BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ TRƯỜNG THI
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI HỌC CỦA HAI LOÀI THẰN LẰN
BÓNG EUTROPISLONGICAUDATA, (HALLOWELL, 1856) VÀ
EUTROPIS MULTIFASCIATA (KUHL, 1820) Ở VÙNG NÚI VÀ TRUNG DU
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
CHUYÊN NGÀNH: ĐỘNG VẬT HỌC
MÃ SỐ: 60 42 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. NGÔ ĐẮC CHỨNG
Huế, năm 2014
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự
hướng dẫn khoa học của Thầy giáo GS.TS. Ngô Đắc Chứng. Việc sử
dụng các số liệu, tài liệu cho luận văn đều được dẫn nguồn hoặc chú
thích tài liệu tham khảo. Các số liệu, kết quả nghiên cứu của luận văn là
trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào.
Tác giả luận văn
NGUYỄN THỊ TRƯỜNG THI
2
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS. Ngô Đắc Chứng đã trực
tiếp giảng dạy, hướng dẫn và tận tình chỉ bảo tôi trong quá trình thực hiện để hoàn
thành luận văn này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy giáo, Cô giáo trong khoa Sinh
học trường Đại học Sư phạm Huế đã tham gia giảng dạy, phòng thí nghiệm khoa
Sinh học trường Đại học Sư phạm Huế, phòng Đào tạo sau Đại học trường Đại học
LBTP : chiều dài buồng trứng phải
SD : độ lệch chuẩn
: trung bình
TP : thành phần
W : khối lượng
WTHP : khối lượng tinh hoàn phải
WTHT : khối lượng tinh hoàn trái
WBBT : khối lượng buồng trứng trái
WBBP : khối lượng buồng trứng phải
WT : khối lượng trứng
LT : chiều dài trứng
BT : chiều rộng trứng
LTCN : dài thân con non
LĐCN : dài đuôi con non
WCN : khối lượng con non
V : thể tích
5
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1. Số cá thể phân bố theo chiều dài thân của 2 loài Thằn lằn bóng
giống Eutropis Fitzinger, 1843 ở vùng núi và trung du tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 4.2. Một số đặc điểm hình thái của 2 loài Thằn lằn bóng giống Eutropis
Fitzinger, 1843 ở vùng núi và trung du tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 4.3. Một số đặc điểm hình thái của 2 loài Thằn lằn bóng giống Eutropis
Fitzinger, 1843
Bảng 4.4. Thành phần dinh dưỡng của E. longicaudata ( n = 84 dạ dày ) ở
vùng núi và trung du tỉnh thừa Thiên Huế
Bảng 4.5. Thành phần dinh dưỡng của E. multifasciata ( n = 132 dạ dày ) ở
vùng núi và trung du tỉnh thừa Thiên Huế
Bảng 4.6. Sinh khối thức ăn của con đực và con cái của 2 loài Thằn lằn bóng
giống Eutropis Fitzinger, 1843
Bảng 4.22. Chiều dài thân của con đực E. multifasciata trưởng thành
Bảng 4.23. Kích thước lứa đẻ của một số loài Thằn lằn bóng giống Eutropis
Bảng 5.1. Nơi ở của các loài Thằn lằn bóng giống Eutropis Fitzinger, 1843
Bảng 5.2. Hoạt động ngày và đêm của 2 loài Thằn lằn bóng giống Eutropis
Fitzinger, 1843
Bảng 5.3. Ảnh hưởng của ánh sáng đến sự hoạt động của 2 loài Thằn lằn bóng
giống Eutropis Fitzinger, 1843 ở vùng núi và trung du tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 5.4. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự hoạt động của 2 loài Thằn lằn bóng
giống Eutropis Fitzinger, 1843 ở vùng núi và trung du tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 5.5. Ảnh hưởng của độ ẩm đến sự hoạt động của 2 loài Thằn lằn bóng
giống Eutropis Fitzinger, 1843 ở vùng núi và trung du tỉnh Thừa Thiên Huế
7
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1. Bản đồ địa điểm thu mẫu ở huyện Nam Đông và huyện A Lưới tỉnh
Thừa Thiên Huế
Hình 4.1. Biểu đồ số lượng cá thể phân bố theo chiều dài thân E. longicaudata
ở vùng núi và trung du tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 4.2. Biểu đồ mối quan hệ giữa chiều dài thân và chiều rộng miệng của E.
