B GIO DC V O TO B NễNG NGHIP V PTNT
VIN KHOA HC NễNG NGHIP VIT NAM
DNG TH HNG MAI nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của một số giống lúa
địa ph-ơng tại vùng đất nhiễm mặn tỉnh nam định
Chuyờn ngnh : Khoa hc cõy trng
Mó s : 62 62 01 10
LUN N TIN S NễNG NGHIP H NI 2014
Công trình hoàn thành tại:
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Ngƣời hƣớng dẫn: 1. PGS.TS. Phạm Văn Cƣờng
2. TS. Lê Khả Tƣờng
nó là nước biển dâng đang là nguy cơ cho các vùng đất canh tác thấp ven
biển. Như vậy, đất nhiễm mặn là một trong những yếu tố chính gây khó
khăn cho chiến lược phát triển lúa gạo và ảnh hưởng xa hơn là mục tiêu đảm
bảo an ninh lương thực sẽ khó thành. Nghiên cứu về các yếu tố sinh lý liên
quan đến tính chịu mặn của cây lúa, các nhà khoa học cho rằng sự mất cân
bằng nước, sự thay đổi giá trị của các yếu tố liên quan đến quang hợp do
môi trường mặn đã ức chế quá trình sinh trưởng, phát triển và làm giảm
năng suất lúa. Hoạt động sinh lý và trao đổi chất của cây lúa bị ức chế trong
điều kiện mặn là do sự mất cân bằng nước, ngộ độc ion hoặc do mất cân
bằng trong trao đổi ion. Độ mặn cao làm giảm hoạt động quang hợp của cây
lúa. Các nhà khoa học trên thế giới và ở Việt Nam đã và đang nỗ lực nghiên
cứu thu thập, sàng lọc, quy tụ các gen chịu mặn vào các giống lúa ưu tú
nhằm tạo ra các giống lúa có khả năng chịu mặn cao để ứng phó với điều
kiện bất thường của biến đổi khí hậu và đáp ứng nhu cầu lương thực trên thế
giới. Ngày nay các hoạt động nghiên cứu, khai thác và chọn tạo giống lúa
chịu mặn đã được tăng cường ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt
Nam. Trong đó các nguồn gen lúa địa phương, bản địa có vai trò đặc biệt
quan trọng trong việc cải tiến khả năng chịu mặn của cây lúa. Sử dụng
nguồn gen lúa địa phương, cổ truyền trong nghiên cứu chọn tạo giống lúa
chịu mặn đã được chứng minh là một giải pháp sinh học mang tính bền
2
vững và có hiệu quả cao trong việc ổn định và nâng cao năng suất lúa cho
các vùng nhiễm mặn. Bên cạnh giải pháp sử dụng nguồn gen lúa chống chịu
mặn, các biện pháp canh tác khác như áp dụng các loại phân bón khác nhau
cũng góp phần cải thiện tính chống chịu mặn, làm tăng năng suất và hiệu
quả kinh tế trong canh tác lúa nước ở vùng nhiễm mặn. Tuy nhiên các công
trình nghiên cứu ở nước ta về việc sử dụng các loại phân bón làm thúc đẩy
quá trình quang hợp, gia tăng tỷ lệ chọn lọc của K
+
3. Tính mới và những đóng góp của đề tài
- Xác định được đa dạng di truyền của nguồn gen lúa chịu mặn gồm 4 phân
nhóm khác nhau với 4 nguồn gen điển hình với mức độ tương đồng là 0,78.
- Xác định được một số chỉ tiêu sinh lý liên quan tới chịu mặn ở một
giai đoạn của các nguồn gen lúa bản địa, bao gồm cường độ quang hợp, độ
dẫn khí khổng, cường độ thoát hơi nước, chỉ số SPAD và hiệu suất lượng tử
tối đa (Fv/Fm).
- Xác định được một số chỉ tiêu nông sinh học liên quan tới chịu mặn cả
thời kỳ sinh trưởng của các nguồn gen lúa bản địa, bao gồm tốc độ ra lá, tốc
độ đẻ nhánh, diện tích lá xanh và khối lượng chất khô, thời gian làm đòng,
số bông/khóm và số hoa phân hóa/bông.
