Vũ Hồng Dung Kn 901 Đề tài nghiên cứu khoa học
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1.Đặt vấn đề
Đối với cây rau nói chung, rau họ hoa thập tự nói riêng thì tầm quan
trọng của chúng trong đời sống hàng ngày đã được cha ông ta thừa nhận qua
câu ca dao: "Cơm không rau như đau không thuốc".
Về mặt dinh dưỡng, rau là loại thực phẩm quan trọng, rau cung cấp cho
cơ thể những chất quan trọng có tác dụng điều hoà cân bằng kiềm tan trong
máu làm tăng khả năng đồng hoá prôtein. Ngoài ra, rau còn bổ sung lượng
vitamin, muối khoáng, axit hữu cơ và chất thơm giúp cơ thể chống bị bệnh
phù thũng, mỏi mệt khi làm việc, tăng sự dẻo dai cho hệ tuần hoàn, hệ thần
kinh. Hàng ngày, để đảm bảo năng lượng cần thiết thì một người phải dùng từ
250 - 300g (khoảng 7,5 - 9 kg rau cho 1 người mỗi tháng).
Trong trồng trọt hiện nay thì nghành trồng rau là nghành mang lại lợi
nhuận cao, tạo công ăn việc làm cho nhiều người lao động, giá trị sản xuất 1
ha rau cao gấp 1 - 3 lần lúa (theo Lê Trường và ctv, 1995 và bộ môn chẩn
đoán giám định dịch hại viện BVTV, 2006 ) [33], [1].
Rau cũng là loại hàng hóa có giá trị xuất khẩu cao. Thời kỳ 1986 - 1990
nước ta xuất khẩu đạt 5,15 triệu USD. Năm 1997 kim ngạch xuất khẩu rau
quả của Việt Nam đạt 140 triệu USD tăng 170% so với năm 1986 và chiếm
1,6 tổng kim ngạch xuất khẩu trong cả nước [1].
Trong số các loại rau trồng ở Việt Nam thì rau họ hoa thập tự là một
nhóm rau có giá trị dinh dưỡng và đem lại giá trị kinh tế cao. Chính vì vậy,
mà các loại rau họ hoa thập tự được rất nhiều người ưa thích, và chúng được
trồng rộng rãi trên khắp cả nước. Tuy nhiên với sự phong phú về chủng loại,
sự gia tăng về diện tích, đa dạng về sinh thái cùng với sự hình thành và mở
rộng các vùng chuyên canh, thâm canh nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường,
1
Vũ Hồng Dung Kn 901 Đề tài nghiên cứu khoa học
cây rau đã chịu sự phá hại ngày càng tăng của nhiều loại sâu bệnh (Viện khoa
Vì bọ nhảy là loài gây hại chủ yếu trên rau họ hoa thập tự, thường gặp
rất nhiều ở các vùng trồng rau trên thế giới và các vùng chuyên canh rau ở
Việt Nam nên bọ nhảy Phyllotreta striolata Fabricius được đánh giá là một
trong những loài sâu gây hại nghiêm trọng làm ảnh hưởng rõ rệt đến năng
suất và phẩm chất cây trồng. Việc phòng chống bọ nhảy hiện nay vẫn đang
gặp nhiều khó khăn do đặc điểm của chúng: ở pha sâu non chúng chui xuống
đất và gây hại còn pha trưởng thành chúng có khả năng nhảy nhanh. Bên cạnh
đó việc phát hiện kẻ thù tự nhiên của bọ nhảy để khống chế sự phát triển của
chúng là điều rất khó và hiện nay chưa thực hiện được. Trên thực tế ngoài
đồng ruộng, người nông dân phòng trừ bọ nhảy dựa vào biện pháp hoá học là
chủ yếu, nhiều nơi còn quá lạm dụng thuốc hóa học và sử dụng rất tùy tiện
dẫn đến hiệu quả của việc phòng chống chưa được cao, độ an toàn sản phẩm
thấp và tác động mạnh đến cân bằng sinh thái.
Để phòng trừ hiệu quả một loài sâu hại nói chung, bọ nhảy nói riêng thì
trước hết phải hiểu được tập tính sống và các đặc tính sinh vật học, sinh thái
học của chúng.
Chính vì vậy, để góp phần đề xuất biện pháp phòng trừ bọ nhảy trên
rau họ hoa thập tự nói chung và cải Xanh Ngọt nói riêng, có hiệu quả và hợp
lý hơn nữa chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của bọ nhảy
(Phyllotreta striolata Fabricius) hại họ rau thập tự và biện pháp phòng
chống trong vụ Xuân Hè 2009”.
