng Trị đến Ninh Thuận (17
0
00’- 11
0
50’N)
với 40 trạm khảo sát (Phụ lục 1: hình 2, bảng 2).
+ Vùng ven biển Đông Nam Bộ từ Ninh Thuận đến Cà Mau (11
0
50’- 8
0
00’N)
với 44 trạm khảo sát (Phụ lục 1: hình 3, bảng 3).
+ Vùng ven biển Tây Nam Bộ: từ Cà Mau đến Kiên Giang (8
0
00’- 10
0
20’N) với
24 trạm khảo sát (Phụ lục 1: hình 3, bảng 3).
- Điều tra, đánh giá hiện trạng khai thác Sứa ở các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh
đến Kiên Giang, tập trung vào 10 tỉnh trọng điểm có nghề Sứa biển là Quảng
Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình
Định, Phú Yên, Kiên Giang. Giám sát các hoạt động khai thác và thu số liệu về
Sứa ở 4 ngư trường khai thác Sứa trọng điểm là Quảng Ninh, Hải Phòng, Khánh