- Lựa chọn được một số nguồn gen lúa bản địa có khả năng chịu mặn
tốt để giới thiệu cho công tác chọn tạo giống lúa chịu mặn là: Lúa Chăm,
Chăm biển, Cườm, Nếp Ốc. Trong đó giống Nếp Ốc đã được nghiên cứu kỹ
thuật canh tác thích hợp cho vùng nhiễm mặn Nam Định với mức phân bón
90 kg N/ha, mật độ 30 khóm/m
2
cho năng suất cao nhất.
4. Bố cục của luận án
Nội dung chính của luận án được thể hiện trong 127 trang (không kể
phần tài liệu tham khảo và phụ lục). Mở đầu: 5 trang; Chương 1: Tổng quan
tài liệu: 41 trang; Chương 2: Nội dung, vật liệu và phương pháp nghiên cứu:
10 trang; Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: 70 trang; Kết luận và
đề nghị: 2 trang. Luận án gồm có 41 bảng số liệu, 11 hình, 45 tài liệu tiếng
Việt, 95 tài liệu tiếng Anh, 1 tài liệu web. Phần phụ lục có ảnh hoạt động thí
nghiệm, kết quả phân tích thống kê và xử lý số liệu thí nghiệm và các nội
dung có liên quan đến luận án.
liên kết với nước biển dâng mang nước mặn tiến sâu vào đất liền, biến nhiều
vùng đất trồng lúa bị mặn hóa (Bùi Chí Bửu và cộng sự, 2000).
1.1.3. Đặc điểm của đất mặn và quá trình xâm nhiễm mặn:
Đất mặn được xem là đất có vấn đề phổ biến trên toàn thế giới, làm
hạn chế năng suất cây trồng. Tính chất vật lý, hoá học của đất mặn rất đa
5
dạng. Biến động này có liên quan đến nguồn gốc sinh vật mặn, độ pH, hàm
lượng chất hữu cơ, chế độ thủy văn và nhiệt độ của đất và không
khí…(Akbar et al., 1982). Hội khoa học Đất Mỹ (SSSA-1979) đã xác định
đất mặn là đất có độ dẫn điện (EC) từ 2 - 4 ds/m. Đất mặn toàn thế giới
chiếm tới 7% diện tích đất. Sự mặn hóa cũng làm giảm diện tích tưới tiêu
trên thế giới 1-2% mỗi năm. Ở 2 lục địa đất bị nhiễm mặn nhiều và ít có khả
năng trồng trọt được là Châu Âu và Bắc Mỹ. Ở Châu Á 80% đất bị nhiễm
mặn vẫn có khả năng trồng trọt. Theo ước tính, mặn sẽ tàn phá 50% diện
tích đất canh tác vào năm 2050 (Wang et al., 2003).
Nhiễm mặn là một vấn đề nghiêm trọng nhất hiện nay đối với sản
xuất nông nghiệp. Theo thống kê trên Thế giới, 20% diện tích đất trồng trọt
có điều kiện tưới tiêu bị nhiễm mặn (Flowers và cộng sự, 1997). Ở các vùng
khô hạn và bán khô hạn, độ ẩm không khí thấp, nhiệt độ cao, sự thoát hơi
nước nhanh làm ảnh hưởng đến nguồn nước và sự cân bằng muối ở trong
đất, nguyên nhân này gây nên hiện tượng mặn hoá. Đối với vùng ven biển,
vào mùa khô nước biển xâm nhập vùng diện tích nằm gần bờ biển, nước
biển rút đi tạo thành lớp muối đọng lại và có thể gây nên sự nhiễm mặn đất.
Bên cạnh đó, hạn hán cũng làm tăng mức độ xâm nhập mặn sâu vào đất liền
bởi mạch nước ngầm dâng cao, đồng thời hạn hán còn làm giảm khả năng
ém mặn bởi lượng nước ngọt ở các lưu vực sông thấp.
1.2. Đa dạng di truyền và bảo tồn nguồn gen
Ngân Hàng Gen thế giới đang lưu giữ 572.029 mẫu giống lúa trồng
(Oryza sativa và O. glaberrima) và khoảng 23.000 mẫu lúa hoang, tại 6
Trong điều kiện thiệt hại nặng hơn trọng lượng khô của chồi và rễ suy giảm
tương ứng với mức độ thiệt hại (Gregorio,1997).
