i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Lâm
nghiệp, tôi luôn nhận được sự quan tâm dạy dỗ và chỉ bảo ân cần của các thầy
giáo, cô giáo và sự giúp đỡ nhiệt tình của các bạn đồng nghiệp, sự động viên
của gia đình người thân đã giúp tôi vượt qua những khó khăn trở ngại để hoàn
thành chương trình đào tạo Thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp.
Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới GS.TS.
Trần Văn Mão đã hướng dẫn khoa học và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi
trong quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cám ơn tới Ban giám hiệu Nhà Trường, khoa Đào
tạo Sau đại học, khoa Quản lý Tài nguyên rừng và Môi trường, các thầy cô
giáo hợp tác giảng dạy tại khoa Sau đại học và các thầy cô trong Trung tâm
thí nghiệm khoa Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Trung tâm Tư vấn và
Thông tin lâm nghiệp, các anh chị em cùng trung tâm đã tạo mọi điều kiện tốt
nhất cho tôi để tôi hoàn thành khoá học này.
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn, do điều kiện hạn chế về
thời gan, nhân lực và những khó khăn khách quan nên luận văn không tránh
khỏi những thiếu sót. Tôi mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp quý
báu của các thầy, các cô, các nhà khoa học và các bạn bè đồng nghiệp để luận
văn được hoàn thiện hơn.
Tôi xin cam đoan các số liệu trong luận văn là hoàn toàn có thực, được
thu thập trong quá trình điều tra và luận văn này chưa từng được công bố.
Xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 03 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thành Chung
2.5.4. Phương pháp sử lý số liệu ........................................................... 27
iii
Chương 3. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU ............................................................................................... 28
3.1. Điều kiện tự nhiên .............................................................................. 28
3.1.1. Vị trí địa lý .................................................................................... 28
3.1.2. Khí hậu – thuỷ văn ....................................................................... 28
3.1.3. Địa hình ........................................................................................ 30
3.1.4.Đất đai ............................................................................................ 31
3.1.5. Thảm thực vật............................................................................... 31
3.2. Tình hình dân sinh, kinh tế - xã hội ................................................. 31
Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................ 33
4.1. Các loài cây cảnh hiện có tại khu vực nghiên cứu .......................... 33
4.2. Các loài sâu bệnh hại tại khu vực nghiên cứu ................................. 36
4.3. Tỷ lệ cây bị hại và mức độ bị hại của sâu, bệnh hại cây cảnh tại
khu vực nghiên cứu ................................................................................... 39
4.3.1. Tỷ lệ cây bị hại và mức độ bị hại của sâu hại cây cảnh tại khu
vực nghiên cứu ....................................................................................... 39
4.3.2. Tỷ lệ cây bị hại và mức độ bị hại của bệnh hại cây cảnh tại khu
vực nghiên cứu ....................................................................................... 40
4.3.3. Xác định các loài sâu bệnh hại chính ......................................... 43
4.4. Một số loài sâu hại chủ yếu: ............................................................. 43
4.4.1. Ve sáp ngài trắng hại Ngọc lan ................................................... 43
4.4.2. Tằm trắng xám hại Đa, Si............................................................ 44
4.4.3. Bọ trĩ ống hại Đa, Si .................................................................... 45
4.4.4. Sâu hại Đa, Si .............................................................................. 46
4.4.5. Sâu hại Long não ........................................................................ 47
PHỤ LỤC
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng
TT
Trang
2.1
Điều tra sâu ăn lá
20
2.2
Quy định thống kê diện tích bị hại một số loài sâu ăn lá
20
2.3
Thống kê điều tra sâu hại cành
21
2.9
Quy định về diện tích bị hại sâu đục thân
22
2.10 Điều tra sâu dưới đất ở vườn ươm
22
2.11 Điều tra sâu hại quả hạt theo phân tầng tán cây
23
2.12 Điều tra sâu hại quả hạt
23
2.13 Ghi chép điều tra sơ bộ
23
2.14 Tiêu chuẩn phân cấp bệnh hại lá, quả, cành
24
2.15 Tiêu chuẩn phân cấp bệnh hại thân
24
Các loài sâu bệnh hiện có tại trường Đại học Lâm nghiệp
36
vi
DANH MỤC CÁC HÌNH
TT
Tên hình
Trang
3.1 Sơ đồ khí hậu khu vực nghiên cứu (theo Gaussen – Walter)
30
4.1 Tỷ lệ sâu bệnh trên cây cảnh trường Đại học Lâm nghiệp
39
4.2 Tỷ lệ cây bệnh và mức độ bị hại cây Tếch và cây Cau cảnh
42
1
2
lập hội sinh vật cảnh và hiệp hội sinh vật cảnh đều có những nhận xét về sự
phát triển mạnh mẽ về cây cảnh, khi nền kinh tế và văn hóa đang ngày càng
tiến bộ. Cây cảnh mang lại cho con người không chỉ về cảm giác mà điều
quan trọng là tăng lượng cây xanh khử chất độc trong không khí tại vườn nhà.
