MỤC LỤC
LSĐ: Lùn sọc đen
BVTV: Bảo vệ thực vật
LKC: Liều khuyến cáo
1
1
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1.
Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước có nền kinh tế nông nghiệp từ hàng ngàn năm nay.
Từ một nước thiếu lương thực trầm trọng trong chiến tranh nhưng hiện nay nền
nông nghiệp của nước ta không chỉ sản xuất ra đủ một lượng lớn lương thực đáp
ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn trên thế
giới. Lúa là một trong năm cây lương thực chính của thế giới và có vai trò quan
trọng trong nhu cầu đời sống con người. Năng suất lúa mùa các địa phương
phía Bắc đạt 49,9 tạ/ha, tăng 2,4 tạ/ha; sản lượng đạt xấp xỉ 5,9 triệu tấn, tăng
269,3 nghìn tấn so với vụ mùa 2013. Riêng vùng Đồng bằng sông Hồng, năng
suất lúa mùa đạt 55 tạ/ha, tăng 2,8 tạ/ha; sản lượng đạt 3,1 triệu tấn, tăng 137,4
nghìn tấn. Ở phía Nam, lúa mùa đang phát triển tốt, ước tính năng suất tăng từ
0,5 đến 1 tạ/ha.(Tổng cục thống kê năm 2014)
Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo cũng gặp không ít khó khăn đặc biệt là đối mặt
với các nhóm dịch hại trên lúa đang gây hại ngày một nguy hiểm và diện rộng.
Một trong các dịch hại được quan tâm nhất hiện nay ở hầu hết các vùng trồng
lúa Việt Nam đó là rầy lưng trắng (Sogatella furcifera Horvath). Rầy lưng trắng
gây hại mạnh vào giai đoạn lúa trỗ bông sẽ làm cho số lượng bông và chiều dài
dụng đối với người nông dân nhưng hậu quả do nó để lại cũng vô cùng lớn: đầu
tư chi phí tốn do việc mua nhiều thuốc trừ sâu hóa học, gây ô nhiễm môi trường,
giảm đa dạng trong hệ sinh thái, dư lượng thuốc trừ sâu để lại trong nông sản,
chất lượng sản phẩm giảm, ảnh hưởng tới sức khỏe con người. Và đặc biệt
nghiêm trọng hơn đó là sự lạm dụng thuốc BVTV, sử dụng quá nhiều, quá liều
lượng thuốc đã gây hiện tượng nhờn thuốc làm cho rầy mẫn cảm với thuốc làm
cho hiệu quả quản lý rầy lưng trắng ngày càng khó khăn. Theo báo cáo của cục
BVTV và các chi cục BVTV một số tỉnh phía Bắc, một số loại thuốc hóa học
đang được sử dụng phổ biến để trừ nhóm rầy nói chung và rầy lưng trắng nói
riêng đang dần kém hiệu lực do các quần thể rầy lưng trắng bắt đầu có dấu hiệu
suy giảm tính mẫn cảm đối với thuốc hóa học. Một vấn đề mà các nhà khoa học
hiện nay đang đặc biệt chú ý là sử dụng loại, nhóm thuốc nào, với liều lượng bao
3
3
nhiêu, hạn chế sử dụng liên tục một loại thuốc để tránh hiện tượng kháng thuốc
của rầy lưng trắng.
Nhằm hiểu biết thêm về đặc điểm và mức độ kháng thuốc của rầy lưng
trắng đối với một số loại thuốc hóa học đang được dùng thuốc phổ biến hiện nay
để đưa ra phương án phòng chống sâu bệnh hại tăng nhanh, chúng tôi đã thực
hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của quần thể rầy
lưng trắng (Sogatella furcifera Horvath) tại tỉnh Phú Thọ và đánh giá tính
kháng thuốc của chúng với một số nhóm hoạt chất BVTV, vụ Mùa năm
2015”.
