1
ĐẶT VẤN ĐỀ
U tế bào mầm (UTbM) buồng trứng là những u xuất nguồn từ các tế
bào có nguồn gốc mầm bào (germ cell) tại các thời điểm biệt hóa khác nhau ở
buồng trứng (BT) [73]. Những u này được coi là sự chuyển dạng bệnh lý của
các tế bào mầm tại BT [37], là nhóm u phổ biến thứ hai trong các u BT chỉ
sau các u biểu mụ-mụ đệm bề mặt [61].
UTbM chiếm khoảng 30 % toàn bộ các u BT nguyờn phát [73], gặp ở
mọi lứa tuổi, UTbM ác tính chiếm khoảng 1-2% trong các u ác tính của BT
(BT) [76]. Mặc dù u tế bào mầm BT ác tính chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ so với các
ung thư (UT) BT khác nhưng lại hay gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên, độ ác
tính, khả năng xâm lấn cao, ảnh hưởng lớn tới tỷ lệ tử vong và khả năng sinh
đẻ sau này. Hơn 60% u BT ở trẻ em và thanh thiếu niên có nguồn gốc từ tế
bào mầm, 1/3 trong số đó là ác tính [61]. Ngày nay nhờ những tiến bộ trong
điều trị UT nói chung đặc biệt là những tiến bộ trong hóa trị đã mang lại kết
quả tốt cho những bệnh nhân (BN) này. Việc điều trị đa phương thức với
phẫu thuật bảo tồn khả năng sinh sản và hóa trị dựa trên nên tảng platinum đã
cải thiện tiên lượng bệnh một cách có ý nghĩa, ngay cả ở những BN ở gian
đoạn muộn, tỷ lệ sống thêm lên tới 60-80% [39].
Tuy nhiên, việc điều trị, tiên lượng bệnh UTbM BT ác tính khác với
nhóm UT biểu mô BT, thậm chí ngay giữa cỏc tớp mụ bệnh học UTbM BT khác
nhau cũng cú phỏc đồ đều trị và tiên lượng khác nhau. Mặt khác, việc xếp giai
đoạn của UT BT được đựa trên phẫu thuật/mụ bệnh học (MBH) [89], do đó chẩn
đoán chính xác cỏc tớp mụ bệnh học UTbM về mặt vi thể cũng như những đánh
giá về mặt đại thể trong phẫu thuật có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn
phương pháp điều trị và đánh giá tiên lượng bệnh.
2
Theo phân loại của tổ chức y tế thế giới (World health organization
-WHO) năm 2003, UTbM BT được chia thành nhiều típ và biến thể dưới típ
MBH. Một trong những khó khăn trong chẩn đoán MBH các UTbM là các u
này thường có sự phối hợp nhiều típ mô học, trong mỗi típ mô học cũng có
các u ác tính. Để xác định cỏc tớp mụ u người ta phải căn cứ vào nguồn gốc
mô học của loại u đó. Do vậy, những hiểu biết về mô học và phôi thai học của
BT có ý nghĩa hết sức quan trọng trong bệnh học, đặc biệt là bệnh học u.
1.1.1. Phôi thai học BT
BT bắt đầu biệt hóa vào cuối tuần thứ tám của quá trình phát triển phôi
nghĩa là muộn hơn sự biệt hóa của tinh hoàn. Bởi vậy, ở phụi tỏm tuần, nếu
tuyến SD không biểu hiện những đặc tính của nam giới, ta có thể nói rằng
tuyến SD ấy là BT [13].
Trong tuyến SD phụi cú giới tính di truyền là nữ, những dây SD
nguyờn phỏt (dõy SD tủy) thoái hóa. Sự thoái hóa ấy tiến từ vùng ngoại vi
(vùng vỏ) vào vùng trung tâm (vùng tủy) của tuyến SD. Trong khi đó, ở vùng
vỏ xảy ra một đợt tăng sinh lần hai của cỏc dõy tế bào biểu mụ cú nguồn gốc
trung bì trung gian nằm phía dưới biểu mô khoang cơ thể phủ mào SD, để
chứa những tế bào SD nguyên thủy đã di cư tới đó. Trong cỏc dõy này, những
4
tế bào SD nguyên thủy biệt hóa thành những noón nguyờn bào, tế bào đầu
dòng của dũng noón. Những dây tế bào biểu mô chứa noón nguyờn bào tạo
thành những dây SD thứ phỏt, cũn gọi là dây SD vỏ vì nằm ở vùng ngoại vi
của tuyến SD. Những dây này tách rời khỏi biểu mô khoang cơ thể phủ mào
SD rồi đứt thành từng đoạn. Mỗi đoạn tạo ra một đám tế bào biểu mô vây
quanh noón nguyờn bào. Cũng như ở tinh hoàn, sau khi cỏc dõy tế bào biểu
mô tách rời khỏi biểu mô khoang cơ thể phủ mầm tuyến SD, trung mô sẽ chen
vào giữa biểu mô này với cỏc dõy SD để tạo ra màng trắng. Khác với ở tinh
hoàn, ở BT biểu mô khoang cơ thể phủ mầm tuyến SD tồn tại suốt đời và trở
thành biểu mô BT. Ở phôi thai và trẻ em, biểu mô này là một biểu mụ vuụng
đơn [13], [35].