Về mặt xã hội, cây cảnh, có nhiều tác dụng đối với xã hội, khi tặng một
bông hoa, một bó hoa trong các ngày lễ tết gây cho ta một cảm giác trang
nghiêm, vui vẻ, hữu tình, hạnh phúc, thân hữu trong cuộc sống. Hoa cây cảnh
còn dùng để giao lưu, đoán mệnh, đón tiễn khách, chúc thọ, chúc sức
khoẻ...Dùng hoa còn để làm Quốc hoa cho nhiều nước trên thế giới. Cho nên
cây cảnh có ý nghĩa xã hội rất sâu sắc.
Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân như chưa có giống tốt, thiếu phương
tiện, sản xuất tản mạn, đầu tư thấp, thiếu cán bộ kỹ thuật, thiếu nguồn nhân
lực chuyên môn, khí hậu thời tiết thay đổi nhiều...nên nghề trồng cây cảnh
chưa phát triển đáp ứng nhu cầu về kinh tế. Trong đó sâu bệnh hại là một
trong những nguyên nhân đáng kể. Sâu bệnh hại cây cảnh là một loại tác hại
tự nhiên khá phổ biến, cây trong toàn bộ quá trình sinh trưởng và phát triển từ
lúc cây con đến khi lớn đều bị xâm nhiễm của các sinh vật và phi sinh vật.
Chúng không chỉ ức chế sinh trưởng làm giảm chất lượng và sản lượng của
cây mà còn có thể làm cho cây chết, gây ra tổn thất cho nền kinh tế thậm chí
còn phá hoại nghiêm trọng môi trường sinh thái.
Trong quá trình chăm sóc cây cảnh do thiếu những hiểu biết về sâu
bệnh hại hoặc do sự nhầm lẫn trong phòng trừ sâu bệnh đã gây ra những tổn
thất kinh tế nghiêm trọng, kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh hại vẫn còn lạc hậu so
với yêu cầu hiện đại hoá đất nước.
Cây cảnh trường đại học Lâm nghiệp ngoài các giá trị về kinh tế, sinh
thái xã hội, nó còn có một giá trị rất to lớn khác đó là giá trị giáo dục và
nghiên cứu khoa học. Phòng trừ sâu bệnh hại cây cảnh là một trong những
Nghệ thuật cây cảnh ngoài việc biểu hiện cây xanh với giáng vẻ tự
nhiên của cây, còn diễn tả tư tưởng, tình cảm và trình độ thẩm mỹ của tác giả,
nó có ý thơ, nét họa, phản ánh đặc trưng của xã hội.
Nghệ thuật cây cảnh chú trọng đến cái đẹp trong sự sáng tạo nghệ
thuật. Việc trồng cây là cơ sở cho nghệ thuật chậu cảnh, là giai đoạn đầu, còn
giai đoạn sau là giai đoạn của sự phát triển cái đẹp nghệ thuật.
