BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ TRƯỜNG THI
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI HỌC CỦA HAI
LOÀI
THẰN LẰN BÓNG Eutropis longicaudata
(HALLOWELL, 1856)
VÀ Eutropis multifasciata (KUHL, 1820)
Ở VÙNG NÚI VÀ TRUNG DU TỈNH THỪA THIÊN
HUẾ
Chuyên ngành: ĐỘNG VẬT HỌC
Mã số: 60420103
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. NGÔ ĐẮC CHỨNG
1
Huế, năm 2014
LỜI CAMĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các
số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các
đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ
một công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Trường Thi
2
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS. Ngô Đắc Chứng
đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn và tận tình chỉ bảo tôi trong quá trình thực
hiện để hoàn thành luận văn này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy giáo, Cô giáo trong
BTHT : chiều rộng tinh hoàn trái
BTTP : chiều rộng buồng trứng phải
BBTT : chiều rộng buồng trứng trái
L : chiều dài
LTHP : chiều dài tinh hoàn phải
LTHT : chiều dài tinh hoàn trái
LBTP : chiều dài buồng trứng phải
LBTT : chiều dài buồng trứng trái
SD : độ lệch chuẩn
: trung bình
V : thể tích
VTHP : thể tích tinh hoàn phải
VTHT : thể tích tinh hoàn trái
VBBP : thể tích buồng trứng phải
VBBT : thể tích buồng trứng trái
LT : chiều dài trứng
BT : chiều rộng trứng
VT : thể tích trứng
LTCN : dài thân con non
LĐCN : dài đuôi con non
WCN : khối lượngcon non
SSD : Sexual Size Dimorphism
5
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Các địa điểm thu mẫu ở huyện A Lưới và huyện Nam Đông
Bảng 4.1. Sự phân bố các nhóm cá thể theo chiều dài thân của hai loài Thằn lằn
bóng giống Eutropis Fitzinger, 1843 ở vùng núi và trung du tỉnh
Thừa Thiên Huế
Bảng 4.2. Một số đặc điểm hình thái của hai loài Thằn lằn bóng giống
EutropisFitzinger, 1843 ở vùng núi và trung du tỉnh Thừa Thiên Huế
trung du tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 4.18. Kích thước và thể tích tinh hoàn của E. multifasciata ở vùng núi và
trung du tỉnh Thừa Thiên Huế
6
Bảng 4.19. Đặc điểm sinh sản con cái của E. multifasciata ở vùng núi và trung du
tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 4.20. Kích thước và thể tích buồng trứng của E. multifasciata ở vùng núi và
trung du tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 4.21. Kích thước và thể tích phôi của E. multifasciata ở vùng núi và trung
du tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 4.22. Kích thước và khối lượng con non của E. multifasciata ở vùng núi và
trung du tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 4.23. Kích thước lứa đẻ của một số loài Thằn lằn bóng trong giống
EutropisFitzinger, 1843
Bảng 5.1. Nơi ở của hai loài Thằn lằn bóng giốngEutropis Fitzinger, 1843 ở
vùng núi và trung du tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 5.2. Hoạt động của hai loài Thằn lằn bóng giống Eutropis Fitzinger, 1843 ở
vùng núi và trung du tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 5.3. Ảnh hưởng của ánh sáng đến sự hoạt động của hai loài Thằn lằn bóng
giống Eutropis ở vùng núi và trung du tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 5.4. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự hoạt động của hai loài Thằn lằn bóng
giống Eutropis ở vùng núi và trung du tỉnh Thừa Thiên Huế
Bảng 5.5. Ảnh hưởng của độ ẩm đến sự hoạt động của hai loài Thằn lằn bóng
giống Eutropis ở vùng núi và trung du tỉnh Thừa Thiên Huế
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1. Bản đồ của tỉnh Thừa Thiên Huế cho thấy vị trí địa lý và các điểm đã
thu mẫu ở huyện A Lưới và huyện Nam Đông
Hình 4.1. Biểu đồ sự phân bố các nhóm cá thể theo chiều dài thân của
E. longicaudata ở vùng núi và trung du tỉnh Thừa Thiên Huế
Hình 4.2. Biểu đồ mối quan hệ giữa chiều dài thân và rộng miệng của
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, có đủ các dạng địa
hình như đồng bằng, trung du và miền núi. Bên cạnh đó, các hệ sinh thái nhiệt đới ở
Việt Nam có độ đa dạng sinh học cao, được cấu trúc bởi nhiều sinh cảnh phức tạp.