longicaudata ở vùng núi và trung du tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 4.3. Biểu đồ mối quan hệ giữa chiều dài thân và khối lượng cơ thể của E.
longicaudata ở vùng núi và trung du tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 4.4. Biểu đồ số lượng cá thể phân bố theo chiều dài thân E. multifasciata
ở vùng núi và trung du tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 4.5. Biểu đồ mối quan hệ giữa chiều dài thân và chiều rộng miệng của E.
multifasciata ở vùng núi và trung du tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 4.6. Biểu đồ mối quan hệ giữa chiều dài thân và khối lượng cơ thể của E.
multifasciata ở vùng núi và trung du tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 4.7. Biểu đồ tỷ lệ % thành phần thức ăn của E. longicaudata ở vùng núi
và trung du tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 4.8. Biểu đồ tỷ lệ % thành phần thức ăn của E. multifasciata ở vùng núi
Những nghiên cứu liên quan đến ếch nhái, bò sát đã và đang được sự quan tâm
của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước. Những nghiên cứu đó tập trung vào
hai hướng chính, thứ nhất là nghiên cứu sự đa dạng của các khu hệ ếch nhái, bò sát
ở các vùng địa lý và vùng sinh thái khác nhau trên cả nước, phát hiện, mô tả loài
mới; hướng thứ hai là nghiên cứu sinh học, sinh thái một số loài đặc biệt là các loài
bị đe dọa và có giá trị về kinh tế.
Giống Eutropis Fitzinger, 1843 ( Trước đây là Mabuya Fitzinger, 1826 ) ở Việt
Nam hiện biết 5 loài là E. chapaensis, E. darevskii, E. longicaudata, E. macularia
và E. multifasciata, trong đó có 2 loài đặc hữu cho Việt Nam là E. chapaensis và E.
darevskiil. [30][54]
Các nghiên cứu về giống Eutropis Fitzinger, 1843 ở Việt Nam cũng như trong
tỉnh Thừa Thiên Huế được biết đến chủ yếu trong các nghiên cứu điều tra thành
phần loài, bổ sung vùng phân bố và các đặc điểm hình thái phân loại. Hiện nay,
ngoài những nghiên cứu đó cần phải tiếp tục nghiên cứu ở mức độ quần thể của các
loài, sự phân hóa các đặc điểm hình thái phân loại các quần thể loài ở các điểm
nghiên cứu theo điều kiện địa hình, khí hậu, cũng như những đặc điểm sinh thái học
làm cơ sở cho phân loại học và bảo vệ đa dạng sinh học.
Nhìn chung nghiên cứu về bò sát ở miền núi và trung du tỉnh Thừa Thiên Huế
đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm nhưng chủ yếu là tập trung vào nghiên
cứu về phân loại, phân bố chứ chưa có công trình nào nghiên cứu về đặc điểm sinh
thái học đặc biệt là Thằn lằn bóng giống Eutropis (E. longicaudata, E. multifasciata
10
). Xuất phát từ tầm quan trọng đó và những lí do nói trên, chúng tôi tiến hành thực
hiện đề tài “ Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học của hai loài Thằn lằn bóng
Eutropis longicaudata ( Hallowell, 1856 ) và Eutropis multifasciata ( Kuhl,
1820 ) ở vùng núi và trung du tỉnh Thừa Thiên Huế”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Hiểu rõ được đặc điểm sinh thái học của Thằn lằn bóng, chủ yếu là một số
đặc điểm sinh học sinh sản, dinh dưỡng và sinh thái học làm cơ sở khoa học cho
việc bảo vệ, khai thác và sử dụng nguồn lợi này.
[40]. Năm 1984, Blackbum D. G., Vitt L. J., Beuchat C. A. mùa sinh sản của loài
Thằn lằn thai sinh Mabuya heathi ở Braxin từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau.