Noãn bào hoạt động giỏn phõn rất tích cực để tăng nhanh số lượng
nhưng đại đa số noón nguyờn bào thoái hóa rồi biến đi trong thời kì phôi thai.
Trong thời kì này, số noón nguyờn bào còn lại lớn lên, biệt hóa thành noãn
bào I, chúng cùng với tế bào nang tạo thành nang trứng nguyên thủy. Những
vùng dưới đồi và tuyến yên, các nang trứng tiến triển qua nhiều giai đoạn:
nang trứng nguyên thủy, nang trứng thứ phát, nang trứng chớn (cũn gọi là
nang Graaf) có kích thước khác nhau và có thể nhìn thấy được bằng mắt
thường. Cuối cùng là sự giải phóng nang trứng chín khỏi BT gọi là phúng
noón. Nang trứng thứ phát trải qua các giai đoạn tiến triển: nang trứng đặc,
nang trứng có hốc và nang trứng có hốc điển hình.
Một nang trứng thuần thục bao gồm noãn bào, lớp tế bào hạt và lớp tế
bào vỏ. Các tế bào hạt mất cấu trúc lưới xung quanh, chúng tạo nên các cấu
trúc nhỏ giống hoa hồng gọi là thể Call- Exner, có chứa ở trung tâm các sợi
ưa toan mạnh gồm các màng dày. Các tế bào nguồn gốc mô đệm tạo thành lớp
trong (thường hoàng thể hóa điển hình) và một lớp ngoài gồm nhiều hàng tế
bào. Các tế bào vỏ lớp trong là nừi sản xuất các hormon steroid giới tính. Khi
mãn kinh, các nang trứng sẽ thoái triển. BT trở nên teo nhỏ, chắc và không
còn hoạt động [35], [14], [83], [85].
Ở rốn BT cú cỏc cụm tế bào giống như tế bào Leydig của tinh hoàn,
được gọi là tế bào rốn BT. Chúng nằm sỏt cỏc tĩnh mạch lớn và bạch mạch
của rốn BT, có thể tạo thành những chỗ lồi vào lòng mạch. Chúng có liên
quan chặt chẽ tới thần kinh và có thể chứa các thể Reinke, lipid và sắc tố
Lipocron.
Dây BT có ở rốn BT, bao gồm một lưới các khe, ống nhỏ, nang, nhú,
được phủ bới lớp biểu mụ cú chiều cao khác nhau và được vây quanh bởi một
lớp mô đệm tế bào hình thoi [14], [35], [83].
7
1.1.3. Nguồn gốc phôi thai của tế bào mầm
Vào tuần thứ 3-4 của phôi kỳ khi phôi người có kích thước khoảng
5mm, các tế bào mầm nguyên thủy nảy sinh ở nội bỡ phụi, ở bên ngoài phôi,
nơi vỏch tỳi noón hoàng gần nang niệu. Các tế này có những đặc điểm riêng
biệt, đó là những tế bào lớn đường kính 30 micromet, bào tương chứa những
hạt nhỏ glycogen, rất giàu lipid và có phản ứng phosphatase kiềm dương tính.
những thay đổi về hình thái, chức năng trong suốt cuộc đời người phụ nữ nên
có thể dẫn tới những thay đổi không hồi phục, phát triển thành bệnh lý, đặc
biệt là các khối u BT [3], [83], [85].
