nghiên cứu đặc điểm thực vật học của một số loài cây thuốc cát sâm, khúc khắc, thổ phục linh - Pdf 30



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM



NGUYỄN THỊ MINH

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC CỦA MỘT SỐ
LOÀI CÂY THUỐC: CÁT SÂM, KHÚC KHẮC,
THỔ PHỤC LINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2015BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM


trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc.

Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Minh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1.Đặt vấn đề 1
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
2.1. Mục đích 2
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2
3.1. Ý nghĩa khoa học 2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
1.1. Nguồn gốc, phân bố, vị trí phân loại của cây Cát sâm, Thổ phục linh, Khúc khắc. 4
1.1.1.Nguồn gốc, phân bố, vị trí phân loại của cây Cát sâm 4
1.1.2. Nguồn gốc, phân bố, vị trí phân loại của cây Khúc khắc 4
1.1.3. Nguồn gốc phân bố, vị trí phân loại của cây Thổ phục linh 5
1.2. Một số nghiên cứu về đặc điểm thực vật học của Cát sâm, Khúc khắc, Thổ
phục linh. 6
1.2.1. Những nghiên cứu về đặc điểm thực vật học của cây Cát sâm 6
1.2.2. Những nghiên cứu về nguồn gen Thổ phục linh và Khúc khắc 7
1.3. Yêu cầu sinh thái của Cát sâm, Khúc khắc, Thổ phục linh 11
1.3.1. Yêu cầu sinh thái của cây Cát sâm 11
1.3.2. Yêu cầu sinh thái của cây Khúc khắc 11
1.3.3. Yêu cầu sinh thái của cây Thổ phục linh 11
1.4. Thành phần hóa học, tác dụng dược lý và công dụng của cây Cát sâm, Khúc
khắc, Thổ phục linh 12
1.4.1. Thành phần hóa học, tác dụng dược lý và công dụng của cây Cát sâm 12
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

3.2.1. Đặc điểm hình thái, cấu tạo giải phẫu rễ cây Khúc khắc, Thổ phục linh 42
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v

3.2.2. Đặc điểm hình thái, giải phẫu của thân cây Khúc khắc, Thổ phục linh 46
3.2.3. Đặc điểm hình thái, giải phẫu của lá 50
3.2.4. Đặc điểm hình thái hoa Thổ phục linh 55
3.2.5. Đặc điểm hình thái của quả và hạt 58
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61
Kết luận: 61
Kiến nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Bảng kích thước các phần mô trong cấu tạo giải phẫu rễ sơ cấp 26
cây Cát Sâm 26
Bảng 3.2 Bảng kích thước các phần mô trong cấu tạo giải phẫu rễ thứ cấp cây
Cát sâm 28
Bảng 3.3 Kích thước các phần mô trong cấu tạo giải phẫu thân sơ cấp Cát Sâm 31
Bảng 3.4 Bảng cấu tạo giải phẫu thân thứ cấp Cát Sâm 33
Bảng 3.5 Bảng kích thước của lá chét Cát Sâm 35
Bảng 3.6 Bảng cấu tạo giải phẫu của lá Cát Sâm 36
Bảng 3.7 Bảng cấu tạo giải phẫu gân chính của lá Cát Sâm 36
Bảng 3.8 Bảng số liệu về kích thước các bộ phận hoa Cát sâm 39
Bảng 3.9 Kích thước các phần mô trong cấu tạo giải phẫu rễ của 2 loài Khúc
Khắc và Thổ Phục Linh 46
Bảng 3.10 Kích thước thân, cành của 2 loài Khúc khắc và Thổ phục linh 47