Những cá thể cái mới 3 - 4 tháng tuổi cũng mang thai khi kích thước cơ thể còn nhỏ
( SVL 45 - 52mm ), những cá thể cái trưởng thành có kích thước SVL 68 - 92 mm;
đường kính trung bình trứng là 1,0 mm; trọng lượng khô 0,4mg. Con sơ sinh có
SVL trung bình 31 mm, trọng lượng khô 154 mg. [39]
Vào năm 1991, Laurie J. Vitt, Daniel G. Blackburn đã công bố nghiên cứu về
sinh thái và lịch sử đời sống của loài Thằn lằn đẻ con M. bistriata ở Amazon,
Braxin. Họ đã xác định được lúc bắt đầu hoạt động của M. bistriata từ giữa đến hết
buổi sáng trên những khúc gỗ đổ hoặc trên những thân cây, chúng có nhiệt độ hoạt
động trung bình 32,9 ± 0,98
o
C tương ứng với nhiệt độ cơ thể. Con mồi chúng ăn
12
gồm bộ Cánh Thẳng, Nhện, ấu trùng côn trùng, Mối và những động vật không
xương sống khác. Sự khác nhau về con mồi giữa các vị trí chủ yếu do sự khác nhau
về con mồi có thể kiếm được của các vị trí ở vùng nhiệt đới mùa mưa. M. bistriata
đạt đến độ chín sinh dục gần hết năm thứ nhất của đời sống, con cái sinh sản lứa
đầu tiên lúc một năm tuổi. Con cái có thân và đầu lớn hơn con đực. Thời kỳ sinh
sản tối đa 9 - 12 tháng. Số lứa thay đổi 2 – 9. [47]
1998 Othman A. Al – Dokhi nghiên cứu cấu trúc của buồng trứng và sự phát
triển phôi loài Thằn lằn bóng M. brevicollis tại các trang trại chung quanh thành phố
Riyadh ( Thủ đô A Rập Xê Út ), thu thập từ 4/1998 – 5/1998 [56]. Năm 2002, tại
viện bảo tàng tự nhiên Paris Michel Breuil đã thống kê những nghiên cứu của các
tác giả khác nhau về đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái của loài Thằn lằn
bóng Mabuya mabouya. Brygo ( 1985 ) cho biết nó có tổng chiều dài 251 mm và
đuôi dài 163 mm. Chiều dài thân cá thể đực là 87 mm và cá thể cái là 93 mm
( Schwartz và Henderson, 1991 ). Nó thường sống trong rơm rác, đặc biệt trong
những môi trường nông nghiệp: nông trường chuối, vườn dừa, nông trường ca cao.
Mật độ bắt gặp cao trong rừng khô ven biển, trong những rừng bị chặt lác đác có
khối lượng ổ đẻ. [61]
7/3/2008 Indraneil Das, Anslem De Silva và Christopher C. Austin công bố
một loài mới thuộc giống Eutropis ( nhánh Mabuya Châu Á ) có tên là Eutropis
tammanna sp. Nov mang những đặc điểm hình thái cơ bản như sau: kích thước cơ
thể nhỏ ( 52,3 mm ), trán rộng, lỗ tai mở rộng ra ngoài vảy, mặt lưng có 6 - 7 vảy,
28 - 29 vảy thân, vảy bên dọc cột sống có 37 - 40, có 15 - 16 bản mỏng dưới ngón
chân số 4, những cá thể đực có màu nâu trên lưng, sườn sẩm có những đốm nhỏ
màu kem, những cá thể cái tương tự cá thể đực, viền trên đốt sống xanh xám hoặc
sẩm dọc theo viền mặt lưng. Còn mõm, môi và vùng quanh cổ những cá thể đực
trong thời kỳ sinh sản có màu đỏ tươi ánh hồng. [46]
Gần đây, Datta - Roy và cs ( 2012 ) [42] đã nghiên cứu phát sinh chủng loại của
Thằn lằn bóng Eutropis châu Á sử dụng các chỉ thị 12S, 16S rRNA ty thể và chỉ thị
DNA nhân. Trong nghiên cứu này tác giả có sử dụng mẫu E. longicaudata thu tại
Phong Nha - Kẻ Bàng, Việt Nam. Các loài Thằn lằn bóng giống Mabuya ( Eutropis
) ở nhiều nơi trên thế giới đã được nghiên cứu về đa dạng di truyền, phát sinh chủng
loại dựa vào nhiều loại DNA marker khác nhau. Tuy nhiên, ở Việt Nam thì chưa có
công trình nào đề cập đến mối quan hệ phát sinh chủng loại của giống này.