1.2. Mục đích, yêu cầu.
1.2.1 Mục đích:
Trên cơ sở nắm được một số đặc điểm sinh học, vòng đời, khả năng đẻ
trứng, thời gian các pha phát dục của rầy lưng trắng quần thể Phú Thọ và bước
-Phân bố:
Theo Chia-hwa Tao and Ngo Dinh Ngoan (1968), rầy lưng trắng phân
bố ở hầu hết các nước trồng lúa trên thế giới như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung
Quốc, Ấn Độ, Philippin, Đài Loan, phía Bắc Châu Phi, bán đảo Sumatra,...
Rầy lưng trắng Sogatella furcifera Horvath phân bố ở các nước thuộc
Châu Á, Châu Úc và các nước khu vực Thái Bình Dương. Ở khu vực Đông Nam
Á, chúng được tìm thấy ở Bangladest, Campuchia, Trung Quốc, Hồng Kong, Ấn
Độ, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lào, Malaysia, Mianma, Nepan, Pakistan,
Philippines, quần đảo Ryukyu, Sri Lanka, Đài Loan, Thái Lan, Việt Nam, và
Liên Xô cũ (Catindig et al., 2009).
Theo Asche and Wilson (1990) cho biết rầy lưng trắng phân bố rộng rãi ở
vùng cận Đông, Đông và Tây Thái Bình Dương và Úc. Các nước được ghi nhận
có rầy phân bố là:
5
5
Châu Á: Rầy lưng trắng có mặt nhiều nước như Afganistan , Bangladesh ,
Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Lào, Malaysia, Nepal, New Guinea, Pakistan,
Philipines,Iran, Srilanca, Thailand, Việt Nam .
Châu Âu: có mặt ở các nước Liên Bang Nga và các nước vùng Liên
Xô cũ. Ngoài ra rầy lưng trắng còn có mặt ở Siberi và các vùng nước Nga cách
xa về phía đông.
Tây bán cầu: các nước Cuba, Guana và Suriname .
Thái Bình Dương gồm có: Australia, Belaw, Đảo Caroline, Fiji, Đảo
Marshall, Micronesia, Solomon và Vanuatu.
-
vào năm 2001). So sánh các thiệt hại gây ra bởi rầy nâu và rầy lưng trắng ở
Trung Quốc cho thấy rầy lưng trắng gây ra diện tích thiệt hại nhiều hơn rầy nâu
trong 10 năm 1998 – 2007.
2.1.3 Đặc điểm sinh học của rầy lưng trắng
Trứng
Rầy lưng trắng có thể đẻ ở phần mô bẹ lá, gân chính lá, trứng được đẻ
thành từng ổ; quả trứng có màu vàng nhạt, trong suốt. Mỗi trưởng thành cái có
thể đẻ từ 300 đến 500 trứng, thời gian đẻ tập trung trong 3 – 6 ngày. Kết quả
nghiên cứu tại IRRI cho thấy trưởng thành cái rầy lưng trắng đẻ từ 7 đến 19 ổ
trứng tương đương với 300-350 quả (Pathak and Khan, 1994).
Theo Tao and Ngoan (1968) thì trứng được đẻ bẹ lá gồm 5-20 trứng sắp xếp
lên nhau. Trứng mới đẻ có màu trắng đục và trước khi nở dần chuyển sang màu
vàng nhạt.Trứng được đẻ với số lượng lớn. Một phần của các mô xung quanh
những quả trứng bị tổn thương do sự đẻ trứng và biến màu thành nâu sẫm. Trứng
phát triển từ 5,2 – 10,5 ngày là pha đầu tiên, dài nhất và không khác biệt đáng kể.
Thời gian trứng nở tùy thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm. Ở nhiệt độ 25,3 oC đến 32,7
o
C và ẩm độ 83 đến 85% thì trứng có thời gian phát dục từ 4,5 đến 6 ngày.
Thời gian phát dục của pha trứng trung bình là 7,1 ngày ở nhiệt độ 23 –
34oC; 9,3 ngày ở 17 – 28oC và khoảng 21 ngày ở nhiệt độ 13 – 22oC. Tỷ lệ nở
của trứng trung bình là 64,3 – 88,9% (Ammar et al., 1980).