Hình 3.18 Hình thái hạt cây Cát sâm 40
Hình 3.19 Cây Thổ phục linh ở (trung tâm nghiên cứu và phát triển cây thuốc
tỉnh Bắc giang) 41
Hình 3.20 Cây Khúc khắc (vườn nông hộ ở Hà Nội) 41
Hình 3.21 Hình thái rễ củ cây Thổ phục linh 43
Hình 3.22 Hình thái rễ củ cây Khúc khắc 43
Hình 3.23 Cấu tạo giải phẫu rễ của cây Khúc khắc 44
Hình 3.24 Cấu tạo giải phẫu rễ của cây Thổ phục linh 45
Hình 3.25 Hình thái thân cây Khúc khắc và Thổ phục linh 47
Hình 3.26 Cấu tạo giải phẫu của thân cây Khúc khắc 48
Hình 3.27 Cấu tạo giải phẫu thân cây Thổ phục linh 49
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii

Hình 3.28a Lá Khúc khắc 52
Hình 3.28b Lá Thổ phục linh 52
Hình 3.28 Hình thái lá Khúc khắc, Thổ phục linh 52
Hình 3.29 Cấu tạo giải phẫu lá cây Khúc khắc 53
Hình 3.30 Cấu tạo giải phẫu lá Thổ phục linh 54
Hình 3.31 Hình thái hoa và cụm hoa Thổ phục linh 56
Hình 3.32 Hình thái hoa Thổ phục linh 57
Hình 3.33 Hình thái các thành phần của hoa cái Thổ phục linh 57
Hình 3.34 Hình thái quả Khúc khắc và quả Thổ phục linh 59
Hình 3.35 Hình thái hạt Khúc khắc và hình thái hạt Thổ phục linh 60

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1

chữa mụn nhọt, tràng nhạc, lở ngứa, dị ứng, giang mai, ngộ độc thủy ngân. Ngoài ra
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2

còn chữa thấp khớp, đau lưng, đau nhức xương khớp. Ở Trung Quốc, Khúc khắc là
thuốc chữa kinh nguyệt không đều, khí hư, bạch đới, tiểu tiện đục…
Thổ phục linh (Smilax glabra Wall. ex Roxb. ) được biết đến với một số công
dụng chống viêm, chống dị ứng, ung thũng, tràng nhạc, mụn nhọt, dị ứng. Dùng làm
thuốc lọc máu, chữa giang mai, chữa thấp khớp, đau xương, đau lưng. Ngoài ra còn
dùng làm nguyên liệu chế nước ngọt giải khát (xá xị).
Trong thực tế, các lương y Việt Nam vẫn cho rằng tác dụng của Khúc khắc
tương tự như tác dụng của Thổ phục linh, nên thường dùng để thay thế (Đỗ Tất Lợi,
2004). Trong dân gian, người ta vẫn còn nhầm lẫn giữa hai loại cây thuốc này vì vậy
nghiên cứu đặc điểm thực vật học của chúng giúp người dân nhận biết được đúng loài
cây thuốc.
Có thể nói Cát sâm, Khúc khắc, Thổ phục linh là những cây thuốc quý đang
được quan tâm phát triển, là nguồn nguyên liệu quý làm thuốc phục vụ cho con người.
Tuy là những cây thuốc rất có giá trị nhưng hầu như chưa có những nghiên cứu một
cách có hệ thống về đặc điểm thực vật học của chúng. Xuất phát từ những lí do đã nêu
ở trên chúng tôi tiến hành đề tài “ Nghiên cứu đặc điểm thực vật học của một số loài
cây thuốc: Cát sâm, Khúc khắc, Thổ phục linh”.
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích
Cung cấp những dẫn liệu khoa học cơ bản về đặc điểm thực vật học của từng
loài, giúp nhận biết chính xác nguồn gen cây thuốc, tìm hiểu mối liên quan giữa đặc
điểm thực vật học với một số đặc điểm nông học.
2.2. Yêu cầu
Mô tả chi tiết đặc điểm hình thái và đặc điểm giải phẫu của các cơ quan sinh
dưỡng : rễ, thân, lá và các cơ quan sinh sản: hoa, quả, hạt của cây Cát sâm, Khúc khắc,
Thổ phục linh.