1.2. Mục đích của đề tài
Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và biện pháp phòng trừ
bọ nhảy Phyllotreta striolata Fabricius hại rau họ hoa thập tự vụ Xuân Hè
3
Vũ Hồng Dung Kn 901 Đề tài nghiên cứu khoa học
2009 từ đó đề xuất biện pháp phòng trừ bọ nhảy Phyllotreta striolata
Fabricius đạt hiệu quả kinh tế và môi trường.
1.3. Yêu cầu của đề tài
màu vàng sữa. Trong điều kiện nhiệt độ khoảng 26
o
C trứng phát dục từ 4 - 8
ngày.
Quy luật phát sinh gây hại của họ nhảy có liên quan trực tiếp với một
số yếu tố ngoại cảnh: nhiệt độ và độ ẩm. Nhiệt độ dưới 10
o
C hoặc trên 34
o
C
bọ nhảy ít hoạt động và tìm nơi ẩn náu. Độ ẩm không khí trên 80% là thích
hợp, dưới 80% sẽ ảnh hưởng rõ rệt đến số lượng trứng đẻ và tỷ lệ sâu sống.
5
Vũ Hồng Dung Kn 901 Đề tài nghiên cứu khoa học
Mưa nhiều, bọ nhảy đẻ ít và tỷ lệ nở cũng như tỷ lệ sống sót sâu non
thấp.
Do trưởng thành bọ nhảy sống lâu và đẻ trứng kéo dài nên không tạo
thành lứa rõ rệt. Hàng năm chúng phá hại nhiều trên cây vụ Đông từ tháng 9
đến tháng 4 nhưng gây thiệt hại nặng nhất vào tháng 2 đến tháng 3.
Theo Nguyễn Thị Hoa và cộng sự (2002) [3] sâu hại rau họ hoa thập tự
chủ yếu có 6 loài: sâu tơ, sâu khoang, sâu xám, bọ nhảy, rệp và sâu xanh
bướm trắng. Bọ nhảy phát sinh gây hại quanh năm từ tháng 1 đến tháng 12.
Trong năm 2000, trên cây cải ngọt bọ nhảy phát sinh mạnh vào tháng 5 và
tháng 10, mật độ từ 100 - 135 con/m
2
. Nhưng năm 2001 bọ nhảy phát sinh
mạnh vào tháng 3, mật độ trưởng thành bọ nhảy là 107,5 con/m
2
. Bọ nhảy gây
hại nặng trên cải xanh, cải củ hơn ở cải bắp, xu hào. Vùng chuyên canh bị bọ
thời gian phát dục trung bình của các pha trứng, sâu non, nhộng ở 25
o
C là 6,5
- 15,24 - 10,07 ngày. Thời gian sống trưởng thành trung bình là 26,86 ngày
(25
o
C). Theo tác giả khi phun thuốc Sevin 85 WP (0,15%) và rắc Vibasu 10H
(0,7 kg/sào) xử lý đất có hiệu lực trừ sâu non bọ nhảy cao nhất đạt 72,26 và
76,51% sau khi xử lý 7 ngày. Padan 95SP (0,25%) có hiệu lực trừ trưởng
thành bọ nhảy cao nhất đạt 98,89% ngay sau khi phun 3 ngày với thí nghiệm
trong phòng và 82,83% với thí nghiệm ngoài đồng.
Theo tài liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2001) đã qui
định mật độ sâu, tỷ lệ bệnh để thống kê diện tích nhiễm sâu bệnh (10TCN224
- 1995).
Đối với bọ nhảy hại rau họ hoa thập tự (trong cả giai đoạn sinh trưởng)
mật độ và tỷ lệ dịch hại dự thảo là 20 con/m
2
.
Diện tích nhiễm nhẹ: là diện tích có mật độ sâu, tỷ lệ bệnh từ 50 -
100% mức qui định.
Diện tích nhiễm trung bình: là diện tích có mật độ sâu, tỷ lệ bệnh từ
100 - 200% mức qui định
Diện tích nhiễm nặng: là diện tích có mật độ sâu, tỷ lệ bệnh trên 200%
mức qui định.