1.2. Dịch tễ học u tế bào mầm BT
- UTbM chiếm xấp xỉ 30% các khối u BT nguyờn phát, đứng thứ hai
sau u biểu mô bề mặt [73]. Quirk J.T và Natarajan N nghiên cứu 23.484 BN u
BT ở Mỹ, tỷ lệ mắc trên 100.000 phụ nữ tính chung, năm 2000 là 16,23,
9
UTbM đứng thứ hai (0,41), sau u biểu mô (15,48) [79]. Koonings PP nghiên
cứu trên 861 BN u BT ở Los Angeles, Mỹ tỷ lệ UTbM lên tới 46% [59], nghiên
cứu của Sah S P và cộng sự tại Nepal, UTbM chiếm 43,4% (n=279) [86].
- Chúng có thể gặp ở mọi lứa tuổi từ sơ sinh tới tuổi già, phổ biến nhất
từ độ tuổi 10-60, nhưng cũng được thấy trong thời kỳ bào thai [61].
- Ở trẻ em và phụ nữ trẻ, UTbM ác tính là UT BT phổ biến nhất. Xấp xỉ
60% u BT xảy ra ở phụ nữ dưới 21 tuổi là thuộc loại UTbM, tới 1/3 trong số
đó là ác tính [73].
- Với phụ nữ trên 40 tuổi, UTbM ác tính thường là hậu quả của sự chuyển
dạng của một trong những thành phần trong u quái (UQ) nang thành thục [81].
- UTbM có thể gặp cả hai giới, chủ yếu ở cơ quan sinh dục, tỉ lệ mắc ở
tinh hoàn nhiều hơn BT. Ngoài cơ quan sinh dục, chúng có thể gặp ở các vị
trớ khỏc như: Trung thất, não, sau phúc mạc…; Vị trí hay gặp nhất là hệ thần
kinh trung ương [25]. Theo Arora RS và cộng sự nghờn cứu trên 33364
UTbM nói chung thấy: 92,5% gặp ở tinh hoàn, 3,9% ở BT và 3,2% gặp ở
ngoài cơ quan sinh dục. Tuổi mắc bệnh giao động từ 0 – 84. Moller H và
Evans H nghiên cứu 8363 UTbM ở cơ quan sinh dục, trong đó UTbM BT
chiếm 5,4% [70].
-Tại BT, 95 % UTbM là UQ nang thành thục. Các UTbM còn lại là ác
tính và chiếm khoảng 3% trong tất cả UT BT ở các nước Phương Tây nhưng
tỷ lệ này được ghi nhận lên tới 20% các u BT ở phụ nữ Nhật Bản, tuổi mắc
bệnh trung bình là 18 [73]. Cũng theo nghiên cứu của Koonings PP trong
11
- Giai đoạn muộn: U chèn ép bàng quang gõy đỏi khú, chèn ép trực
tràng gây đau, táo bón, chèn niệu quản gây ứ nước đài bể thận. Có thể gặp
triệu chứng tắc ruột khi u lan tràn trong ổ bụng.
- Xoắn u: Đau hạ vị nhiều, buồn nôn và nôn, có thể có sốc do đau (nhợt
nhạt, vã mồ hôi lạnh, mạch nhanh).
- Chảy máu và vỡ u thường xuất hiện sau xoắn: Đau hạ vị, sốc, có thể
có thiếu máu cấp, phản ứng thành bụng, đau khi thăm khám qua âm đạo.
- U ác tính thường kèm theo các dấu dấu hiệu toàn thân như: Gầy sút
nhanh, sốt, ăn uống kém, cổ chướng, không di động và đau.
1.3.2. Cận lâm sàng
Các xét nghiệm cận lâm sàng khó phân biệt UT BT nói chung và UTbM
nói riêng. Một số đấu hiệu trên x-quang, siêu âm và chụp cắt lớp vi tính có thể
định hướng cho chẩn đoán UQ. Một số xét nghiệm sinh hóa như nồng độ AFP,
hCG, LDH, CA-125…cú thể định hướng cho chẩn đoán UTbM.
• Siêu âm ổ bụng
Trên hình ảnh siêu âm có thể xác định một số đặc điểm sau:
- Xác định là u cơ năng hay u thực thể: Nang cơ năng thì có vỏ mỏng,
dịch trong nang thuần nhất. Nang thực thể có vỏ dầy, dịch trong nang không
thuần nhất, có âm vang trong nang.
- U BT một bên hoặc hai bên.
- Một u hoặc nhiều u.
- Bờ của u: Bờ u dày hay mỏng, nhẵn hoặc nham nhở.
- Tính chất âm vang của u: Giảm âm, tăng âm, âm hỗn hợp.