không độc (Đỗ Huy Bích và cs, 2003).
Theo Đỗ Tất Lợi (2004), Cát sâm mọc hoang dại tại những vùng đồi núi của
nhiều tỉnh miền Bắc nước ta như Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Tây,
Hòa Bình.
Trên thế giới, Cát sâm phân bố ở Việt Nam, Lào và Trung Quốc. Ở nước ta cây
mọc rải rác khắp các tỉnh vùng núi thấp và trung du, chủ yếu từ Hà Tĩnh trở ra : Nghệ
An; Thanh Hóa (Cẩm Thủy, Bá Thước), Ninh Bình (Đồng Giao, Nho Quan), Hà Nam,
Hòa Bình, Sơn La, Yên Bái, Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng,
Bắc Giang, Thái Nguyên…
Ở Nghệ An, cây Cát sâm phân bố rải rác ở vùng núi thuộc các huyện Anh Sơn,
Kỳ Sơn và có thể có ở Quỳ Hợp. Tuy nhiên, so với các tỉnh phía Bắc thì ít hơn (Cây
thuốc Nghệ An, 12- 2009).
1.1.2. Nguồn gốc, phân bố, vị trí phân loại của cây Khúc khắc
Cây Khúc khắc có tên khoa học là Heterosmilax gaudichaudiana (Kunth)
Maxim., thuộc họ Khúc Khắc Smilacaceae. Cây còn có tên gọi khác là Khum khốt,
Dây kim cang (Cây thuốc Nghệ An, 12- 2009), bộ Hành (Liliales), phân lớp Hành
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5

(Lilidae), lớp một lá mầm (Monocotyledoneae), ngành hạt kín (Magnoliophyta)
(Nguyễn Tiến Bân, 1997).
Theo Đỗ Huy Bích và cs (2005), Khúc khắc có vùng phân bố tương đối rộng,
gồm hầu hết các tỉnh trung du, vùng núi thấp và đôi khi cả đồng bằng. Các tỉnh có
nhiều Khúc khắc như Quảng Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ,
Tuyên Quang, Hà Tây, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và một số tỉnh ven
biển miền Trung.
Ở một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, Khúc khắc có thể mọc lẫn với những cây
khác trong các lùm bụi quanh làng.
1.1.3. Nguồn gốc phân bố, vị trí phân loại của cây Thổ phục linh
Thổ phục linh hay còn gọi là Kim cang không lông (Phạm Hoàng Hộ, 2000),

lông, lá chét 7- 13, thường là 11, hình mũi mác thuôn hoặc bầu dục, dài 4- 7cm, rộng
2- 3 cm, gốc tròn, đầu nhọn, mặt trên màu lục sẫm, có lông ở gân, mặt dưới phủ lông
dày màu trắng, gân lá thành mạng rất rõ. Cụm hoa tận cùng thành chùy, có lông, dài
10-20 cm; hoa rất nhiều, màu trắng ngà; lá bắc dạng lá; đài có răng tam giác, mặt
ngoài phủ đầy lông; tràng hoa nhẵn ở mặt ngoài, cánh cờ rộng 1,8 cm, những cánh
bên gần thẳng; bộ nhị 2 bó, bầu có lông. Quả phủ đầy lông mềm, thắt lại ở các hạt;
hạt 4-6 có vỏ khá dày, màu nâu đen. Mùa hoa: tháng 7-9; mùa quả: tháng 10- 12
(Đỗ Huy Bích và cs, 2005).
Theo như mô tả của Đỗ Tất Lợi (2004), Cát sâm là một loại cây nhỡ, có những
cành mọc tựa, có rễ củ mẫm, vị hơi ngọt, mát. Lá kép lông chim lẻ, có lá kèm. Lá chét
mọc đối. Lá non và cành non có phủ lông mềm mầu xanh xám. Hoa dài 10- 25mm, đài
hình ống, miệng loa rộng, cánh hoa mầu đỏ hay hơi tím. Nhị 10, vòi nhụy hình sợi.
Quả dẹt trong chứa 1- 10 hạt hình thấu kính, rốn rộng và ngắn.
Rễ củ Cát sâm hình trụ đều hay hai đầu thuôn nhỏ. Mặt ngoài mầu vàng nhạt
đến vàng nâu, có nhiều vết nhăn dọc và rãnh ngang. Mặt cắt ngang mầu trắng ngà,
nhiều bột, có những tia ruột như hình nan hoa bánh xe. Vi phẫu lớp bần gồm 4 – 8
hàng tế bào hình chữ nhật nằm ngang đều đặn. Tầng phát sinh ngoài có một hàng tế
bào. Mô cứng gồm 3 – 4 hàng tế bào thành dày, có chứa tinh thể calci oxalat hình thoi.
Mô mềm vỏ gồm những tế bào thành mỏng hình đa giác. Trong mô mềm vỏ có sợi
hợp thành từng bó. Libe gồm những tế bào nhỏ đều đặn. Trong libe cũng có bó sợi rải
rác. Tầng phát sinh libe gỗ có một hàng tế bào. Mạch gỗ to, tròn. Xung quanh mạch gỗ
có những hàng tế bào mô mềm gỗ vuông vắn xếp đều đặn. Tia ruột có 3 – 4 hàng tế
bào hình chữ nhật xếp theo hướng xuyên tâm. Mô mềm ruột gồm những tế bào hình đa
giác. Bột màu vàng nhạt, có nhiều sợi dài có thành dày. Tinh thể calci oxalat hình thoi,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7