7
Vũ Hồng Dung Kn 901 Đề tài nghiên cứu khoa học
Diện tích mất trắng: là tổng số diện tích bị hại giảm trên 70% năng
suất. Nhìn chung, những nghiên cứu về bọ nhảy ở Việt Nam chưa có nhiều,
đặc tính sinh vật học, sinh thái học chưa được chú trọng. Cách phòng chống
bọ nhảy chưa được giải quyết. Hiện nay, các nghiên cứu vẫn chú trọng nhiều
tonkinensis) hại luồng. Hiệu quả đạt 76,2% sau 2 tuần và 94,4% sau 3 tuần phun.
8
Vũ Hồng Dung Kn 901 Đề tài nghiên cứu khoa học
Ở nước ta thu thập và phân lập, tuyển chọn được 28 chủng (10 chủng
Bauveria bassiana, và 18 chủng (Metarhizium anisopliae) trên các loài sâu hại
khác nhau ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam. Vừa qua trung tâm sinh học (Bảo
vệ thực vật) đã sản xuất được 2,355 kg Bauveria bassiana và 3,275 kg
Metarhizium anisopliae sử dụng trừ sâu keo da láng, sâu khoang ăn lá đậu
tương và sâu xanh đục quả đậu xanh với hiệu quả là 68,2 - 72,3% (Bauveria
bassiana), 69,2 - 75,1% (Metarhizium anisopliae), trừ bọ dừa đạt 63,63 -
81,42% (Metarhizium anisopliae) còn viện lúa đồng bằng sông Cửu Long đã
sản xuất được 32175 kg chế phẩm Metarhizium anisopliae và 1265 kg
Bauveria bassiana để phòng trừ sâu hại lúa, cây ăn quả và cây công nghiệp
với hiệu quả phòng trừ đạt 70 - 80%. Đã đăng ký được 2 chế phẩm vào danh
mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam.
Tại các tỉnh phía Nam, hiệu lực của các chế phẩm này trong nhà lưới
nhìn chung đạt cao hơn trên đồng ruộng (chẳng hạn Bauveria bassiana đạt
hiệu lực 85,56 - 91% đối với bọ cánh cứng hại dừa khi thực hiện trong nhà
lưới. Còn Metarhizium anisopliae có hiệu lực 69 - 91% đối với côn trùng
chích hút trên đồng ruộng và thực tế cho thấy đối với sâu non của côn trùng
cánh vảy thì Bauveria bassiana có hiệu lực hơn Metarhizium anisopliae,
nhưng đối với côn trùng chích hút, mối và bọ cánh cứng hại dừa thì hiệu quả
phòng trừ chưa cao.
Đối với các tỉnh phía Bắc trong phòng thí nghiệm, hiệu lực của chế phẩm
này trên sâu xanh hại bồ đề đạt 68,5% sau 10 ngày thí nghiệm. Trên bọ xít
nhãn vải 81,7% sau 12 ngày thí nghiệm. Nhưng hiệu lực của chế phẩm này lại
đạt khá cao khi thực hiện ở ngoài đồng ruộng. Cụ thể là hiệu lực với sâu xanh
hại bồ đề Yên Bái 88% sau 10 ngày thí nghiệm (Bauveria bassiana) và 89,7%
sau 10 ngày thí nghiệm (Metarhizium anisopliae).
Trong chi Metarhizium có 2 loại nấm được xác định nhiều trong việc gây
10
Vũ Hồng Dung Kn 901 Đề tài nghiên cứu khoa học
Theo Burgeess (1981) [11] cho rằng ở Canada thiệt hại lớn nhất đối với
cây cải lá là do bọ nhảy trưởng thành quá đông gây ra trên cây giống vào mùa
xuân. Sự di chuyển của trưởng thành bằng phương thức bay, nhảy đã chuyển
từ cây này sang cây khác, từ ruộng này sang ruộng một cách nhanh chóng.
Hoạt động ăn mạnh nhất của bọ nhảy trưởng thành khi gặp thời tiết thuận lợi:
nắng, ấm và hanh khô.
Theo Osipov (1985) [27] bọ nhảy là một trong 3 loài côn trùng gây hại
nặng nhất cho cây cải dầu mùa hè ở Belarut, con trưởng thành ăn thủng lá,
làm chết cây con trong điều kiện nóng, khô vào mùa xuân.