- Có dịch ổ bụng hay không, nhiều dịch hay ít.
- Có tổn thương các tạng trong ổ bụng hay không.
12
Khi khối u có bờ không đều, vách dày, đậm âm, không đồng nhất, có tổ
chức đặc trong lòng hay cú sựi ở ngoài và trong vách xơ dày, đặc biệt khi ở
phụ nữ đã mãn kinh hoặc kèm theo dịch ổ bụng thì gợi ý là u ác tính. Siêu âm
bào u khi xét nghiệm dịch ổ bụng có thể lên tới 60%.
• Tế bào học chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm
Cung cấp những thông tin hữu ích trong những trường hợp nang BT cơ
năng ở phụ nữ trẻ do đó tránh được phẫu thuật không cần thiết. Nó cũng có
vai trò rất quan trọng trong chẩn đoán UBT ác tính giai đoạn IV.Tuy nhiên
phương pháp này cũng đòi hỏi có nhiều kinh nghiệm trong việc định típ chính
xác các UBTM [49].
• Chẩn đoán sinh thiết tức thì (STTT)
STTT còn gọi là sinh thiết cắt lạnh là một phương pháp chẩn đoán
MBH trong lúc mổ trờn cỏc tiêu bản được cắt từ máy cắt lạnh (Cryostat).
Phương pháp này đó giỳp cỏc nhà phẫu thuật có một thái độ xử lý đúng đắn,
làm giảm số lần phẫu thuật, rút ngắn thời gian điều trị, góp phần quan trọng
trong điều trị các khối u và UT nói chung. STTT là phương pháp chẩn đoán
nhanh sau 10-15 phỳt, cú độ chính xác cao, có thể áp dụng rộng rãi tại các cơ
sở điều trị ngoại khoa lớn, đặc biệt là các trung tâm điều trị UT. Độ chính xác,
độ đặc hiệu của xét nghiệm chung cho các loại u là 96,03% và 97,9%, với u
BT thì độ chính xác, độ đặc hiệu là 98,2% và 100% [4].
• Chẩn đoán MBH
Được coi là chẩn đoán cuối cùng, có độ nhậy, độ đặc hiệu cao nhất.
Chẩn đoán TBH độ chính xác cao nhất cũng chỉ đạt tới 80% các trường hợp,
14
có những trường hợp không thể đưa ra chẩn đoán chính xác hoặc chỉ có thể
xác định dương tính với UT mà không thể định típ mô học của u, trong khi đó
chẩn đoán MBH với ưu thế có cả tế bào, cấu trúc mô, số lượng bệnh phẩm đủ
đã đưa khả năng chẩn đoán chính xác đến trên 95%. Với UTBT, người ta có
thể thực hiện các chẩn đoán MBH trước, trong và sau phẫu thuật dựa trên các
kỹ thuật nhuộm thường quy: HE, PAS
• Chẩn đoán húa mụ miễn dịch
HMMD kết hợp giữa hai lĩnh vực: Mô học và miễn dịch học, là phương
pháp chẩn đoán quan trọng, đặc biệt trong định típ mô học của u. HMMD
1.3.3.1 Tạo mô học UTBM [61],
Tạo mô học và mối liên quan giữa cỏc tớp khác nhau của UTbM được gợi ý
bởi Teilum (1965) (Sơ đồ 1). Theo Teilum u nghịch mầm (u tinh bào) là một
u tế bào mầm nguờn thủy không đạt được tiềm năng cho sự biệt hóa xa hơn.
UT biểu mụ phụi được đề cập đến như khái niệm cũng như một thực thể hình
thái học và điển hình cho một u tế bào mầm bao gồm các tế bào đa tiềm năng
có khả năng biệt hóa xa hơn. Quá trình này có thể diễn ra theo hướng phôi
hoặc xụma, tạo nên các UQ với nhiều mức độ thành thục khác nhau, hoặc
hướng ngoài phôi theo một trong hai con đường: Noãn hoàng, biệt hóa thành
u tỳi noón hoàng, hoặc nguyên bào nuôi, biệt hóa thành một UT biểu mô đệm
nuôi [61].
16
Quá trình biệt hóa là không cố định, do đó các u có thể bao gồm nhiều thành
phần biệt hóa khác nhau biểu hiện các giai đoạn khạc nhau của sự phát triển
[61].