14
1.2. Ở Việt Nam
Các nghiên cứu về Thằn lằn bóng được thực hiện từ năm 1935 trong các công
trình của R. Bourret. Trong tài liệu Comment desterminer un Lézard d’Indochine,
R. Bourret nêu tên 11 loài Thằn lằn bóng, trong đó có 5 loài ở Đông Dương là : M.
longicaudata, M. multifascidata, M. macularia, M. quadricarinata và M.
Chapaense. [65]
1937, R. Bourret lại mô tả đặc điểm hình thái của loài M. longicaudata
( Hallowell ) và M. multifasciata multifascidata ( Kuhl ) thu được ở Gia Lâm ( Hà
Nội ), Bắc Giang, Bắc Ninh, Chợ Rã ( Hòa Bình ) và cao nguyên Xe Bang Hiên
( Lào ) [62] [63]. Năm 1939, cũng tác giả nói trên ghi nhận và mô tả một mẫu vật
thu được ở Thảo Cầm viên Sài gòn thuộc loài M. multifascidata multifascidata (
Kuhl ). Trong công trình về khu hệ lưỡng thê, bò sát các vùng Bắc Bộ, R. Bourret
Mabuya Fitzinger, 1826 như: Andrew W. Tordoff, Lê Mạnh Hùng, Nguyễn Quảng
Trường và Steven R. Swan ( 2002 ) ghi nhận ở Huyện Văn Bản, Lào Cai có loài M.
multifascidata [1]. Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc ở Vườn quốc gia Cát Tiên mô
tả 3 loài M. macularia , M. longicaudata, M. multifasciata [28]. Nguyễn Văn Sáng
và Trần Văn Thắng ghi nhận ở U Minh Thượng ( Kiên Giang ) có 1 loài M.
multifasciata [29]. Hồ Thu Cúc ghi nhận ở Đầm Ao Châu ( Phú Thọ ) có 4 loài M.
longicaudata, M. macularia, M. multifasciata, M. chapaense [10]. Nguyễn Quảng
Trường ghi nhận có một loài ở Konplông ( KonTum ) M. Multifasciata [31]. Lê
Nguyên Ngật, thống kê ở vùng núi Vĩnh Phúc, Hà Tây, Phú Thọ, Ninh Bình, Hải
Dương, Nghệ An, Sơn La, Lào Cai, Lạng Sơn có 4 loài M. longicaudata, M.
macularia, M. multifasciata, M. Chapaense. [14]
2004 Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Quảng Trường và Bùi Xuân Phương ghi nhận
ở tổ hợp bảo tồn Ba Bể, Na Hang có 3 loài M. chapaense, M. longicaudata, M.
Multifascidata. [3]
2006 - 2007 Đặng Huy Phương và cộng sự đã ghi hình 3 loại Thằn lằn bóng có
mặt ở đảo Phú Quốc M. longicaudata, M. multifascidata, M. Macularia [41]. Trong
năm 2007 Ngô Đắc Chứng và Trương Tấn Mỹ nghiên cứu về thành phần loài, đặc
điếm sinh học, sinh thái của giống Thằn lằn bóng Mabuya Fitzinger , 1826 ở Khánh
Hòa [19]. Đến năm 2009 Hoàng Xuân Quang, Nguyễn Huy Hoàng, Hoàng Ngọc
16
Thảo, Phạm Thị Phương, Lê Thị Huệ đã nghiên cứu, phân tích các đặc điểm hình
thái, sinh học, sinh thái của Thằn lằn bóng đốm Eutropis macularia ở vườn quốc
gia Bạch Mã. [7]
1.3. Ở Thừa Thiên Huế
Ngô Đắc Chứng, Lê Thắng Lợi ( 2009 ) đã nghiên cứu một số đặc điểm
sinh học, sinh thái của 2 loài Thằn lằn bóng giống Mabuya Fitzinger, 1826 ( M.