mảnh mô mềm chứa tinh bột. Đám tế bào mô cứng mầu vàng. Hạt tinh bột hình tròn,
hình chuông, hình trứng, có hạt kép đôi, kép ba, rốn hình điểm hay hình chữ V (Hội
đồng dược điển Việt Nam, 2009).

có khi mọc thành bụi với thân mọc đứng nhiều hay ít. Thân và nhánh nhẵn hay sần sùi,
có gai hay không gai. Thân rễ có nhiều mắt. Lá đơn có hình dạng thay đổi, có phiến
hình trứng – ngọn giáo, thường là hình trứng – tròn. Gân chính 3 – 7, nối với gân con
hình mạng. Cuống lá có bẹ ở gốc, có hai cánh, thường có đốt ở đỉnh hoặc ở ngay dưới
phần bẹ; các tua cuốn thường xuất phát từ đỉnh của các cánh của cuống. Cụm hoa tán
đơn ở nách một lá hoặc là chùm có 1 đến nhiều tán (ít khi là bông hay chùy ), mỗi tán
đều có cuống riêng. Hoa đơn tính khác gốc, bao hoa hình chùy hay hình trứng - dạng
cầu trong nụ trước khi nở. Mảnh bao hoa 5, rời, cong ra hay trải ra; các mảnh ngoài
thuôn, hình ngọn giáo hay ít khi gần tròn; các mảnh trong hẹp hơn, thường hình dải –
ngọn giáo. Hoa đực có 6 nhị, ít khi 9 – 18, rời hoặc dính thành bó nhiều hay ít, bao
phấn 1 ô, đính gốc, trên chỉ nhị dài hay ngắn. Hoa cái có 1 bầu và 3 – 6 nhị lép dạng
kim; bầu có 3 ô chứa mỗi ô 1 hay 2 noãn, thẳng; đầu nhụy 3.
Gồm 200 loài ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của cả hai bán cầu, khu
phân bố của nhiều loài cây thảo trải rộng tới các vùng ôn đới của lục địa Âu- Á và Bắc
Mỹ; một số lớn loài tập trung ở Đông Nam Á.
- 7 loài có hình thái lá mang đặc điểm là có 3 gân gốc : Smilax bauhinioides
Kunth, Smilax corbularia Kunth subsp. synandra (Gagnep.) T. Koyama (S. synandra
Gagnep), Smilax gagnepainii T. Koyama (S. tetratera Gagnep.) , Smilax glabra Wall. ex
Roxb., Smilax lanceifolia Roxb. , Smilax perfoliata Lour. , Smilax riparia A. DC.
- Có 6 loài dạng lá thuôn dài, đầu nhọn hình ngọn giáo là: Smilax corbularia
Kunth subsp. synandra (Gagnep.) T.Koyama (S. synandra Gagnep), Smilax corbularia
Kunth, Smilax gapnepainii T. Koyama (S. tetraptera Gagnep) , Smilax glabra Wall.
ex Roxb, Smilax lanceifolia Roxb, Smilax megacarpa A. DC.
- Có 12 loài dùng thân rễ để chữa đau nhức khớp xương, nhức mỏi, phong thấp:
Smilax bracteata Presl (S. stenopetala A. Gray), Smilax cambodiana Gagnep., Smilax
china L., Smilax corbularia Kunth, Smilax corbularia Kunth subsp. synandra
(Gagnep.) T. Koyama (S. synandra Gagnep.), Smilax ferox Wall. ex Kunth, Smilax
gapnepainii T. Koyama (S. tetraptera Gagnep.), Smilax glabra Wall. ex Roxb., Smilax
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9