Rầy non:
7
7
lưng trắng có liên quan đến mật độ gieo trồng, nhiệt độ trung bình, lượng mưa
8
8
và độ ẩm tương đối. Mật độ rầy đạt cao nhất vào tháng 7, tháng 8. Đối với rầy
lưng trắng thì lượng mưa không có ảnh hưởng lớn tới biến động số lượng rầy
nhưng gây ảnh hưởng tới sinh lý của cây lúa. (Win et al., 2011)
Tại Đài Loan rầy lưng trắng có 7 đến 8 lứa/năm, trong đó vụ lúa thứ nhất,
trưởng thành bắt đầu xâm nhập vào ruộng lúa từ cuối tháng 3 đầu tháng 4, trong
một vụ có từ 3 đến 4 lứa; mật độ quần thể giảm nhanh chóng ở lứa thứ 8 vào
cuối tháng 10 cho đến đầu tháng 11. Kết quả theo dõi một số năm cho thấy rầy
lưng trắng qua đông ở dạng cánh dài trên lúa chét từ tháng 12 năm trước đến
tháng 1 năm sau (Cheng, 2009).
Số lượng rầy lưng trắng hại lúa tăng đều qua các mùa sinh trưởng, lúa vụ
xuân bị hại ít hơn vụ hè sớm và muộn. Tuy nhiên vụ xuân đóng vai trò quan
trọng là một nguồn bệnh cho vụ mùa. Ở các tỉnh ở phía Tây nam Trung Quốc
như Vân Nam và đảo Hải Nam rầy lưng trắng qua đông với số lượng lớn, sau đó
chúng di chuyển xuống các vùng phía Nam như tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây
của Trung Quốc và xuất hiện ở miền bắc Việt Nam trong tháng Hai và tháng Ba.
Thông thường, rầy lưng trắng theo gió mùa đông bắc di chuyển đến lưu vực
sông Châu (Quảng Đông) và Hồng Hà (Vân Nam) vào tháng ba. Sau đó di
chuyển đến các tỉnh phía Bắc Quảng Đông và Quảng Tây, các tỉnh miền nam Hồ
Nam và Giang Tây, các tỉnh Quý Châu và Phúc Kiến vào tháng tư; trung và hạ
lưu sông Dương Tử vào tháng năm đến giữa hoặc cuối tháng sáu; các tỉnh phía
bắc và phía nam của tỉnh Đông Bắc, thậm chí vào Nhật Bản trong cuối tháng sáu
đến đầu tháng bảy. Cuối tháng tám khi gió mùa chuyển hướng chúng lại quay
trở về nơi qua đông. (Zhou et al., 2013)
2.1.5 Những nghiên cứu về thuốc trừ rầy lưng trắng và tính kháng thuốc của
Theo Yoshito Suzuki et al., (1996), thuốc hóa học có ảnh hưởng đến quần
thể và số lượng rầy lưng trắng. Rầy lưng trắng tuổi 3 chết khi lột xác nếu phun
Buprofezin nồng độ 0,075% hoặc số lượng quần thể rầy lưng trắng giảm khi cây
trồng có Buprofezin 0,075%. Ở Pakistan, các loại thuốc Chlopyriphos và
carbosulphal có hiệu lực cao và kéo dài trong 5 ngày đối với rầy lưng trắng,
ngoài ra dầu xoan, dầu luyn cũng có tác dụng trừ rầy lưng trắng, chỉ có
10
10
Phosphamilon 0,05 % có khả năng diệt trứng, ngoài ra Phosphamilon 0,05 % và
Fenvalirate 0.045 % có tác dụng làm giảm sức sinh sản của rầy.
Theo Nagata (1999) quần thể rầy nâu và rầy lưng trắng đã có sự kháng
thuốc trừ sâu từ những năm 30 và biến động trên khắp khu vực Châu Á và có sự
biến động hàng năm.