Những yếu tố này đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phân bố, tồn tại và phát triển rất
phong phú của động vật nói chung và Lưỡng cư - Bò sát nói riêng.Lưỡng cư, bò sát
không những giữ vai trò quan trọng trong các hệ sinh thái mà còn có ý nghĩa quan
trọng đối với đời sống con người như sử dụng làm thực phẩm, dược liệu, kỹ nghệ
da và nuôi làm cảnh.
Theo Frost (2014) và Uetz & Hošek (2014) ở Việt Nam hiện biết khoảng 241
loài Lưỡng cư và 478 loài Bò sát [40, 54].
Những nghiên cứu liên quan đến lưỡng cư, bò sát đã và đang nhận được sự
quan tâm của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước. Những nghiên cứu đó tập
trung vào hai hướng chính: Thứ nhất là nghiên cứu sự đa dạng của các khu hệ ếch
nhái, bò sát ở các vùng địa lý và vùng sinh thái khác nhau trên cả nước, phát hiện,
8
mô tả loài mới; Thứ hai là nghiên cứu về sinh thái tập tính, đặc điểm sinh học, sinh
thái học, quá trình sử dụng nguồn tài nguyên và mô hình phân bố của loài, đặc biệt
là các loài bị đe dọa và có giá trị về kinh tế cao.
Thằn lằn bóng giống Eutropis Fitzinger,1843 (trước đây là Mabuya
Fitzinger, 1826) ở Việt Nam hiện biết 5 loài là E. chapaensis, E. darevskii, E.
longicaudata,E. macularia và E. multifasciata. Trong đó, hai loài đặc hữu của Việt
Nam làE. chapaensis và E. darevskii[29, 47].
Các nghiên cứu về giống Eutropis Fitzinger,1843 ở Việt Nam cũng như
trong tỉnh Thừa Thiên Huế được biết đến chủ yếu từ những nghiên cứu điều tra
thành phần loài, bổ sung vùng phân bố và các đặc điểm hình thái phân loại. Hiện
nay, ngoài những nghiên cứu đó cần tiếp tục nghiên cứu ở mức độ quần thể của các
loài, nghiên cứu đặc điểm sinh học phân tử, sự phân hóa các đặc điểm hình thái
phân loại của các quần thể loài ở các điểm nghiên cứu theo điều kiện địa hình, khí
hậu, cũng như những đặc điểm sinh thái học làm cơ sở cho việc phân loại học, khai
thác và bảo tồn đa dạng sinh học.
Chương 1: LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU HAI LOÀI THẰN LẰNBÓNG
GIỐNG Eutropis Fitzinger, 1843
1.1. Trên thế giới
Những nghiên cứu về khu hệ lưỡng cư bò sát trên thế giới đã ghi nhận sự
phân bố các loài Thằn lằn giống Eutropis ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ [47].
Bên cạnh những nghiên cứu về phân loại học, thành phần loài và phân bố thì
đặc điểm sinh học và sinh thái học của các loài Thằn lằn giống Eutropis cũng được
các nhà khoa học trên thế giới quan tâm và tiến hành nghiên cứu từ những năm 60
của thế kỷ XX.
Theo Bullock (1966), thành phần thức ăn của M. multifasciata ở Singapore là
các loài côn trùng thuộc các nhóm: Hình nhện (Arachnida), Chân đều (Isopoda), Cánh
thẳng (Orthortera), Cánh cứng (Coleoptera) và Cánh màng (Hymenoptera) [35].