1.2. Lược sử nghiên cứu và phát triển nghệ thuật cây cảnh ở nước ngoài
1.2.1. Lược sử phát triển nghệ thuật cây cảnh Trung Hoa
Trung Hoa là cái nôi của nghệ thuật cây cảnh thế giới và được truyền
bá sang Nhật Bản từ đời nhà Đường. Nghệ thuật cây cảnh sản sinh không phải
là ngẫu nhiên mà nó gắn liền với sự phát triển của văn học cổ đại, hội họa và
nghệ thuật vườn - công viên. Ngay từ thế kỷ thứ V Trung Hoa đã có sách sơn
thủy, văn học sơn thủy xuất hiện sớn hơn sách sơn thủy, chúng là cơ sở thai
nghén và sản sinh ra nghệ thuật cây cảnh. Ngoài các tư tưởng triết học cổ của
Trung Hoa như thuyết tự nhiên luân hồi của Lão Tử, thuyết tự tu dưỡng của
5
Khổng tử cũng không tách rời sự ra đời và phát triển của nghệ thuật cây cảnh
Trung Hoa.
Người Trung Hoa phân biệt rất rõ chậu cảnh (bồn cảnh) và bồn tài
(bonsai). Bonsai (Penzai) trong tiếng Nhật, Hán Việt có nghĩa là “cây con
trồng trong chậu” là loại cây nhỏ có dáng cổ thụ trồng trong chậu. Theo một
số chuyên gia nghiên cứu về cây cảnh nghệ thuật bonsai của Nhật Bản chính
là bắt nguồn tử nghệ thuật penjing (Bồn cảnh) của Trung Quốc.
Penjing là nghệ thuật sáng tạo cảnh vật thu nhỏ trong bồn chứa của
Trung Hoa. Từ penjing gồm hai ký tự “pen” nghĩa là “chậu” hay “vật chứa”,
và “jing” nghĩa là “cảnh quan”. Một nghệ nhân có thể sử dụng nguyên liệu là
cây và đá tự nhiên để miêu tả sinh động cảnh núi non thôn dã với suối chảy
giống với những nét đặc điểm ngẫu nhiên nào đó. Các biến chế của penjing là
bất tận. Trong truyền thống Trung Hoa, penjing là nghệ thuật của giới học giả
cũng như là nhà thơ, nghệ thuật viết chữ đẹp, hội họa và nghệ thuật sân vườn.
Trong những năm sau này của triều Thanh (1644-1911), thế kỷ 19, ách ngoại
sâm đã dẫn tới thời kì suy tàn của penjing, chiều hướng ngày càng trầm trọng
trong suốt những năm chiếm đóng và đô hộ của nước ngoài, chiến tranh, nội
chiến, cách mạng mà Trung Hoa đã trải qua suốt thế kỉ 20. Những bộ sưu tập
cổ đã bị thất lạc, những nghệ nhân đã phải đấu tranh để tồn tại và để vượt qua
bằng chính kiến thức, sự hiểu biết sâu sắc của họ. Chỉ trong thời gian 20 năm
sau đó, điều kiện ở Trung Hoa mới cho phép bắt đầu thời kì phục hưng môn
nghệ thuật cổ sưa này. Ngày nay, số lượng những người đam mê và sưu tầm
ngày càng nhiều, họ khám phá bản ngã của mình trong nghệ thuật penjing.
Có giả định rằng, nghệ thuật sáng tạo cây thu nhỏ đã du nhập vào nước
Nhật khoảng thế kỉ thứ 13. Thời gian chính xác thì không được biết đến.