Theo Ping Xaofei et al., (2001), tính kháng thuốc của rầy nâu và rầy lưng
trắng được xác định ở Nhật Bản và Trung Quốc vào năm 1997. Mức độ kháng
thuốc của rầy nâu không có sự khác biệt đáng kể giữa Nagasaki (Nhật Bản),
Hàng Châu (Trung Quốc), và Tỉnh Hồng (Trung Quốc). Giá trị LD 50 của rầy nâu
là 0.027 – 0.062 đối với hoạt chất Nitenpyram, 0.083 – 0.14 đối với hoạt chất
Imidacloprid, 0.58 – 0.83 đối với hoạt chất Silafuofen, và 0.78 – 1.2 µg/g đối
với hoạt chất Etofenprox, ngược lại 67 – 130 đối với hoạt chất Malathion, 51 –
93 đối với hoạt chất Fenitrothion và 57 – 94 µg/g đối với p,p’ – DDT. Giá trị
LD50 của hoạt chất Chlonicotinyl và Pyrethroits nhỏ hơn nhiều so với các loại
lân hữu cơ và clo hữu cơ. Tính kháng đối với hoạt chất lân hữu cơ và Carbamat
không khác nhau giữa quần thể rầy nâu vào năm 1992 và 1997. Tính kháng của
rầy lưng trắng không khác biệt nhiều so với kết quả ở Nagasaki, Hàng Châu và
Tỉnh Hồng. Giá trị LD50 của rầy lưng trắng là 0.047 – 0.062 mg/g đối với hoạt
µg/g) và Trung Quốc (3.0µg/g. Đối với imidacloprid, tất cả các quần thể rầy
lưng trắng có giá trị LD50 nhỏ (0.11 – 0.34µg/g) trừ quần thể ở Nhật Bản
(Japan-KM-A) (1.06µg/g). Trong trường hợp của BPMC, LD50 của rầy lưng
trắng có ngưỡng từ 6.1 – 26.6µg/g. (Masumura et al., 2008).
Ở khu vực Đông Nam Á, rầy lưng trắng có giá trị LD50 cao đối với
Fipronil, và sự kháng lại Fipronil xảy ra rộng rãi. Theo số liệu báo cáo thì đã đã
xuất hiện tính kháng đối với Dinotefuran, Fipronil và Metconazole của rầy nâu
và rầy lưng trắng. Giá trị LD50 của rầy lưng trắng đối với Fipronil và quần thể
rầy nâu đối với Metconazole tăng gấp 10 lần trong năm 2005 đến 2007, cho thấy
rầy đã xuất hiện tính kháng thuốc. Thuốc trừ sâu Dinotefuran là nhóm
neonicotinoeid, giá trị LD 50 của rầy nâu năm 2005 đến 2007 thấp hơn so với
Imidacloprid. Giá trị LD50 của rầy nâu và rầy lưng trắng tại Nhật Bản trong
năm 2005 đến 2007 cho 7 loại thuốc trừ sâu (Malathion, Fenitrothion, MIPC,
12
12
BPMC, Carbaryl, Etofenprox và Imidacloprid) được so sánh với những nghiên
cứu trước năm 2001 của Nhật Bản. LD50 của Fipronil đối với quần thể rầy lưng
trắng được thu thập từ Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam và
Philippines có giá trị LD50 là 19,7-239 mg/g, ngoại trừ một số quần thể từ
Philippines (0,3-5. 9 mg/g) và Trung Quốc (3,0 mg/g). Rầy lưng trắng ở Châu Á
không biểu hiện tính kháng đối với Imidacloprid, giá trị LD50 của quần thể rầy
lưng trắng 0,11-0,34mg/g. Hầu như tất cả các quần thể rầy lưng trắng Châu Á
thu thập trong năm 2006 có giá trị LD50 cao kháng lại Fipronil sau 24 giờ tiếp
xúc với thuốc (Matsumura et al.,2009).
Để kiểm soát mật độ rầy, neonicotinoid và thuốc trừ sâu phenylpyrazole
như imidacloprid và Fipronil đã được sử dụng từ giữa những năm 1990 trong
các nước châu Á và Đông Dương. Phương pháp điều trị của các thuốc trừ sâu
kháng rõ ràng chỉ
bùng phát bệnh LSĐ trong thời gian tới là hết sức nguy hiểm (Chi cục BVTV
Phú Thọ, 2009).