Vào năm 1991, Vitt và Blackburn đã công bố nghiên cứu về sinh thái và lịch
sử đời sống của loài Thằn lằn noãn thai sinhM. bistriata ở Amazon, Braxin. Họ đã
xác định được lúc bắt đầu hoạt động của M. bistriata từ giữa đến hết buổi sáng trên
những khúc gỗ đổ hoặc trên những thân cây, chúng hoạt động ở nhiệt độ trung bình
32,9 ± 0,98
o
C tương ứng với nhiệt độ cơ thể. Con mồi chúng ăn gồm các loài côn
trùng bộ Cánh thẳng, nhện, ấu trùng côn trùng, mối và những động vật không
xương sống khác. Loài M. bistriata đạt đến độ chín sinh dục gần hết năm thứ nhất
của đời sống, con cái sinh sản lứa đầu tiên lúc một năm tuổi. Con cái có thân và đầu
lớn hơn con đực. Thời kỳ sinh sản tối đa 9 - 12 tháng,số lứa thay đổi 2 - 9 [58].
Các năm tiếp theo, có nhiều nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu về sinh
thái học loài Thằn lằn bóng giống Eutropis như: Năm 2002, Wymann và Whiting
tiến hành nghiên cứu về sinh thái loài Thằn lằn bóng M. margaritif ở Nam Phi. Họ
đã xác định được thành phần thức ăn, sự lưỡng hình giới tính và đặc điểm của chu
kỳ sống trong quần thể tự nhiên của M. margaritif trên đất đá ở vùng savan ẩm ướt
của Nam Phi. Phân tích thành phần thức ăn cho thấy trung bình dạ dày của mỗi con
thằn lằn có 494 mm
thể và chỉ thị DNA nhân. Trong nghiên cứu này tác giả có sử dụng mẫu E.
longicaudata thu tại Phong Nha - Kẻ Bàng, Việt Nam. Các loài Thằn lằn bóng
giống Mabuya (Eutropis) ở nhiều nơi trên thế giới đã được nghiên cứu về đa dạng
di truyền, phát sinh chủng loại dựa vào nhiều loại DNA marker khác nhau. Tuy
nhiên, ở Việt Nam thì chưa có công trình nào đề cập đến mối quan hệ phát sinh
chủng loại của giống này [38].
12
Nhận xét chung về nghiên cứu sinh thái học thằn lằn bóng trên thế giới:
- Chủ yếu là sinh thái học dinh dưỡng và sinh thái học sinh sản trên các loài
khác nhau thuộc giống Eutropis.
- Một số nghiên cứu về đặc điểm di truyền các loài thuộc giống Eutropis
trong đó có E. longicaudata và E. multifasciata.
1.2. Ở Việt Nam
Các nghiên cứu về thằn lằn bóng chủ yếu tập trung vào phân loại học và mô
tả loài thực hiện từ năm 1935 trong các công trình của Bourret. Trong tài liệu
Comment déterminer un Lézard d’Indochine, Bourret nêu tên 11 loài thằn lằn bóng,
trong đó có 5 loài ở Đông Dương là: M. longicaudata, M. multifasciata, M.
macularia, M. quadricarinata và M. chapaense [60]. Năm 1937, Bourret lại mô tả
đặc điểm hình thái của loài M. longicaudata (Hallowell) và M.
multifasciatamultifasciata (Kuhl) thu được ở Gia Lâm (Hà Nội), Bắc Giang, Bắc
Ninh, Chợ Rã (Hòa Bình) và cao nguyên Xê Bang Hiên (Lào) [58]. Năm 1939,
cũng tác giả nói trên ghi nhận và mô tả một mẫu vật thu được ở Thảo cầm viên Sài
gòn thuộc loài M. multifasciata multifasciata (Kuhl). Trong công trình về khu hệ
lưỡng cư, bò sát các vùng Bắc Bộ, Bourret nêu danh sách 4 loài Thằn lằn bóng là
M. multifasciata multifasciata (Kuhl) gặp phổ biến ở Đông Dương, loài M.
macularia (Blyth) gặp ở Campuchia và Nam Việt Nam, loài M. longicaudata
(Hallowell) gặp ở các nước Đông Dương và loài M. chapaense, Bourretchỉ tìm thấy
ở Sapa [59].