Trong thế kỉ thứ 6 và thứ 7, Nhật Bản gửi phát viên (công sứ) đến Trung Hoa
để nghiên cứu về nghệ thuật, kiến trúc, ngôn ngữ, văn chương cũng như hệ
thống pháp luật của Trung Hoa. Nhập khẩu văn hóa và nghệ thuật Trung Hoa
7
đã sảy ra trong suốt thời đại Nam Tống (11271279). Chan, một hình thức
của đạo phật với giáo huấn có nguồn gốc Ấn Độ kết hợp với Đạo Lão, một
đạo gốc Trung Hoa, đã du nhập với Nhật Bản trong thời gian này dưới tên
(Zen). Sự chuyển giao văn hóa lớn bắt đầu vào những năm 1200, những
nghệ sỹ Nhật Bản tiếp tục tìm sự định hướng, triết lý, tự do “mượn” ý tưởng,
chủ đề (cảm hứng), cũng như kiến thức về kĩ thuật và nghệ thuật làm vườn ở
Trung Hoa.
Mục đích của các nghệ nhân penjing không chỉ tái hiện lại cảnh thiên
nhiên trong một bồn chứa mà còn nắm bắt được cái tinh túy và cái hồn của
tiếp và riêng biệt.
Để biểu hiện sâu sắc về bonsai, penjing, việc thực hành sáng tạo cây và
phong cảnh thu nhỏ cần được cảm nhận dưới góc độ của hai trường phái triết
học lớn Trung Hoa là Đạo Lão và Thiền – Phật giáo. Đạo Lão đã dung những
ảnh hưởng sâu sắc đến nghệ thuật Viễn Đông trên 2000 năm. Đó là cách tư
duy sống mà có thể đạt được sự tự do về thể xác và tâm hồn. Mục đích của
Đạo Lão nêu rõ nguồn gốc đích thực bằng việc vứt bỏ những công thức tư
duy và thái độ mang tính quy ước cứng nhắc. Nó cho thấy rằng bằng việc theo
học ngoại cảnh và đưa ra ý nghĩa của chúng ta một cách tự nhiên, năng lượng
sáng tạo to lớn có thể được khơi mở. Việc tác động vào nhịp điệu của tự nhiên
và am hiểu về sự bị tác động qua lại của mọi thứ xung quanh ta là thành phần
chủ yếu của giáo huấn Đạo Lão. Phật giáo Thiền tiến triển như một thánh mới
của đạo phật mang những đặc điểm Trung Hoa độc đáo. Sau khi những nhà tu
Ấn Độ đã truyền bá giáo huấn của Đức Phật vào Trung Hoa khoảng 2000
năm trước đây, kinh kệ đã được biên dịch bởi những nhà hành nghề truyền
giáo Đạo Lão ở Trung Hoa. Điều này đã dẫn đến một kiểu bị động hóa cao
của Phật Giáo, cái mà vẫn giữ được rất nhiều yếu tố của Đạo Lão. Ngồi thiền
theo phong cách Trung Hoa (“zou chan”theo tiếng Trung Quốc, và “za zen”
theo tiếng Nhật) không nhằm mục đích tìm kiếm để mang tư tưởng đặt dưới
9
sự kiểm soát cứng nhắc như ở Phật giáo Ấn Độ truyền thống, nhưng thay vào
đó là để giải phóng, khuyến khích luồng tư tưởng không bị trở ngại, tốt đẹp
thực sự và tự nhiên. Chan đã phổ biến ở các nước phương Tây với tên tiếng
Nhật là Zen, dạy rằng tư tưởng giác ngộ có thể tìm thấy sự sáng tỏ ở mọi nơi,
tại mọi thời điểm, dưới hình thức “sự lĩnh hội đột xuất”. Và vì vậy, một nghệ
nhân bonsai hay penjing, làm việc với các nguyên liệu tự nhiên và sự tập
trung tại mọi thời điểm, có thể đến với sự hiểu biết bất ngờ, nguồn cảm hứng
năm được nghệ nhân cắt tỉa tạo nên hình dáng đầy uy lực. Có khi Bonsai
trưởng thành từ cây con, qua bàn tay khéo léo của nghệ nhân, người xem hình
dung đó là cây cổ thụ nhỏ xíu vươn cao tỏa bóng rồi uốn nghiêng như hang
thông bị gió biển thổi dạt.