Rầy nâu, rầy lưng trắng hại lúa đã và đang bộc phát tại các nước trồng lúa ở
khu vực Đông Nam Á và Trung Quốc từ năm 2006: sự bộc phát của rầy hại lúa
kéo theo dịch bệnh vi rút vàng lùn, lùn xoắn lá do rầy nâu truyền bệnh và bệnh
lùn sọc đen phương Nam do rầy lưng trắng truyền bệnh ngày phát sinh gây hại
nặng tại hầu hết các nước này (Cục BVTV, 2011).
Ở nước ta, bệnh này đã bắt đầu xuất hiện từ vụ mùa năm 2009 trên 20 tỉnh
thuộc khu vực Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ, trong đó tại 16 tỉnh,
bệnh này đã xuất hiện và gây hại trên cả ngô (Viện BVTV, 2009). Vụ Xuân năm
2010, bệnh virus này đã nhanh chóng lan ra 28 tỉnh thuộc khu vực miền núi phía
Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc và Trung Trung Bộ.(Đinh Văn Thành và cộng
sự, 2011 )
Trong những năm gần đây rầy lưng trắng phát triển có xu hướng gia tăng và
điển hình là chúng đã phát sinh thành dịch gây cháy rầy cục bộ vào 10 ngày đầu
của tháng 5/2000 tại một số tỉnh như Hải Phòng, Ninh Bình, Hà Nam, Nam
Định , Thái Bình và Quảng Ninh. Rầy lưng trắng phát triển thành dịch năm 2000
liên quan đến 3 yếu tố là: sự tập trung cao độ thời vụ xuân muộn, sử dụng rộng
rãi các giống lúa lai và các giống lúa thuần có nguồn gốc Trung Quốc kết hợp
với điều kiện khí hậu (nhiệt độ ấm, ít mưa và ít nắng). Lúa bị phá hại nặng là do
thế hệ rầy non thứ 2 trùng với giai đoạn lúa làm đòng, 10 ngày cuối tháng
4/2000) và đây cũng là lần đầu tiên rầy lưng trắng gây hại ở vụ Đông Xuân
(Đinh Văn Thành và cộng sự, 2008)
2.2.2.Nghiên cứu về sinh học của rầy lưng trắng
Trứng
16
16
17
đẻ đều có tỷ lệ nở cao, khác nhau không có ý nghĩa, tương ứng là 95,4 và 96,11.
Như vậy trong quần thể rầy lưng trắng, vai trò của dạng hình cánh dài quan
trọng hơn dạng hình cánh ngắn. Điều này trái ngược so với rầy nâu (Đinh văn
Thành và cs., 2011 )
Thời gian phát dục các pha của rầy lưng trắng giảm cùng với sự tăng nhiệt
độ trong khoảng 20 – 30 ±1 oC, ẩm độ dao động 73,4 – 86,7 %. Pha trứng kéo
dài từ 5,49 – 9,10 ngày. Pha rầy non dao động từ 12,48 – 15,08 ngày. Trưởng
thành bắt đầu đẻ trứng từ 3,29 – 5,5 ngày. Sức sinh sản của rầy lưng trắng đạt
cao nhất ở mức nhiệt độ 25oC là 174,2 quả/cái. Khi cây lúa 30 ngày tuổi thì sức
sinh sản của rầy lưng trắng đạt cao nhất (Hồ Thị Thu Giang và cs., 2011)
Theo Nguyễn Đức Khiêm (1995) trong điều kiện nhiệt độ 23,8 – 29,8 và độ
ẩm 93 – 94% thời gian phát dục của trứng rầy lưng trắng là 6,4 – 6,7 ngày. Ở nhiệt
độ 24,9 – 26,4 oC và độ ẩm 93 – 93,4% tỷ lệ nở của trứng rầy lưng trắng là 47,8%.