longicaudata, M. multifasciata ) ở Thừa Thiên Huế [16]. Năm 2012, Hoàng Xuân
Quang, Hoàng Ngọc Thảo và Ngô Đắc Chứng trong tài liệu “ Ếch nhái và bò sát ở
vườn quốc gia Bạch Mã” đã mô tả 8 loài trong họ Scincidae, khóa định tên và mô tả
đặc điểm ( hình thái, phân bố ) của các loài của họ Thằn lằn bóng Scincidae. [9]
Huyện có 20 xã ( Hồng Thủy, Hồng Vân, Hồng Trung, Hồng Kim, Hồng Hạ,
Hồng Bắc, Bắc Sơn, Hồng Quảng, A Ngo, Sơn Thủy, Phú Vinh, Nhâm, Hồng Thái,
Hồng Thượng, Hương Phong, Hương Lâm, Đông Sơn, A Đớt, A Roằng, Hương
Nguyên ) và 01 thị trấn ( thị trấn A Lưới ) chủ yếu phân bổ dọc theo đường Hồ Chí
18
Minh. A Lưới là huyện vùng cao của tỉnh Thừa Thiên Huế có diện tích tự
nhiên 1.224,64 km
2
.
2.2. Địa hình
Vùng núi và trung du tỉnh Thừa Thiên Huế thuộc địa hình núi trung bình. Khu
vực núi trung bình chủ yếu phân bố ở phía Tây, Tây Nam và Nam lãnh thổ, chiếm
khoảng 35% diện tích đồi núi và trên 25% lãnh thổ của tỉnh. Độ cao dao động từ
750 m đến gần 1.800 m.
* Vùng núi trung bình Tây A lưới là vùng núi trung bình thuộc sườn phía Tây
dãy Trường Sơn Bắc, cao từ 600 – 750 m đến 1.500 - 1.600m, rộng 9 - 10km ( tính
đến biên giới Việt - Lào ) và kéo dài gần 50km theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.
* Vùng núi trung bình Đông A Lưới - Nam Đông phân bố kế cận về phía
Nam vùng núi trung bình động Ngại, chiếm lãnh thổ đầu nguồn các sông Bồ, Hữu
Trạch và Tả Trạch thuộc địa phận Tây Nam và Nam huyện Nam Đông. Các đỉnh
núi có độ cao tuyệt đối tăng dần từ 600 – 900 m ở phía Bắc đến 1.100 - 1.300 m,
thậm chí vượt 1.700 m tại biên giới với nước CHDCND Lào và Quảng Nam. Càng
tiến về phía Tây Nam, địa hình càng bị chia cắt mạnh hơn, biến thành vùng núi
hiểm trở với mật độ sông suối khoảng 1 - 2,5 km/km
2
.
2.3. Thổ nhưỡng
Thừa Thiên Huế có tổng diện tích đất tự nhiên là 503.320,53 ha. Đất đồi núi
chiếm trên ¾ tổng diện tích tự nhiên. Ở miền núi và trung du tỉnh Thừa Thiên Huế
có các nhóm đất sau:
mùa hè vào các tháng nóng nhất tháng 6, 7 nhiệt độ trung bình 24 - 25°C tại vùng
núi. Khi có gió mùa Tây Nam khô nóng nhiệt độ cao nhất có thể lên tới 37 - 38°C
trên lãnh thổ núi cao.
* Phân bố nhiệt độ theo thời gian
Ở Thừa Thiên Huế biến trình nhiệt độ hàng năm thuộc dạng biến trình nhiệt đới
gió mùa với một cực đại mùa hè ( tháng 6 hoặc tháng 7 ) và một cực tiểu về mùa
đông ( tháng 1 ). Cực tiểu tháng 1 thường có nhiệt độ dưới 18°C nơi có độ cao trên
400 m. Cực đại xảy ra trong tháng 6 hoặc 7 với nhiệt độ trung bình 25°C tại vùng
núi cao trên 500 m.