Theo Eddy (1938) [15] thì ở Louiisana và Texas Gulf Mỹ, Phyllotreta
striollata Fabr được coi là loài côn trùng gây hại nghiêm trọng cho rau họ hoa
thập tự nhất là cây cải xanh ngọt, cải đắng giai đoạn cây giống trong vườn
ươm. Ngoài đồng ruộng, cây rau thường bị hại ở bộ lá làm giảm năng suất,
giảm giá trị thương phẩm của rau nên làm giảm hiệu quả kinh tế của người sản
xuất.
Bọ nhảy trưởng thành ở Pensylvania, Mỹ đã làm giảm rõ rệt chất lượng
cây giống dẫn đến làm giảm kích thước của cây, giảm hàm lượng chất khô
trong sản phẩm nhất là vào tháng 8 hàng năm (Reed và Byer, 1981) [29].
Ở Manitoba, Canada trồng suplơ vụ sớm làm cho tỷ lệ cây bị chết do
bọ nhảy gây ra rất cao. Trồng cây con quá nhỏ cũng làm cho bọ nhảy trưởng
thành gây hại nặng hơn so với trồng cây con khi đã có đủ từ 6 - 8 lá (Soroka
và Pritchard, 1987) [31].
2.3.3. Đặc điểm sinh vật học của Phyllotreta striolata
Theo Chen và cộng sự (1990) [13] P. striolata Fabricius là loài côn
trùng gây hại nghiêm trọng cải bao, cải củ cải xanh ngọt ở Đài Loan. Trưởng
thành cái đẻ trứng vào cuống lá hoặc trong đất. Đôi khi trứng được đẻ từng
quả riêng lẻ nhưng thường đẻ thành cụm từ 4 - 5 quả trong đất ở độ sâu 2 -
11
Vũ Hồng Dung Kn 901 Đề tài nghiên cứu khoa học
tháng 11 đến tháng 1 năm sau một thế hệ mới được hoàn thành trong vòng 60
đến 67 ngày và từ 33 - 38 ngày trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 8.
Bọ nhảy P. striolata không thể sống sót trong điều kiện nhiệt độ nhỏ hơn
16
o
C, chúng phát triển mạnh ở ngưỡng nhiệt độ >20
o
C. Tỷ lệ chết cao khi
nhiệt độ > 32
o
C và nhỏ hơn 20
o
C.
Ở Đài Loan, P. striolata xuất hiện quanh năm nhưng mật độ cao nhất
vào mùa khô (nhiệt độ thích hợp nhất cho bọ nhảy là từ 20 - 28
o
C). Sự tăng
trưởng của bọ nhảy bị ảnh hưởng bởi mưa lớn hoặc mưa kéo dài và nhiệt độ
cao. Qua quan sát hai thế hệ bọ nhảy trên một vụ cải củ người ta nhận thấy:
mật độ quần thể ở thế hệ thứ hai cao hơn nhiều so với thế hệ thứ nhất, do vậy
cây cải củ ở thời kỳ đầu của vụ sau bị hại ngiêm trọng. Trong 107 mẫu đất
được thu thập định kỳ hàng tuần vào những năm 1989 - 1991 trung bình có
161 sâu non và nhộng trên một m
2
đất, mật độ cao nhất lên tới 1310 con/m
2
.
2.3.4. Các biện pháp phòng chống
* Biện pháp sử dụng giống chống chịu sâu bệnh
Không xử lý cỏ dại khi gieo cải lá vào cuối tháng 7 đã làm giảm rõ rệt
năng suất chất khô so với việc dọn sạch cỏ cùng tàn dư cây trồng. Bởi bọ
nhảy sinh sản nhanh, tỷ lệ sống sót cao, gây hại nặng cho cây trồng khi có cỏ
dại và các thực vật trên đồng ruộng theo Reed và Byers (1981) [29].
Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cây đến mật độ bọ nhảy
đã được Dosdal và cộng sự (1998) [14] trung tâm Alberta, Canada tiến hành
tại Polish và Arrgentina Canola trên 2 loại rau cải Brassica rapa L. và
Brassica napus L. Kết quả thí nghiệm cho thấy khoảng cách (cây x cây) hợp
lý nhất làm giảm mật độ bọ nhảy, đối với Brassica napus L. là 14cm và đối
với Brassica rapa L. là 30cm.
14
Vũ Hồng Dung Kn 901 Đề tài nghiên cứu khoa học
* Biện pháp sinh học
Hiệu quả của biện pháp phòng trừ sinh học đối với bọ nhảy Phyllotreta
sp. vẫn còn hạn chế. Một số loại côn trùng, tuyến trùng, nấm, vi khuẩn… đã
được nghiên cứu sử dụng làm giảm mật độ bọ nhảy trên đồng ruộng.