cao 4 – 4,5 mm; hoa đực có bao hoa hàn liền, hình trứng, có 3 răng nhỏ, nhị 3, chỉ nhị
ngắn dính nhau thành cột, bao phấn rời nhau; hoa cái có bao hoa giống hoa đực, bầu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10

hình trứng với vòi ngắn mang 3 đầu nhụy rẽ ra, thót lại ở đầu, có 5 – 6 nhị lép. Quả
mọng, hình cầu hoặc có bốn góc, tròn, to 8 – 10 mm, khi chín màu đen tím, hạt 2 – 4
hình trứng, màu đỏ nâu.
b. Thổ phục linh (Smilax glabra Wall.ex Roxb.)
Theo Võ Văn Chi (2004), Đỗ Huy Bích và cs (2005) mô tả là một loại cây leo,
sống lâu năm, cao 4 – 5 m, phân nhiều cành, nhỏ, gầy, mềm, không gai, thường có tua
cuốn dài. Lá mọc so le, hình bầu dục hoặc trái xoan thuôn, phía dưới tròn, dài 5 – 13
cm, rộng 3 – 7 cm, chắc cứng, hơi mỏng, gốc tròn, đầu nhọn, mặt trên sáng bóng, mặt
dưới bệch như có phấn trắng, khi khô lá có màu hạt dẻ rất đặc sắc, có 3 gân chính từ
gốc và nhiều gân con, cuống lá dài 1cm mang tua cuốn mảnh và dài do lá kèm biến
đổi, vòi có khi chỉ còn là một mũi. Cụm hoa mọc ở kẽ lá chừng 20 – 30 hoa trên cọng
mảnh, dài; nụ có 3 cạnh; cuống rất ngắn hoặc gần như không cuống, mảnh như sợi chỉ,
cuống chung chỉ ngắn chừng 2mm, cuống riêng dài chừng 10mm hay hơn, mang một
tán đơn trên cọng ngắn gồm nhiều hoa màu vàng nhạt; hoa đực có lá đài hình tim dày
to 3 – 4 mm, có 6 nhị không chỉ, cánh hoa bầu hơi khum, nhị không cuống, bao phấn
thuôn; hoa cái giống hoa đực, bầu hình cầu. Quả mọng, hình cầu, đường kính 6 – 7
mm gần như 3 cạnh, chứa 3 hạt, khi chín màu đen.
Cây leo bằng tua cuốn, dài 2- 5m, phân cành; cành mảnh, nhẵn, không gai,
tua cuốn mọc ở gốc cuống lá. Lá mọc so le, có cuống, hình trứng hay thuôn, nhọn
đầu, dài 5- 15cm, rộng 3- 7 cm, mặt trên bóng, mặt dưới hơi nhạt và có mầu như
lớp phấn trắng; 3 gân chính, gân phụ không rõ. Cụm hoa hình tán, cuống chung
ngắn, mọc ở kẽ lá; hoa màu vàng nhạt hay vàng xanh, cuống mảnh dài trên 1 cm;
hoa đực có lá đài hình tim, cánh hoa hình mác rộng, nhị không cuống, bao phấn
thuôn; hoa cái giống hoa đực, bẩu tròn. Quả mọng, hình cầu, đường kính 0.4- 0.5
cm; khi chín màu tím đen; có 2- 4 hạt thường 3 hạt. Mùa hoa quả tháng 6- 10 (Cây