Rầy non
Ở điều kiện nhiệt độ 27,3 – 29,3 oC và ẩm độ 80,7 – 89,0%, pha rầy non
của rầy lưng trắng có 5 tuổi. Thời gian tuổi 1 và tuổi 5 hơi dài hơn các tuổi 2, 3
và 4 một chút; thời gian cả pha rầy non kéo dài 12 – 13 ngày (Đinh Văn Thành,
và cs., 2011 )
Theo Nguyễn Đức Khiêm (1995) ở nhiệt độ 26,1 – 29,8 oC và độ ẩm 93 –
93,9% thời gian phát dục của rầy non rầy lưng trắng là 12,5 – 12,9 ngày. Còn
theo Hồ Thị Thu Giang (2011) khi nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của rầy
lưng trắng tại Gia Lâm – Hà Nội thì ở nhiệt độ từ 20 – 30 oC , ẩm độ từ 73,4 –
86,7% thì pha rầy non dao động từ 12,48 – 15,08 ngày.
Trưởng thành
Theo Nguyễn Văn Đĩnh và cs. (2012), con trưởng thành của rầy lưng trắng
có kích thước cơ thể dài từ 3-4mm, thân màu nâu đen. Giữa ngực trước có một
vết vàng lợt. Cánh trong suốt và có một đốm đen to trên lưng. Trưởng thành cái
trắng phát sinh 6 -7 đợt rầy non, và các đợt phát sinh của rầy lưng trắng sớm hơn
so với rầy nâu, trong đó đợt rầy cuối tháng 4 đầu tháng 5 (Vụ Đông Xuân) và
cuối tháng 8 đầu tháng 9 (vụ mùa) là 2 đợt có mật độ cao khả năng gây hại lớn
đối với cây lúa. Mật độ và tỷ lệ rầy lưng trắng trên đồng ruộng có xu thế tăng
19
19
cao và trội hơn so với rầy nâu. Đặc biệt trên các giống lúa lai có nguồn gốc
Trung Quốc. Vụ đông xuân, ở chân ruộng thấp, đủ nước, rầy lưng trắng có mật
độ cao hơn so với chân ruộng cao, thiếu nước và ngược lại vụ mùa chúng lại có
mật độ cao hơn ở những ruộng cao, mức nước vừa phải so với những ruộng
thấp, mức nước cao.
2.2.4 Những nghiên cứu về hiệu lực của thuốc trừ rầy lưng trắng và tính
kháng thuốc của rầy lưng trắng trong nước
Theo Nguyễn Thị Kim Oanh (2007), khi đánh giá hiệu lực trừ rầy lưng
trắng của 5 loại thuốc tại bản Nà Và (Yên Châu) năm 2007 ở giai đoạn lúa đẻ
nhánh rộ và rầy non chủ yếu đang ở tuổi 2. Kết quả ghi nhận mật độ rầy sau 3
ngày phun ở các công thức thí nghiệm đều giảm đáng kể và sau 7 ngày mật độ
rầy giảm rõ rệt. Trong 5 loại thuốc thí nghiệm, hiệu lực trừ rầy cao nhất là
Actara 25WG (89,6%), kế đến là thuốc Superista 25EC, Conphai 10WP, Bassa
50EC hiệu lực trừ rầy đều đạt ở mức khá cao (80,9- 81,8%). Hiệu lực trừ rầy
kém nhất là Regent 800WG chỉ đạt 68,7%.
Nguyễn Thị Me và cs. (2010), nghiên cứu sử dụng thuốc bảo vệ thực
vật phòng trừ rầy lưng trắng – môi giới truyền bệnh lùn sọc đen phương nam tại
Nghi Lộc – Nghệ An cho thấy thí nghiệm thuốc Enaldo 40FS xử lý hạt giống
(với liều lượng 40 – 60 ml/60kg hạt giống lúa gieo để cấy 1ha) đạt hiệu quả rất
cao. Rầy trưởng thành thả vào khay mạ 10 ngày tuổi có xử lý hạt giống bằng
Enaldo 40FS bị chết trên 80% sau 1 ngày thả và sau 3 ngày thả tỷ lệ này đạt
-Thời gian: tháng 7/2015 đến tháng 1/2016
-Địa điểm: Phòng thí nghiệm Bộ môn Côn trùng, khoa Nông học, Học viện
Nông nghiệp Việt Nam.