Một số loài côn trùng ký sinh bọ nhảy trên đồng ruộng ở Canola,
Canada như: Crysopacarnea, Geocoris bullatus, Collops vitatus, Nabis
alternatus, Gryllus pennsyvanicus. Ở Manitoba, Canada ngay từ những năm
1978 đến năm 1983 thí nghiệm về côn trùng ký sinh bọ nhảy đã được tiến
hành. Trong thí nghiệm này Townesilitus Psylliodis đã được sử dụng làm côn
trùng ký sinh với mục đích làm giảm mật độ bọ nhảy P. striolata và
Phyllotreta cruciferae gây hại trên cải củ theo Wylie (1988).
Theo Eddy (1938) [15] Braconid perilitus epitricis là loài côn trùng ký
sinh bọ nhảy P. striolata trưởng thành nhưng số lượng loài này không nhiều.
Huang và cộng sự (1992) [20] đã thử nghiệm độc tố của vi khuẩn
Bacillus firmus để phòng trừ bọ nhảy Phyllotreta striolata Fabr ở Guangxi -
Trung Quốc.
Theo Butt J.M và cộng sự (1994) [12] nấm Metarhizium anisopliae và
Beauveria bassiana với nồng độ 1010 bào tử /ml có tác dụng diệt côn trùng
bọ nhảy nhằm giảm ô nhiễm môi trường sinh thái, ô nhiễm sản phẩm (Lee
Stiver, 2001) [25].
Theo Reed và Byers (1981) [29] và cộng sự sử dụng thuốc trừ sâu dạng
hạt xử lý đất như Diazinon trước khi gieo hạt cải đã làm giảm nhẹ mức độ gây
hại của bọ nhảy trưởng thành đối với việc sử dụng loại thuốc phun lên mặt
luống.
* Phòng trừ tổng hợp
Allyl isothyocyanate là một loại dầu thực vật chiết tách từ cây cải mù
tạc đã được nghiên cứu sử dụng để làm giảm mật độ bọ nhảy trên đồng ruộng
(Burgess, 1977) [11].
Dịch chiết Methanolic từ hạt xoan ấn Độ đã được sử dụng nghiên cứu
phòng trừ sâu hại đậu đỏ. Dịch chiết này phun định kỳ 1 tuần /lần từ khi nảy
16
Vũ Hồng Dung Kn 901 Đề tài nghiên cứu khoa học
mầm đến khi thu hoạch. Kết quả là dịch chiết này cho hiệu lực trừ sâu cao đối
với sâu cuốn lá, hiệu lực trừ sâu trung bình đối với dòi đục lá, hiệu lực thấp
đối với bọ nhảy và bọ trĩ.
PHẦN 3
ĐỊA ĐIỂM - VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
17
Vũ Hồng Dung Kn 901 Đề tài nghiên cứu khoa học
3.1. Vật liệu nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Cải Xanh Ngọt: Brassica juncea Cosson.
- Bắp cải: Brassica oleraceae.
- Su hào: Brassica canlorapa Pasq.
- Súp lơ: Brassica cauliflora Lizg.
- Cải chíp: Brassica- sp
- Bọ nhảy hại rau P. striolata.
- Một số loại thuốc hoá học, sinh học.
Trung Tâm Giống và Phát Triển Nông - Lâm Nghiệp Công Nghệ Cao Hải
Phòng.
- Điều tra theo phương pháp điều tra bảo vệ thực vật của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn. Định kỳ điều tra 5 ngày/1 lần, trên các loại cây họ hoa
thập tự, mỗi loại cây điều tra một ruộng, mỗi ruộng điều tra 5 điểm chéo góc,
mỗi điểm điều tra 5 cây. Thu toàn bộ bọ nhảy trưởng thành trên mỗi cây và
những cây bị héo, đưa về phòng để xác định nguyên nhân gây chết (do bệnh
hay bọ nhảy).
- Chỉ tiêu theo dõi:
+ Diễn biến mật độ cá thể trưởng thành của bọ nhảy P. striolata trên 1 cây họ
hoa thập tự.
∑
Cá thể trưởng thành bọ nhảy điều tra (con)
Mật độ bọ nhảy (con/cây) =
∑
Số cây điều tra (cây)
19
Vũ Hồng Dung Kn 901 Đề tài nghiên cứu khoa học
+ Xác định mức độ phổ biến của bọ nhảy trên cây ký chủ ngoài đồng ruộng.