Bonsai trong tiếng Nhật có nghĩa là thu nhỏ thế giới cỏ cây, một bộ
môn nghệ thuật tạo ra bức tranh nhỏ thiên nhiên đến điêu luyện. Yếu tố quan
trọng để làm lên vẻ đẹp của Bonsai là tìm được nét nổi bật của từng loại cây.
Nghệ nhân trồng Bonsai có thể bắt đầu từ một cây khoảng 20 năm tuổi
sau đó phải mất 10 năm thậm chí đến vài chục năm bỏ nhiều công sức tỉa
cành, tạo dáng, tạo thế mới như mình mong muốn. Nếu uốn không khéo,
Bonsai sẽ dùng cái chết để chống lại vì vậy nghệ nhân luôn coi Bonsai như
chính người học trò, luôn động viên chia sẻ với Bonsai vào những ngày nắng
mưa hay bão tuyết.
Các nghệ nhân Bonsai của Nhật Bản thường nói, nếu nghệ nhân làm
vườn đi tìm vẻ đẹp bên ngoài của cây lá thì nghệ nhân Bonsai lại hướng tới vẻ
đẹp tiềm ẩn bên trong.
Hiện tại Nhật Bản lưu giữ loại Bonsai chỉ là một cội thông vài lá cao
không quá 80cm nhưng đã có tới 500 tuổi. Thân cây đã chết, chuyển sang
màu trắng, chỉ có một phần vỏ cây là còn màu xanh gồng mình lên gánh lấy
sự sống.
11
Từ những năm 1980, nghệ nhân Bonsai của Nhật Bản đã lan truyền từ
châu Á sang châu Âu, tới tận châu Mỹ. Rất nhiều nghệ nhân cây cảnh trên thế
giới tới Nhật Bản để học cách trồng và chăm sóc Bonsai. Bonsai là nghệ thuật
mà con người phải nghiêng mình trước sự qúi giá của sự sống.
1.2.3. Lược sử phát triển nghệ thuật cây cảnh các nước phương tây
Những cây Bonsai đầu tiên đến Phương Tây hầu hết có xuất xứ từ Nhật
thống), cây tự nhiên (gồm các hình dáng cây khá tự do), cây bonsai (loại cây
tạo theo mô típ truyền thống Trung Hoa, Nhật Bản và cây mô phỏng sự vật
(mô phỏng con vật – hươu, voi..; mô phỏng cổng làng, chùa Một Cột..). Cùng
với việc tạo cây, nghệ thuật bài trí, bên cạnh các mô típ truyền thống như sân
vườn, đình, chùa, cũng đã có những bước phát triển lớn theo phong cách hiện
đại, góp phần không nhỏ trong việc tạo nên môi trường đẹp phục vụ cho đời
sống nhân dân. Nhiều vùng miền của đất nước đã có những sản phẩm đặc
trưng của mình như Đào, Quất và lối chơi cây cảnh mang phong cách Hà Nội;
cái đặc sắc của Vị Khê (Nam Định), lối chơi cây và đá của Ninh Bình.. Ở
Miền Nam thì có Mai vàng và các trung tâm cây cảnh đặc trưng như thành
phố Hồ Chí Minh, Bến Tre.. Miền Trung có Đà Lạt, Bình Định…Gần đây,
các Festival sinh vật cảnh ở nhiều tỉnh đã khẳng định sự phát triển mạnh mẽ
của sinh vật cảnh Việt Nam.