3.2.Đối tượng, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu.
3.2.1. Đối tượng nghiên cứu.
Rầy lưng trắng quần thể Phú Thọ.
3.2.2. Vật liệu, dụng cụ nghiên cứu.
- Giống lúa Bắc thơm 7.
- Dụng cụ thu thập mẫu: ống hút rầy, được thiết kế chuyên cho việc hút rầy
ngoài đồng ruộng cũng như trong phòng thí nghiệm, lồng lưới nuôi rầy bao gồm
cả khay gieo lúa để khi thu thập rầy có sẵn nguồn thức ăn.
- Dụng cụ nhân nuôi côn trùng: nhà lưới, lồng lưới các cỡ 60x60x120 cm,
40x40x60 cm, 30x30x30 cm, khay gieo mạ, giá thể, ống tuýp, điều hòa nhiệt độ,
các dụng cụ đo nhiệt độ, độ ẩm,...
- Dụng cụ thử thuốc BVTV: Bộ micropipettes 10 µl, lọ thủy tinh, bình CO2
(SGA), đĩa petri, bút lông, hộp nhựa giữ rầy, kính lúp cầm tay, cân phân tích
Ohaus...
- Các hoạt chất thuốc thử nghiệm tính kháng của rầy lưng trắng: Profenofos,
Fenobucarb, Buprofezin, Pymethrozine, Emamectin benzoate, Thiosultap sodium.
3.3. Nội dung nghiên cứu.
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của rầy lưng trắng hại lúa: Thời
gian phát dục các pha, khả năng đẻ trứng, tỷ lệ nở của trứng, vòng đời.
- Xác định độ mẫn cảm (giá trị LD50) của rầy lưng trắng với các hoạt chất:
Emamectin benzoat, Imidacloprid, Fenobucab và Pymetrozine
22
22
xi măng để nhân nuôi và lưu trữ nguồn rầy. Những cá thể rầy F1 trở đi mới bắt
đầu tiến hành làm thí nghiệm.
Hình 2: Lồng Mica nhân nuôi nguồn rầy
Nguồn ảnh: Bùi Thị Quý
3.4.2.1 Phương pháp nhân nuôi cá thể:
Sử dụng 3 gam hạt giống lúa Bắc Thơm số 7cho vào khay gieo mạ. Khi mạ
được 1 tuần tuổi cho vào ống nghiệm.
a.
Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học của rầy nuôi trong ống
nghiệm
Chọn bắt rầy cái chửa thả vào ống nghiệm kích thước Ø3,0 x 20cm, bên
trong có sẵn dảnh lúa sạch 7-10 ngày tuổi, phía dưới gốc lúa được quấn bằng
bông ẩm, phía trên miệng ống nghiệm được bịt bằng vải màn buộc kín để rầy
không ra ngoài được. Sau 1 ngày hút toàn bộ lượng rầy ra khỏi ống nghiệm cho
24
24
trứng phát triển trên thân cây lúa. Hàng ngày chăm sóc và theo dõi lúa, khi thấy
rầy cám xuất hiện thì ghi lại ngày trứng nở. Theo dõi thời gian phát dục các pha
của rầy non theo phương pháp cá thể, tiến hành thu những cá thể rầy cám tuổi 1
nở cùng ngày đựng vào từng ống nghiệm có sẵn dảnh lúa sạch 7-10 ngày tuổi
(gốc quấn bông ẩm, đầu trên được bịt bằng vải màn). Hàng ngày theo dõi và ghi
chép lại thời gian lột xác ở từng tuổi, ghi chép số cá thể rầy chết từ đó tính được
thời gian phát dục từng tuổi. Số cá thể theo dõi n>= 30.
b.