Tổng số lần bắt gặp bọ nhảy
Tần xuất xuất hiện bọ nhảy(%) = ×100
Tổng số lần điều tra
Mức độ thường gặp được đánh giá theo tần xuất xuất hiện bọ nhảy như
sau:
Bảng 3.1: Phương pháp tính tần suất bắt gặp Bọ nhảy trên một số loại
rau họ hoa thập tự.
Mức độ phổ biến Kí hiệu
% số lần gặp bọ nhảy trong điều
- Pha trứng: Đo chiều dài và nơi rộng nhất của quả trứng.
- Pha sâu non: Đo chiều dài cơ thể và chiều rộng của đầu.
- Pha nhộng và pha trưởng thành: Đo chiều dài và phần rộng nhất của cơ thể.
Kích thước trung bình tính theo công thức:
X =
Χ
±∆
N
X
X
n
i
i
∑
=
=
1
Trong đó:
- Xi là giá trị kích thước trung bình của cá thể thứ i
- n là số cá thể theo dõi (n = 30)
Tính sai số theo công thức:
n
tS
α
.
=∆
α
t
. tra bảng Student – Fisher với độ tin cậy P = 0, 95 độ tự do √ =n-1
S: là độ lệch chuẩn.
chậu đất khác, phía trên được bịt bằng lớp vải thưa. Trưởng thành vừa vũ hoá
lại được chuyển sang nuôi tiếp trong lồng lưới, thay thức ăn hàng ngày bằng bó
cải xanh ngọt, ghi lại nhiệt độ, ẩm độ hàng ngày ở phòng nuôi sâu trong suốt
thời gian làm thí nghiệm.
- Thời gian phát dục trung bình của cá thể ở các pha được tính:
n
NX
X
n
i
ii
∑
=
=
1
.
Trong đó:
+
Χ
là thời gian phát dục trung bình
+ Xi là thời gian phát dục của cá thể thứ i
+ Ni là số cá thể phát dục trong ngày thứ i
+ n là số cá thể theo dõi
-Tính sai số theo công thức:
22
Vũ Hồng Dung Kn 901 Đề tài nghiên cứu khoa học
X =
Χ
±∆
Trong đó:
∑
n
xx
S
i
Vũ Hồng Dung Kn 901 Đề tài nghiên cứu khoa học
- Thời gian đẻ trứng trung bình:
Tổng thời gian đẻ của các trưởng thành cái theo dõi (ngày)
Thời gian đẻ trứng TB (ngày/con) =
Tổng số trưởng thành cái theo dõi (con)
- Số trứng đẻ trung bình trong một ngày của một con cái:
Tổng số trứng đẻ của các cá thể cái thí nghiệmtrong ngày/quả
Số trứng đẻ TB/ 1 ngày/ X =
Tổng số cá thể cái theo dõi (con)
c. Nghiên cứu đặc điểm các pha phát dục (trứng, sâu non và nhộng) của
bọ nhảy Phyllotreta striolata).
Bố trí 50 cá thể của từng pha (trứng, sâu non và nhộng) trên một đĩa
petri có lá cải Xanh Ngọt tươi. Mỗi thí nghiệm nhắc lại 8 lần. Thay lá tươi và
theo dõi hàng ngày.
- Chỉ tiêu theo dõi:
- Tỷ lệ trứng nở :
Tổng số trứng nở (quả)
Tỷ lệ trứng nở (%) = x 100
Tổng số trứng theo dõi (quả)
- Tỷ lệ chết tự nhiên của sâu non:
Tổng số sâu non chết (con)
Tỷ lệ chết tự nhiên của SN (%) = x 100
Tổng số sâu non theo dõi (con)
- Tỷ lệ vũ hóa của nhộng:
−
=
.
(2)
Trong đó:
+ N
t
: số lượng chủng quần ở thời điểm t
+ N
0
: số lượng chủng quần ở thời điểm ban đầu.
+ e: cơ số logarith tự nhiên.
Hay (2) còn có thể chuyển về dạng (3) do một quần thể với khoảng
sinh tử không đổi sẽ dần tiếp cận với một hình thức của sự phân bố tuổi, biết
sự phân bố tuổi ổn định.
1..
=
∑
−
rx
xx
eml
(3) [9]
Để tính được (3) điều quan trọng là phải lập được bảng sống (life
table).
25