Năm 1979, Đào Văn Tiến thống kê thành phần loài và khóa định loại thằn lằn
Việt Nam đã nêu tên 4 loài Thằn lằn bóng ở nước ta là: Thằn lằn bóng SapaM.
Phú Thọ, Ninh Bình, Hải Dương, Nghệ An, Sơn La, Lào Cai, Lạng Sơn có 4 loài
M. longicaudata, M. macularia, M. multifasciata, M. chapaense[12].
Đến năm 2006 - 2007, Đặng Huy Phương và cộng sự đã ghi hình 3 loàiThằn
lằn bóng có mặt ở đảo Phú Quốc là M. longicaudata, M. multifasciata, M.
macularia [37]. Trong năm 2007, Ngô Đắc Chứng và Trương Tấn Mỹ nghiên cứu
về thành phần loài, đặc điểm sinh học, sinh thái của giống Thằn lằn bóng Mabuya
Fitzinger, 1826 ở Khánh Hòa [17]. Năm 2009, Hoàng Xuân Quang và cộng sự đã
nghiên cứu, phân tích các đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của Thằn lằn bóng
đốm E. macularia ở vườn quốc gia Bạch Mã [6].
Gần đây nhất, Ngô Đắc Chứng và Trương Bá Phong (2013) đã nghiên cứu
thành phần loài và đặc điểm sinh học của một số loài thuộc giống Thằn lằn bóng
Eutropis Fitzinger, 1843 tại huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk. Kết quả nghiên cứu
14
cho thấy thành phần thức ăn của cả hai loài Thằn lằn bóng giống Eutropis chủ yếu
là Côn trùng, nhện và một số động vật không xương sống. Phổ thức ăn của E.
multifasciata rộng hơn E.macularia. Nhiệt độ môi trường có ảnh hưởng rõ rệt lên sự
phát triển của buồng trứng và tinh hoàn của E. multifasciata trong thời gian nghiên
cứu[18].
1.3. Ở Thừa Thiên Huế
Có một số nghiên cứu về thành phần loài, đặc điểm sinh học, sinh thái như:
Năm 2001, Lê Trọng Trải, Trần Hiếu Minh, Trần Quang Ngọc, Trần Quốc Dựng và
Hughes, trong Dự án đầu tư Khu Bảo tồn Thiên nhiên Phong Điền đã ghi nhận ở
Phong Điền có loài M. multifasciata [15].
Năm 2002, Hồ Thu Cúc ghi nhận ở khu vực A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế đã
thu được 233 mẫu vật của 38 loài (50%) trong số 76 loài lưỡng cư và bò sát. Trong
đó, họ thằn lằn bóng với 6 loài (12,24%): M. longicaudata, M. macularia, M.
multifasciata, Scinalla rufocaudata, Sphenomorphus sp., Tropidophorus
cocincinensis [9].
Lê Nguyên Ngật và Trần Thanh Tùng, năm 2004 ghi nhận ở sông Tả Trạch
có 2 loài: M. longicaudata, M. multifasciata[13].Năm 2006,Nguyễn Quảng Trường
Hương Hữu) và 01 thị trấn (thị trấn Khe Tre). Nam Đông là một trong hai huyện
miền núi của tỉnh Thừa Thiên Huế có tổng diện tích tự nhiên 651,95 km
2
trong đó
diện tích đất nông nghiệp chiếm 4.019,38ha, đất lâm nghiệp chiếm 41.799,31 ha còn
lại là đất khác và chưa sử dụng. Địa bàn huyện là một thung lũng phía Đông dãy
Trường Sơn, có chiều dài 37km, nơi rộng nhất là 27km, hẹp nhất là 14km [32].