dưới 1000m, hoặc 1500m (ở Thái Lan). Cây ưa khí hậu nóng và ẩm của vùng nhiệt
đới; đồng thời cũng có thể chịu lạnh tốt ở nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 4
0
C hoặc 3
0
C (ở
vùng Trùng khánh – Cao Bằng và Quản Bạ - Hà Giang). Thổ phục linh sinh trưởng
mạnh trong mùa mưa ẩm; ra hoa quả nhiều hàng năm, song lượng cây con tái sinh từ
hạt không nhiều. Mùa thu hái tốt nhất vào mùa thu đông.
Thổ phục linh là cây ưa sáng, có thể hơi chịu bóng khi còn nhỏ. Cây thường leo
lên các cây bụi và cỏ cao ở đồi, nương rẫy hoặc ven rừng. Do có hệ thống thân rễ (củ)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12

nằm dưới mặt đất, phần thân, càng trên mặt đất bị cắt thường xuyên, cây vẫn có thể tồn
tại được (Cây thuốc Nghệ An, 12- 2009).
1.4. Thành phần hóa học, tác dụng dược lý và công dụng của cây Cát sâm, Khúc
khắc, Thổ phục linh
1.4.1. Thành phần hóa học, tác dụng dược lý và công dụng của cây Cát sâm
1.4.1.1. Thành phần hóa học, tác dụng dược lý của cây Cát sâm
Theo Đỗ Tất Lợi (2004), rễ củ chứa tinh bột và alkaloid.
Vị ngọt, tính bình; có tác dụng thư cân hoạt lạc, bổ hư nhuận phế (Cây thuốc
Nghệ An, 12- 2009).
Theo Zheng Yuan– Sheng et al. (1- 2008) chiều tác động của polysaccharide của Cát
sâm vào sự phát triển tế bào lympho T ở chuột bị bệnh u bạch huyết.
Trong nghiên cứu polysaccharide được chiết xuất và tinh chế từ Cát sâm có tác
dụng dược lý chống oxy hóa, chống viêm, chống ung thư. Những nghiên cứu này có
thể cung cấp dữ liệu cơ bản cho việc khai thác và ứng dụng Cát sâm. Thành phần
chính của Cát sâm ở phần thịt củ, trong đó có nhiều polysaccharides hòa tan trong
nước. Polysaccharide của Cát sâm có hoạt động chống viêm và có thể cải thiện suy

uống 40- 80g dưới dạng thuốc sắc.
Cát sâm thường được dùng làm thuốc chữa đau lưng chân, thấp khớp; viêm phế
quản mạn tính (lao phổi, ho khan), phổi kết hạch; viêm gan mạn tính; di tinh, bạch đới.
Cũng có thể được dùng làm thuốc bổ mát, chữa nhức đầu, khát nước, bí tiểu tiện (Cây
thuốc Nghệ An, 12- 2009).
1.4.2. Thành phần hóa học, tác dụng dược lý và công dụng của cây Khúc khắc
1.4.2.1. Thành phần hóa học, tác dụng dược lý
Thân rễ Khúc khắc chứa saponin, tannin, chất nhựa, b- sitosterol, stigmasterol
Theo Đỗ Huy Bích và cs (2005):
Khúc khắc có tác dụng chống viêm cấp yếu.
Khúc khắc có tác dụng chống viêm mạn tính vào loại trung bình yếu
1.4.2.2. Công dụng của Khúc khắc
Theo Đỗ Huy Bích và cs (2005), Khúc khắc có vị hơi ngọt, chát, tính bình, có
tác dụng tiêu độc, chống dị ứng, chống viêm, lơị thấp, mạnh gân cốt, thanh nhiệt.
Khúc khắc được dùng để chữa mụn nhọt, tràng nhạt, lở ngứa, dị ứng, giang mai,
ngộ độc thủy ngân. Ngoài ra còn chữa thấp khớp, đau lưng, nhức xương, đau khớp. Ở
Trung Quốc, Khúc khắc là thuốc chữa kinh nguyệt không đều, hư khí, bách đới, tiểu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14