1.3.2. Cơ sở sinh lý chịu mặn
Lúa là một trong các loại cây trồng mẫn cảm với độ mặn của đất, độ
mặn giới hạn cho phép lúa sinh trưởng, phát triển được là 0.6-0.8%. Năng suất
lúa giảm tới 70-100% nếu độ mặn quá nghiêm trọng (Heenan và cộng sự,
1988). Tuy nhiên, khả năng chịu mặn phụ thuộc nhiều vào từng loài và giống
lúa khác nhau, một số giống lúa có khả năng chống chịu tốt với điều kiện mặn.
Loài lúa dại (Oryza latifolia) có khả năng chịu mặn tốt hơn lúa trồng (Oryza
sativa), ở loài này cây lúa có khả năng duy trì quá sinh trưởng bình thường
mặc dù hàm hượng Na
+
trong lá rất cao (Nakamura và cộng sự, 2002). Trong
nông nghiệp, thiệt hại do mặn, lạnh, và khô hạn có ảnh hưởng nghiêm trọng
nhất đối với năng suất cây trồng (Boyer 1982). Đặc biệt thiệt hại do mặn có
thể làm thay đổi hoạt động sinh trưởng, phát triển, năng suất và làm chết cây.
1.3.3. Di truyền tính chịu mặn của cây lúa
Các nhà khoa học trên thế giới đã có nhưng công trình nghiên cứu
kinh điển về sự di truyền phân tử tính chống chịu mặn. Dựa vào bản đồ QTL
7
(quantitative trait loci) – bản đồ phân tích di truyền tính trạng số lượng, trên
cơ sở tính chống chịu mặn là tính trạng mục tiêu do đa gen điều khiển, sử
dụng AFLP và STS marker các nhà khoa học đã cho thấy gen chủ lực điều
khiển tính trạng chống chịu mặn được định vị trên Nhiễm sắc thể số 1 và
được gọi là gen Saltol (Bùi Chí Bửu- Nguyễn Thị Lang,2003).
Bản đồ QTL (quantitative trait loci) được áp dụng trong trường hợp
những tính trạng mục tiêu do đa gen điều khiển (thí dụ như tính chống chịu
mặn). Di truyền số lượng truyền thống không thể phát hiện QTL trên những
loci riêng biệt gắn với tính trạng số lượng đang nghiên cứu, vị trí của nó trên
Theo hướng cải tạo đất mặn, bằng các biện pháp công trình thủy lợi,
các tác giả đề xuất việc xây dựng các hệ thống đê bao ngăn nước mặn, cống
điều tiết, xây dựng các hồ chứa nước ngọt, kiểm soát lưu vực…
Kết quả, chương trình: “Điều kiện đánh giá tình hình sử dụng vùng
đất cát, bãi bồi ven biển trên phạm vi toàn quốc làm căn cứ phát triển sinh
thái bền vững” của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp cho thấy, thực
trạng sử dụng cho mục đích nông nghiệp của đất mặn cả 2 vùng Đồng bằng
sông Hồng và Bắc Trung Bộ là 78.569 ha (chiếm 54,32% tổng diện tích đất
mặn). Trong đó diện tích đất lúa nước là 45.597 ha (chiếm 31,53% diện tích
đất mặn), đất chuyên màu 5.738 ha, đất nuôi trồng thủy sản 16.809 ha.
9
CHƢƠNG II
NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu
2.1.1.