Sơ đồ 1.1. Giả thuyết hiện đại về tạo mô học của các u tế bào mầm [61]
1.3.3.2 Phân loại mô bệnh học UTbM BT [73]
Phân loại của tổ chức y tế thế giới (WHO) chia các UTbM thành nhiều nhóm
và cũng bao gồm các u chứa tế bào mầm và nguồn gốc mô đệm - dây sinh
dục. Trong bảng phân loại gần đây nhất (2003), u tỳi noón hoàng đã được mở
rộng bao gồm các dưới típ: Đa tỳi noón hoàng, dạng gan và tuyến. Các dưới
típ này không giống các mẫu biệt húa khỏc trong u tỳi noón hoàng, chúng có
thể xảy ra ở dạng đơn độc do đó gây khó khăn cho chẩn đoán. Phân loại mới
cũng mở rộng nhóm UQ, chia chúng thành UQ hai pha, ba pha hoặc đơn pha
và các u loại xụma liên quan tới UQ hai pha hoặc ba pha. Các u bao gồm tế
bào mầm và nguồn gốc mụ đệm-dõy sinh dục được chia thành hai loại: U
17
nguyên bào sinh dục (Gonadoblastoma) và u hỗn hợp tế bào mầm-mụ đệm-
dõy sinh dục; Mỗi loại này lại được chia thành những dưới nhóm nhỏ bao
gồm các u kết hợp với u nghịch mầm hoặc các u tế bào mầm khác [61].
UTbM khác âm tính [80].
Placental alkaline phosphattase (PLAP)
PLAP là một trong sáu men phốt phát kiềm đặc hiệu cơ quan. Là một
glycoprotein phân tử bao gồm hai tiểu đơn vị trọng lượng phân tử là 64kDa.
PLAP là một đáu ấn cho tế bào mầm đặc biệt cho u nghịch mầm và UTBM phôi.
CD117
Protein là một thụ thể yếu tố tăng trưởng gắn tyrosin kinase xuyên
màng, sản phẩm của sự bộc lộ gen c-kit. Bộc lộ CD117 có thể gặp trong u mô
đệm dạ dày ruột, UTbM, u hắc tố, được phát hiện bằng nhuộm HMMD. Một tỉ
lệ nhỏ UT biểu mô thanh dịch BT dương tính mạnh với CD117. Trong bệnh học
BT CD117 là dấu ấn hữu ích nhất của u nghịch mầm, dương tính mạnh, lan tỏa
màng bào tương trong hầu hết trường hợp [92].
Alpha-fetoprotein (AFP)
AFP là một protein giống albumin, thấy trong huyết thanh thai nhi.
Nồng độ AFP huyết thanh ở người trưởng thành có thể phát hiện được được
quan sát thấy trong hầu hết BN với UTBM tế bào gan. Trong các UTBM BT
như u tỳi noón hoàng, UTBM phôi có thể được hiển thị bằng HMMD trong
các mẫu nhuộm khác nhau.
Hman chorionic gonadotropin (HCG)
Là một húc mụn polypeptide gồm tiểu đơn vị α- và β Tiểu đơn vị β-
đặc hiệu cho nguồn gốc sinh dục của nguyên bào nuôi. Trong các UTbM
HCG nhuộm HMMD dương tính với cỏc nguyờn bào nuôi hợp bào nuôi trong
UT nguyên bào nuôi và với các hợp bào nuôi trong UTbM khác [80].
1.4. Phân loại giai đoạn lâm sàng các u BT
Phân loại giai đoạn các u BT theo Hiệp hội phòng chống UT quốc tế và
Liên đoàn sản phụ khoa quốc tế (FIGO) 2010 [89]. (Xin xem phần phụ lục II)
20
1.5. Tình hình nghiên cứu u tế bào mầm BT
1.5.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
UTbM nói chung cũng như UTbM BT nói riêng đã được
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm các BN được chẩn đoán là u BT, đã được phẫu thuật và kết
quả xét nghiệm MBH sau mổ xác định là UTbM, tại Bệnh viện K, bệnh viện
Phụ sản Trung ương và bệnh viện Bạch Mai trong thời gian từ tháng 1/2009
đến tháng 8/2012.
2.1.2. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Tất cả các trường hợp UTbM BT được phẫu thuật tại Bệnh viện K, Bệnh
viện Phụ sản Trung ương và Bệnh viện Bạch Mai có thông tin hành chính đầy đủ.
- Kết quả nghiệm MBH sau mổ khẳng định là UTbM
- Có mô tả chi tiết cả về hình thái đại thể.
- Cũn các khối nến có đủ bệnh phẩm để chẩn đoán MBH và HMMD.