20
* Diễn biến của nhiệt độ
Sự chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa các tháng mùa đông lớn hơn biên độ
dao động nhiệt độ mùa hè, trong đó chênh lệch nhiệt độ lớn nhất giữa các tháng gần
nhau cũng không vượt quá 3°C. Từ tháng 11 đến tháng 12 nhiệt độ giảm nhanh
nhất, còn từ tháng 3 đến tháng 4 nhiệt độ tăng nhanh hơn.
Biến đổi nhiệt độ ngày ( 24 giờ ) được gọi là biên độ ngày của nhiệt độ, trong
đó nhiệt độ thấp nhất thường xảy ra lúc 5 - 6 giờ sáng, nhiệt độ cao nhất xuất hiện
vào 12 - 14 giờ. Nói chung về mùa hè và vùng núi biên độ nhiệt độ ngày lớn hơn
biên độ nhiệt độ ngày của mùa đông và đồng bằng duyên hải. Biên độ nhiệt độ ngày
mùa hè ở A Lưới, Nam Đông đạt tới 10 - 12°C và cao hơn Huế 3 - 4°C, còn về mùa
đông biên độ nhiệt độ ngày tại A Lưới, Nam Đông giảm xuống 6 - 8°C và cao hơn
Huế 2 - 3°C. Nếu xem mùa lạnh là thời khoảng có nhiệt độ trung bình ổn định dưới
20°C và mùa nóng là thời kỳ có nhiệt độ trung bình ổn định trên 25°C thì ở tỉnh
Thừa Thiên Huế vẫn có mùa lạnh, nhưng không kéo dài như các tỉnh phía Bắc. Mùa
lạnh kéo dài 1 - 1,5 tháng ( ngày 12/12 - 22/1 ) ở Nam Đông và 4 tháng ( ngày 6/12
- 7/3 ) ở A Lưới. Mùa nóng ở thung lũng giữa gò đồi ( Nam Đông ) kéo dài 6 - 6,5
tháng ( ngày 2 - 5/6 - 2 - 16/10 ), còn tại vùng cao trên 500 m ( A Lưới, Bạch Mã )
hầu như không có mùa nóng, khí hậu mát mẻ quanh năm.
2.4.2. Độ ẩm không khí
* Độ ẩm tương đối của không khí
Một trong hai chỉ số đánh giá tiềm năng ẩm của lãnh thổ là chỉ số khô hạn ( tỷ
số giữa lượng nước bốc hơi và lượng mưa trong cùng một thời kỳ ). Thời gian có
chỉ số này lớn hơn 1 được xếp vào thời kỳ khô hạn, còn thời kỳ chỉ số khô hạn bé
hơn 1 là thời kỳ ẩm ướt. Tại Nam Đông thời kỳ khô hạn là 1 tháng ( tháng 3 ) với
giá trị chỉ số khô hạn 1,79; trên vùng A Lưới hầu như không có thời kỳ khô hạn.
Trong thời gian mưa nhiều chỉ số khô hạn xấp xỉ 0,04 - 0,16 tại Nam Đông và 0,04
- 0,14 tại vùng núi A Lưới.
2.4.3. Chế độ mưa
Là một trong các tỉnh nằm ở phía Đông dãy Trường Sơn của miền duyên hải
Trung bộ nên chế độ mưa, lượng mưa ở đây vừa chịu sự chi phối của cơ chế hoàn
lưu gió mùa Đông Nam Á, vừa bị tác động mạnh mẽ của vị trí địa lý ( địa thế ) và
điều kiện địa hình.
22
* Mùa mưa và mùa ít mưa
Ở lãnh thổ này không có sự khác biệt lớn giữa mùa mưa với mùa khô, mà chỉ
có mùa mưa và mùa ít mưa. Thuộc khu vực núi đồi Nam Đông – A Lưới, mùa mưa
kéo dài 7 thậm chí 8 tháng ( từ tháng 5 hay tháng 6 - 12 ), ngược lại mùa ít mưa
không tồn tại quá 4 hoặc 5 tháng ( từ tháng 1 - 4 hoặc tháng 5 ).