2.1.2. Vị trí địa lí và diện tích huyện A Lưới
A Lưới là một huyện miền núi biên giới của tỉnh Thừa Thiên Huế, nằm ở
phía Tây, giáp với nước CHDCND Lào. Tọa độ 16
o
16’12’’ độ vĩ bắc - 107
o
14’02’’ độ
kinh đông. Ranh giới hành chính của huyện được xác định:
+ Phía Bắc giáp huyện Phong Điền và huyện Đa Krông, tỉnh Quảng Trị; Phía
Nam giáp huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam; Phía Đông giáp thị xã Hương Trà,
huyện Nam Đông và thị xã Hương Thủy; Phía Tây giáp nước CHDCND Lào.
Huyện có 20 xã (Hồng Thủy, Hồng Vân, Hồng Trung, Hồng Kim, Hồng Hạ,
Hồng Bắc, Bắc Sơn, Hồng Quảng, A Ngo, Sơn Thủy, Phú Vinh, Nhâm, Hồng Thái,
Hồng Thượng, Hương Phong, Hương Lâm, Đông Sơn, A Đớt, A Roằng, Hương
Nguyên) và 01 thị trấn (thị trấn A Lưới) chủ yếu phân bổ dọc theo đường Hồ Chí
16
Minh. A Lưới là huyện vùng cao của tỉnh Thừa Thiên Huế có diện tích tự
nhiên 1.224,64 km
2
[32].
2.2. Địa hình
Vùng núi và trung du tỉnh Thừa Thiên Huế thuộc địa hình núi trung bình.
Khu vực núi trung bình chủ yếu phân bố ở phía Tây, Tây Nam và Nam lãnh thổ,
* Diện tích, đặc điểm nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi: Loại đất này nằm ở
những nơi có độ cao tuyệt đối 900m trở lên. Ở độ cao này thì cường độ của quá trình
feralit bị giảm đi. Khi độ cao tăng, thì nhiệt độ giảm và ẩm độ tăng lên đã tạo điều kiện
thuận lợi cho quá trình tích lũy mùn. Phần lớn chúng được phân bố ở độ dốc từ 15 -
25°. Tầng đất dày từ 0,6 - 1,2m, thành phần cơ giới trung bình - nhẹ. Đất có hàm lượng
mùn và đạm ở tầng mặt khá, nghèo lân, nhưng kali trao đổi giàu [32].
2.4. Khí hậu và thời tiết
2.4.1. Nhiệt độ không khí
* Phân bố nhiệt độ theo không gian
Nhiệt độ trung bình năm ở lãnh thổ giảm từ Đông sang Tây, nhiệt độ trung
bình năm giảm xuống 20 - 22°C khi lên cao 500-800m và dưới 18°C tại núi cao trên
1.000m. Song song với quá trình giảm nhiệt độ trung bình năm theo độ cao cũng
xảy ra hiện tượng giảm tổng nhiệt độ năm. Số liệu tính toán cho thấy tổng nhiệt độ
năm đạt 8.000 - 8.500°C ở khu vực với độ cao 100-500m và dưới 8.000°C trong
vùng núi cao trên 500m. Suất giảm nhiệt độ trung bình năm là 0,6 - 0,65°C /100m.
Về mùa đông nhiệt độ trung bình tháng 1 (lạnh nhất) giảm xuống 17 - 18°C trên
vùng núi với độ cao 400-600m và xấp xỉ 16°C trong vùng núi cao hơn 800m. Khi
gió mùa Đông Bắc tràn về nhiệt độ thấp nhất vùng núi cao dưới 5°C. Trong mùa hè
vào các tháng nóng nhất tháng 6, 7 nhiệt độ trung bình 24 - 25°C tại vùng núi. Khi
có gió mùa Tây Nam khô nóng nhiệt độ cao nhất có thể lên tới 37 - 38°C trên lãnh
thổ núi cao.