2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ
- Các trường hợp UTbM không có thông tin đầy đủ như trên.
- Kết quả nghiệm MBH sau mổ UTbM nhưng không có đánh giá chi
tiết về hình thái đại thể.
- Không còn khối nến hoặc bệnh phẩm không đủ để cắt nhuộm lại HE
và HMMD.
- Các trường hợp u BT nhưng không phải UTbM.
- Các trường hợp UTbM tái phát hoặc các trường hợp có hình thái vi
thể của u UTbM nhưng không xác định được vị trí u nguyờn phỏt hoặc những
trường hợp có UT thứ hai.
22
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
- Chúng tôi tiến hành nghiên cứu theo phương pháp nghiên cứu mô tả
cắt ngang.
- Cách chọn mẫu nghiên cứu:
Chon mẫu không xác suất, loại mẫu có chủ đích.
2.2.2. Thiết bị, dụng cụ, hóa chất và vật liệu nghiên cứu
- Để khảo sát, tính toán tỷ lệ UTbM BT nói chung, chọn tất cả UTbM
BT đủ tiêu chuẩn được chẩn đoán trong thời gian: Từ 1/2010 – 7/2012 tại
Bệnh viện Mạch Mai, từ 1/2011 – 7/2012 tại Bệnh viện K Hà Nội và từ
1/2012 – 7/2012 tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, kết quả chọn được 524
trường hợp.
- Để phân tích riêng về đặc điểm mô bệnh học của UTbM BT ác tính và
chọn mẫu nhuộm HMMD với mục đích tăng cỡ mẫu của nhóm này, chúng tôi
mở rộng khoảng thời gian lấy mẫu là 1 năm tại bệnh viện Bạch Mai (1/2009-
1/2010), và 1 tháng (7/2012- 8/2012) tại bệnh viện K Hà Nội và bệnh viện
Phụ sản Trung ương, kết quả chọn thêm được 6 trường hợp UTbM ác tính vào
nghiên cứu. Tổng cộng có 44 UTbM ác tính được phân tích (u quái không
thành thục 17 trường hợp, 14 u tỳi noón hoàng, 10 u nghịch mầm, và 3 u tế
bào mầm hỗn hợp)
- Cỡ mẫu toàn bộ của nghiên cứu là 530 trường hợp.
24
Tiến cứu
- Thời gian từ 2/2012 – 8/2012 chọn được 270 trường hợp.
- Thu thập các số liệu từ hồ sơ bệnh án theo mẫu bệnh án nghiên cứu.
- Mô tả về số lượng, vị trí u (một hay cả hai bên), hình thái đại thể,
đường kính lớn nhất, diện cắt , sau đó chụp ảnh và lưu trữ trong máy tính.
Hồi cứu:
- Thời gian từ 1/2009 – 2/2012, chọn được 260 trường hợp.
- Tra cứu hồ sơ bệnh án, thu thập số liệu theo mẫu bệnh án nghiên cứu,
tìm lại tiêu bản, khối nến cắt nhuộm lại HE và HMMD nếu cần.
Xét nghiệm MBH:
- Xét nghiệm MBH để khẳng định chẩn đoán và định típ MBH theo tiêu
chuẩn phân loại của TCYTTG năm 2003: Phẫu tớch mụ u, cố định trong dung
dịch formol trung tính 10%. Để bệnh phẩm đã cố định ở nhiệt độ phòng 12 giờ,
sau đó pha thành những mảnh với kích thước 1-2cm x 1-2cm x 0,1-0,3cm,
đánh số rồi cho vào khuôn nhựa, xử lý theo phương pháp thông thường bằng
1 ~ (1đến 10% tế bào u nhuộm màu)
2 ~ (10 đến 50% tế bào u nhuộm màu)
3 ~ (≥ 50% tế bào u nhuộm màu)
+ Cường độ (Staining intensity-SI) [56], [52]:
0 ~ Âm tính
1 ~ Cường độ yếu (Vàng nhạt)
2 ~ Cường độ trung bình (Nâu vàng)
3 ~ Cường độ mạnh (Nâu)
- Điểm toàn bộ (Overall staining score-OS) được tính cho bất kỳ dấu ấn
nào: OS = SE x SI và được biểu thị bởi số nguyên từ 0 – 9 [56].
- Phản ứng dương tính khi OS >0.
- Âm tính: 0 điểm, 1-3 điểm (+), 4-6 điểm (++), 7-9 điểm (+++).