* Phân bố mưa
Thừa Thiên Huế là một trong các tỉnh có lượng mưa nhiều nhất nước ta. Lượng
mưa trung bình năm trên toàn lãnh thổ đều vượt quá 2.600 mm, có nơi trên 4.000
mm ( Bạch Mã, Thừa Lưu ). Trung tâm mưa lớn Tây A Lưới - động Ngại ( 1.774
m ) có lượng mưa trung bình năm trên 3.400 mm, có năm vượt quá 5.000 mm
( 5.086 mm năm 1990, 6.304 mm năm 1996, 5.909 mm năm 1999 ). Tại trung tâm
mưa lớn Nam Đông - Bạch Mã - Phú Lộc lượng mưa trung bình năm khoảng 3.400
- 4.000 mm, có năm vượt quá 5.000 mm, thậm chí ở Bạch Mã tới 8.664 mm
( 1980 ).
Lượng mưa tăng đần từ Đông sang Tây và từ Bắc xuống Nam cũng như phụ
thuộc vác mùa mưa hay ít mưa. Tại vùng đồi núi, trong đó A Lưới - Nam Đông -
Bạch Mã là 31- 34%. Lượng mưa của cả 8 tháng ít mưa nhất ( tháng 2 - 4 )
mm, 54 mm, 96 mm.
* Biến động lượng mưa
Ở Thừa Thiên Huế chế độ mưa biến động mạnh nhất. Nam Đông cách Thượng
Nhật 7 km, nhưng chênh lệch lượng mưa năm đến 500 mm. Tổng lượng mưa năm
cũng biến động từ năm này sang năm khác và có thể sai khác với lượng mưa trung
bình năm khoảng 600 – 800 mm tùy thuộc vào lãnh thổ cụ thể. Kết quả quan trắc
cũng cho thấy, lượng mưa tháng biến động hơn lượng mưa năm, lượng mưa mùa ít
mưa biến động hơn lượng mưa mùa nhiều mưa, lượng mưa ở vùng đồng bằng
duyên hải biến động hơn lượng mưa trên vùng núi.
2.4.4. Chế độ nắng
Nắng có quan hệ chặt chẽ với bức xạ mặt trời và lượng mây che. Tổng số giờ
nắng trung bình năm ở Thừa Thiên Huế dao động từ 1.700 đến 2.000 giờ/năm và
giảm dần từ khu vực đồng bằng duyên hải lên khu vực đồi núi. Các tháng 5 - 7
24
thuộc thời kỳ nắng nhất, có giờ nắng 200 giờ/tháng ở đồng bằng, thung lũng Nam
Đông giảm xuống 175 - 200 giờ/tháng trên lãnh thổ núi thấp, núi trung bình.
Từ tháng 8 trở đi số giờ nắng thoạt đầu giảm nhanh ( tháng 8 - 9 ) và đạt giá trị
cực tiểu 69 - 90 vào tháng 12, sau đó lại tăng nhanh từ các tháng đầu của năm sau
( tháng 1, 2 ). Trong thời gian ít nắng nhất mỗi ngày vẫn còn 3 - 5 giờ nắng.
2.5. Tài nguyên động vật và thực vật
2.5.1. Tài nguyên động vật
Thừa Thiên Huế có đủ 4 vùng sinh thái phân bố động vật: vùng núi rừng, vùng
gò đồi, vùng đồng bằng duyên hải và vùng đầm phá, biển ven bờ, trong đó nổi bật
là hệ sinh thái động vật vườn Quốc gia Bạch Mã.
Theo kết quả tổng hợp và điều tra, ở hệ sinh thái Vườn quốc gia Bạch Mã đã
xác định được: lớp côn trùng có 894 loài, 580 giống, 125 họ, 17 bộ; lớp cá có 57
loài, 48 giống, 17 họ, 6 bộ; lớp ếch nhái có 21 loài, 7 giống, 5 họ, 1 bộ; lớp bò sát
có 31 loài, 24 giống, 10 họ, 2 bộ; lớp chim có 358 loài, 186 giống, 55 họ, 15 bộ; lớp
thú có 132 loài, 72 giống, 28 họ, 10 bộ.
2.5.2. Tài nguyên thực vật