Cây cảnh đang từng bước đi vào cuôc sống của nhân dân với mọi tầng
lớp, mọi đối tượng, mọi lứa tuổi. Chưa bao giờ cây cảnh ở nước ta lại thu hút
được nhiều đối tượng như hiện nay. Nó đã trở thành thú chơi tao nhã phong
lưu không chỉ bó hẹp ở một bộ phận, mà thú vui của hầu hết mọi nhà, cho
toàn xã hội. Cây cảnh đang trở thành nhu cầu thiết thực về mặt tinh thần, nó
hiện diện cả trong nhà lẫn hang hiên, ngoài sân, vườn… Các lăng tẩm ở cố đô
Huế, vườn đình chùa cổ ở khắp nơi trong nước, không nơi nào không thể
thiếu vườn hoa.. Một môi trường đẹp thì không thể thiếu hoa, cây cảnh. Trong
những năm gần đây, việc trùng tu và xây mới đình chùa ở nhiều nơi trong
13
nước, không nơi nào không có kiến tạo cảnh quan đẹp, kì thú và đã tạo nên
danh lam thắng cảnh của đất nước như Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, Bái
Đính... Đó là một minh chứng cho việc cần thiết phải đi sâu nghiên cứu việc
chăm sóc, bảo vệ và tôn tạo.
Cây Lộc vừng
Cây Lộc vừng (Barringtonia acutangula) thuộc họ Lộc vừng
(Lecythidaceare) có nhiều loại Lộc vừng hoa trắng, Lộc vừng hoa đỏ, lộc
vừng quả to, Lộc vừng hoa vàng. Người ta thường trồng loài Lộc vừng hoa đỏ
(Barringtonia acutangula ssp. spicata).
Cây Đa
Cây Đa, Sy, Sanh đều thuộc chi Ficus (sung vả) họ Dâu tằm
(Moarceae). Theo từ điển cây rừng Việt Nam, nước ta có khoảng 10 loài Đa
khác nhau. Ta thường trồng loài Đa búp đỏ (Ficus elastica). Đa là loài cây gỗ
thường xanh, có rễ khí sinh, bạnh vè rộng, lá to, trên ngọn màu đỏ nên gọi là
Đa búp đỏ. Phân bố nhiều ở vùng Nhiệt đới và Á nhiệt đới. Đa có nhiều tác
dụng chủ yếu là làm cây bóng mát, cây tâm linh. Đa có thể trồng ở vùng núi
thấp, chân núi, bờ sông. Gỗ có nhiều thớ mịn làm dụng cụ gia đình, vỏ cây có
thể làm giấy.
1.3. Tình hình nghiên cứu về sâu bệnh hại cây cảnh
Về sâu bệnh hại cây cảnh đã được đề cập trên 250 năm tại một số vườn
cây cảnh ở Trung Quốc. Vấn đề phòng trừ sâu bệnh cây cảnh cũng phát triển
mạnh vào thập kỷ 60 của thế kỷ XX. Trong thời kỳ đó người ta chú ý đến
những cây cảnh quanh các chùa chiền, nơi vua quan ở và chỉ một số cây như
Đào tiên, Trúc đào, Mẫu đơn, Thược dược. Ngày nay do nhiều cây cảnh được
thu thập từ rừng về số loài cây cảnh rất đa dạng như Lộc vừng, Ngọc lan, Sấu,
Xoài, Muồng... nên sâu bệnh hại cũng khá đa dạng.
15
Trong nhiều tài liệu về sâu bệnh cây cảnh đều đề cập đến phương pháp
phòng trừ tổng hợp như trong cuốn Phòng trừ sâu bệnh cây cảnh của Yuan
Wu năm 2008 đã nêu lên khá đầy đủ về 4 biện pháp phòng trừ như: 1. Sử
dụng thuốc hợp lý; 2. Phát huy ưu điểm của phòng trừ tổng hợp, nâng cao
trùng lá, loét thân thối mềm gốc. Về bệnh thân cành tác giả đã mô tả 11 bệnh
thối gốc, thân, thối quả, 1 bệnh loét thân 7 bệnh khô cành 3 bệnh chổi sể, 2
bệnh chảy nhựa và 1 bệnh do cây ký sinh gây ra. Về bệnh hại rễ chủ yếu là
bệnh khô héo, bệnh thối gốc rễ tất cả có 10 bệnh.