* Phân bố nhiệt độ theo thời gian
Ở Thừa Thiên Huế biến trình nhiệt độ hàng năm thuộc dạng biến trình nhiệt
đới gió mùa với một cực đại mùa hè (tháng 6 hoặc tháng 7) và một cực tiểu về mùa
đông (tháng 1). Cực tiểu tháng 1 thường có nhiệt độ dưới 18°C nơi có độ cao trên
400m. Cực đại xảy ra trong tháng 6 hoặc 7 với nhiệt độ trung bình 25°C tại vùng
núi cao trên 500m.
* Diễn biến của nhiệt độ
Biến đổi nhiệt độ ngày (24 giờ) được gọi là biên độ ngày của nhiệt độ, trong
đó nhiệt độ thấp nhất thường xảy ra lúc 5 - 6 giờ sáng, nhiệt độ cao nhất xuất hiện
nước bốc hơi năm ở vùng núi đạt 850-900mm, chiếm 24- 25% tổng lượng mưa năm.
Biến trình bốc hơi năm ngược với biến trình mưa năm. Thời kỳ mưa nhiều nhất thì
lượng nước bốc hơi ít nhất, còn thời kỳ ít mưa nhất thì lượng nước bốc hơi sẽ cao nhất,
trong đó có một cực đại vào tháng 7, một cực tiểu vào tháng 12. Vào thời kỳ mưa nhiều
(tháng 9 - 12) lượng bốc hơi chỉ đạt 28 - 80 mm/tháng và tổng lượng nước bốc hơi
19
trong 4 tháng này là 153- 223mm, chiếm 18 - 23% tổng lượng nước bốc hơi năm.
Ngược lại, tổng lượng nước bốc hơi vào thời kỳ ít mưa (tháng 1 - 8) chiếm 77 - 82%
tổng lượng nước bốc hơi năm, đặc biệt vào các tháng 5 - 8 lượng nước bốc hơi lên tới
87 - 150mm/tháng. Lượng nước bốc hơi trong 24 giờ đạt khoảng 3- 4mm/ngày vào
mùa mưa và 13-14mm/ngày vào thời kỳ khô nóng của mùa ít mưa (tháng 5 - 8) [32].
2.4.3. Chế độ mưa
Là một trong các tỉnh nằm ở phía Đông dãy Trường Sơn của miền duyên hải
Trung bộ nên chế độ mưa, lượng mưa ở đây vừa chịu sự chi phối của cơ chế hoàn
lưu gió mùa Đông Nam Á, vừa bị tác động mạnh mẽ của vị trí địa lý (địa thế) và
điều kiện địa hình.
* Phân bố mưa
Thừa Thiên Huế là một trong các tỉnh có lượng mưa nhiều nhất nước ta.
Lượng mưa trung bình năm trên toàn lãnh thổ đều vượt quá 2.600mm, có nơi trên
4.000mm (Bạch Mã, Thừa Lưu). Trung tâm mưa lớn Tây A Lưới - động Ngại
(1.774m) có lượng mưa trung bình năm trên 3.400mm, có năm vượt quá 5.000mm
(5.086mm năm 1990, 6.304mm năm 1996, 5.909mm năm 1999). Tại trung tâm mưa
lớn Nam Đông - Bạch Mã - Phú Lộc lượng mưa trung bình năm khoảng 3.400 -
4.000mm, có năm vượt quá 5.000mm, thậm chí ở Bạch Mã tới 8.664mm (1980).
Lượng mưa tăng đần từ Đông sang Tây và từ Bắc xuống Nam cũng như phụ
thuộc vào mùa mưa hay ít mưa. Tại vùng đồi núi, trong đó A Lưới - Nam Đông -
Bạch Mã là 31- 34%. Lượng mưa của cả 8 tháng ít mưa nhất (tháng 2 - 4)
tại Nam Đông, A Lưới dao động trong khoảng 3 - 8% tổng lượng mưa năm. Kết quả
quan trắc mưa còn cho thấy tổng lượng mưa năm tập trung vào thời kỳ mưa chính
mùa (tháng 12). Đối với thời kỳ mưa chính mùa, ở A Lưới - Nam Đông - Bạch Mã,
giảm dần từ khu vực đồng bằng duyên hải lên khu vực đồi núi. Các tháng 5-7 thuộc
thời kỳ nắng nhất, có giờ nắng 200 giờ/tháng ở đồng bằng, thung lũng Nam Đông
giảm xuống 175 - 200 giờ/tháng trên lãnh thổ núi thấp, núi trung bình.