tiện đục, lỵ cấp tính. Ngày dùng 15 – 30g dạng thuốc sắc, thuốc bột, thuốc viên hoặc
ngâm rượu uống.
Trong thực tế các lương y ở Việt Nam vẫn cho rằng tác dụng của Khúc khắc
vẫn tương tự như tác dụng của Thổ phục linh, nên thường dùng để thay thế.
1.4.3. Thành phần hóa học, tác dụng dược lý và công dụng của cây Thổ phục linh
1.4.3.1. Thành phần hóa học, tác dụng dược lý
Trong cuốn “Cây thuốc và động vật làm thuốc” thì:
Theo Cheng Guanyao và cộng sự (1996), thân rễ Thổ phục linh chứa
isoengelitin, astilbin và isoastilbin ( CA 125 : 323031 e ).
Theo Cao Zheng Zhong và cộng sự (1995), rễ có 5, 7 – dihydroychromon – 3 –

tiêm phúc mạc, đã làm hạ glucose máu của chuột nhắt trắng bình thường 4 giờ sau khi
tiêm, và cũng làm giảm glucose máu chuột nhắt gây đái tháo đường không phụ thuộc
vào insulin. Tuy nhiên, Thổ phục linh không có hiệu quả trên glucose- máu chuột nhắt
gây đái tháo đường với streptozotocin. Thổ phục linh cũng chặn sự tăng glucose máu
do epinephrine trên chuột nhắt. Như vậy tác dụng hạ glucose máu của Thổ phục linh
có thể do làm tăng độ nhạy cảm của các thụ thể đối với insulin.
Cao lỏng chế từ Thổ phục linh phối hợp với Ngưu tất và Cà gai leo hoặc hy
thiêm được dùng để điều trị thấp khớp, đã tỏ ra có tác dụng tốt đối với chứng đau
nhức, nhất là với những bệnh thấp khớp không có tiêu chuẩn chuẩn đoán. Kết quả tốt
nhất và tương đối nhanh với đau lưng cấp do lạnh và sang chấn. Trên lâm sàng, bài
thuốc gồm Thổ phục linh và 7 dược liệu khác được dùng điều trị bệnh chân voi là hậu
quả của bệnh giun chỉ. Thuốc làm số lần sốt tái phát giảm, cơn sốt nhẹ hơn.
1.4.3.2. Công dụng của cây Thổ phục linh
Theo Võ Văn Chi (2004), ở Lào, thân rễ của cây được thu hái và xuất khẩu với
một lượng lớn. Ngâm trong rượu và phối hợp với một số vị thuốc động vật và thực vật
lấy nước làm tăng sức khỏe. Quả dùng làm gia vị. Nước hãm thân dùng làm nước uống
khai vị và tiêu hóa.
Ở Việt Nam, thân rễ của cây được dùng làm thuốc để tẩy chất độc ra khỏi cơ
thể, bổ dạ dày, khỏe gân cốt, làm cho ra mồ hôi và chữa đau khớp xương.
Theo Đỗ Huy Bích và cs (2005), ở các nước Đông Nam Á, nước sắc rễ và thân
rễ các loài Smilax trong đó có thổ phục linh được dùng một cách khá phổ biến để điều
trị giang mai, lậu, thấp khớp, ho và làm thuốc bổ sau khi đẻ, thuốc kích dục, và dùng
ngoài để điều trị bệnh vảy nến, vết thương, viêm, sung tấy, loét và nhọt.
Ở Trung Quốc, Thổ phục linh được dùng chữa đái khó, đái đục, khí hư, mụn
nhọt, viêm hạch bạch tuyết, eczema mạn tính, co cứng chân và đau cơ trong bệnh

Trích đoạn Đặc điểm hình thái, kích thước quả và hạt Cát sâm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status