Về sâu hại lá cây cảnh Yang Ziqi (2001) đã mô tả 18 loài thuộc họ ngài
đêm (Noctuidae), 7 loài thuộc họ sâu đo (Geometridae), 9 loài thuộc họ bọ nẹt
(Limacodidae), 5 loài họ Ngài thuyền (Notodontidae), 11 loài họ Ngài trời
(Sphingidae), 4 loài họ Ngài cuốn lá (Tortricidae), 3 loài họ Ngài đốm 16 loài
bướm (Papilionidae), 6 loài họ sâu xám (Limantriidae), 5 loài sâu Túi
(Psychidae), 5 loài Ngài tằm ( Saturniidae), 4 loài Ngài đèn (Arctiidae), 3 loài
Ngài lá khô (Lasiocampidae), 9 loài bọ lá (Chrysomelidae), 5 loài vòi voi
(Curculionidae), 11 loài bọ hung (Cerambicidae), 3 loài Ban miêu (Epicauta
spp.), 3 loài ong ăn lá (Tenthredinidae), 4 loài châu chấu (Ceracris spp.) và 10
loài sâu đục lá.
Về sâu hại thân cành hầu hết là sâu đục thân cành, tác giả trên cũng đã
đề cập đến 23 loài xén tóc (Cerambicidae), 5 loài cát đinh (Buprestidae), 8
loài vòi voi (Curculidae), 3 loài ngài đục gỗ (Cosidae), 3 loài sâu xám đục
ngọn (Pyralidae), một số loài ong mọt ruồi đục cành non và quả.
Về sâu hại chích hút tác giả đã mô tả 27 loài rệp sáp (Diaspididae), 17
loài rệp ống (Aphididae), 11 loài ve lá (rầy), 4 loài ve sáp, 8 loài bọ xít
(Miridae), 5 loài rận gỗ (Trioza spp.), 3 loài rận phấn (Dialeurodes spp.) và 2
loài bọ trĩ (Dendrothrips spp.).
Về sâu hại dưới đất tác giả trên đã mô tả 3 loài sâu xám, 3 loài mối, 3
loài dế mèn, 1 loài dế dũi. Ngoài ra các loài thuộc hệ và động vật khác cũng
17
được tác giả đề cập đến như 1 loài nhện lá và nhện u, 1 loài sên và 1 loài ốc
sên cũng thường gây hại cây cảnh.
Xác định đặc điểm sinh học, sinh thái của một số loài sâu bệnh.
Xác định tỷ lệ cây bị hại và mức độ bị hại của từng loài sâu bệnh hại.
Xác định những loài thiên địch của sâu bệnh hại cây cảnh trên địa bàn.
Đề xuất các biện pháp phòng trừ theo hướng IPM.
2.2. Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu được tiến hành tại trường Đại học Lâm nghiệp,
Thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.
2.3. Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu được tiến hành từ tháng 9 năm 2012 đến tháng
2 năm 2013.
2.4. Nội dung nghiên cứu
Xác định các loài cây cảnh hiện có tại khu vực.
Xác định các loài sâu, bệnh hại cây cảnh hiện có tại khu vực.
Điều tra và tính toán các chỉ số bị hại, tỷ lệ cây bị hại, mật độ tương đối
mật độ tuyệt đối của các loài sâu bệnh hại chủ yếu.
Mô tả đặc điểm sinh vật học các loài sâu bệnh hại chủ yếu.
Điều tra một số loài thiên địch sâu hại cây cảnh.
19
xut cỏc bin phỏp phũng tr theo hng IPM, cú th th nghim
bin phỏp húa hc phũng tr nu cn thit v tớnh toỏn hiu qu phũng tr.
2.5. Phng phỏp nghiờn cu
Cỏc phng phỏp nghiờn cu theo cỏc ni dung nghiờn cu trờn c
tin hnh nh sau:
2.5.1. Phng phỏp k tha
K tha l phng phỏp nghiờn cu khoa hc, t cỏc ti liu ó cụng b
trong v ngoi nc chỳng tụi tin hnh so sỏnh vi nhng nghiờn cu ca
bn thõn. T cỏc ti liu v phõn loi cụn trựng chỳng tụi xỏc nh mt s loi