Từ tháng 8 trở đi số giờ nắng thoạt đầu giảm nhanh (tháng 8 - 9) và đạt giá
trị cực tiểu 69 - 90 vào tháng 12, sau đó lại tăng nhanh từ các tháng đầu của năm
sau (tháng 1, 2). Trong thời gian ít nắng nhất mỗi ngày vẫn còn 3 - 5 giờ nắng [32].
2.5. Tài nguyên động vật và thực vật
2.5.1. Tài nguyên động vật
Thừa Thiên Huế có đủ 4 vùng sinh thái phân bố động vật: vùng núi rừng,
vùng gò đồi, vùng đồng bằng duyên hải và vùng đầm phá, biển ven bờ, trong đó nổi
bật là hệ sinh thái động vật vườn Quốc gia Bạch Mã.
21
Theo kết quả tổng hợp và điều tra, ở hệ sinh thái Vườn quốc gia Bạch Mã đã
xác định được: lớp côn trùng có 894 loài, 580 giống, 125 họ, 17 bộ; lớp cá có 57
loài, 48 giống, 17 họ, 6 bộ; lớp ếch nhái có 21 loài, 7 giống, 5 họ, 1 bộ; lớp bò sát
có 31 loài, 24 giống, 10 họ, 2 bộ; lớp chim có 358 loài, 186 giống, 55 họ, 15 bộ; lớp
thú có 132 loài, 72 giống, 28 họ, 10 bộ [32].
2.5.2. Tài nguyên thực vật
Tiểu vùng sinh thái phân bố rừng nguyên sinh phân bố tập trung vào vùng
núi cao trung bình có rừng già nguyên sinh. Hệ thực vật ở đây gồm nhiều tầng đặc
trưng, nhiều dây leo, cây gỗ lớn như: gõ (gụ), mật, chò chỉ, lim xanh, kiền kiền,
dầu Đó là kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới. Bên cạnh đó, ở vài khu
vực núi cao hơn (động Ngại, Bạch Mã ) còn xuất hiện hệ thực vật cận nhiệt đới (á
nhiệt đới) có sự xen lẫn cây lá rộng với cây lá kim như hoàng đàn giả, thông tre,
kim giao. Nói chung, tiểu vùng sinh thái phân bố thực vật này ở tỉnh nhà còn lại ít
và ngày càng thu hẹp hơn. Điển hình nhất của tiểu vùng sinh thái là khu vực xã
Hương Nguyên (A Lưới), Bạch Mã (Phú Lộc) và Khe Tre (Nam Đông)[32].
22
Chương 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài được tiến hành 11 tháng, từ tháng 10/2013 đến tháng 8/2014. Trong đó:
+ Nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng tiến hành 8 tháng, từ tháng 10/2013 đến
tháng 5/2014.
+ Nghiên cứu đặc điểm sinh sản tiến hành 11 tháng, từ tháng 10/2013 đến
tháng 8/2014.
Mỗi tháng thu mẫu 3 - 4 lần, mỗi lần thu từ 20 - 30 cá thể/ loài.
3.2.2. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại 5 điểm khác nhau thuộc địa bàn huyện A
Lưới và huyện Nam Đông.
Bảng 3.1. Các địa điểm thu mẫu ở huyện A Lưới và huyện Nam Đông
STT Độ vĩ bắc Độ kinh đông Địa điểm Huyện
1 16
o
22’54” 107
o
06’17” xã Hồng Vân
Huyện
A Lưới
2 16
o
15’10” 107
o
16’08” xã Sơn Thủy
3 16
o
07’47” 107
o
21’07” xã Hương Lâm
4 16
o