Đánh giá nhanh khả năng chịu mặn các nguồn gen lúa
- Gồm 19 nguồn gen lúa được thu thập và lưu giữ tại Ngân hàng gen
cây trồng Quốc gia. (danh sách trình bày trong bảng 2.1)
2.1.2. Đánh giá đa dạng di truyền các nguồn gen lúa và khả năng chịu
mặn bằng chỉ thị SSR
- Gồm các nguồn gen lúa trên
- 13 chỉ thị phân tử SSR liên kết với gen/QTL đã được xác định có
khả năng chống chịu mặn và lập bản đồ (http://gramene.org)
2.1.3. Nghiên cứu các đặc tính nông sinh học liên quan đến chịu mặn của
các nguồn gen lúa
- Gồm 19 nguồn gen lúa trên
2.1.4. Đánh giá các chỉ tiêu nông sinh học liên quan đến chịu mặn
Nguồn gen được chọn từ kết quả đánh giá nhanh khả năng chống chịu
2.3.2. Tiến hành bố trí thí nghiệm đánh giá nhanh khả năng chịu mặn của
các nguồn gen lúa theo Nakamura (2002)
Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp của Nakamura và cộng
sự, năm 2002, cây lúa được trồng trong dung dịch Kimura B (bảng 2.3)
+ 20 cây mạ 4 tuần tuổi của mỗi nguồn gen được trồng trong chậu
có phủ nilon đen chứa dung dịch Kimura B (Nakamura và cộng sự, 2002),
tấm xốp đậy nổi trên dung dịch có đục lỗ để cố định cây, pH điều chỉnh
bằng 5-5,5, mỗi tuần thay dung dịch dinh dưỡng 1 lần. Mỗi chậu được xử lý
mặn với dung dịch NaCl có nồng độ 113 mM (Nakamura và cộng sự, 2002)
trong 2 tuần, mỗi tuần cần thay mới dung dịch NaCl, độ pH cần điều chỉnh
5.0-5.5. Thí nghiệm được bố trí với 4 lần nhắc lại. Sau 2 tuần đếm tỷ lệ cây
sống sót. Tỷ lệ này tính bằng số cây có 3 lá xanh/nhánh trên tổng số cây
theo dõi. Thí nghiệm sẽ được lặp lại 2 lần.
2.3.3. Đánh giá đa dạng di truyền các nguồn gen lúa bằng chỉ thị SSR
Phương pháp tách chiết ADN tổng số và nhận dạng di truyền bằng
chỉ thị phân tử
11
2.3.4. Nghiên cứu các đặc tính quang hợp liên quan đến chịu mặn của
các nguồn gen lúa
Theo phương pháp của Nakamura và cộng sự, năm 2002, nội dung
của phương pháp cụ thể:
- Xác định cường độ quang hợp (CĐQH) và các chỉ tiêu liên quan
(độ dẫn khí khổng, cường độ thoát hơi nước).
- Xác định chỉ số SPAD (một chỉ số tương quan thuận với hàm
lượng Chlorophyll trong lá).
- Hàm lượng Chlorophyll trong lá.
- Hiệu suất lượng tử tối đa (Fv/Fm).
- Ảnh hưởng của mặn tới một số chỉ tiêu: Tốc độ ra lá, tốc độ đẻ
nhánh, diện tích lá, số bông/khóm, số hoa phân hóa và thời gian làm đòng,
(ha)
Tỷ lệ
(%)
I
Cồn cát, bãi cát và đất cát biển
C
1569,1
1,0
1
Cồn cát trắng
Cc
1569,1
1,0
II
Đất mặn
M
41016,6
25,1
2
Đất mặn sú vẹt đước
Mm
2887,4
1,8
3
Đất mặn nhiều
Mn
6092,9
3,7
4
Đất mặn trung bình
P
h
b
3090,4
2,4
9
Đất phù sa không được bồi hàng
năm, không có tầng glây của HTSH
p
h
49989,7
30,5
10
Đất phù sa glây của HTSH
P
h
g
34143,9
20,8
11
Đất phù sa loang lổ đỏ vàng của
HTSH
P
h
f
540,3
0,3
12
Đất phù sa úng nước mưa mùa hè
Pj
Sản xuất lúa ở Nam Định tập trung tại hầu khắp các huyện thị với
tổng diện tích toàn tỉnh là 685.703 ha. Trong đó có 29.523 ha vùng nhiễm
mặn và 656.180 ha vùng không nhiễm mặn. Kết quả điều tra cũng cho thấy
có sự khác nhau đáng kể về năng suất giữa 2 vùng nhiễm mặn và không
nhiễm mặn, tương ứng với 47,38 và 55,83 tạ/ha tại Giao Thủy, 53,98 và
62,72 tạ/ha tại Hải hậu, 55,32 và 62,36 tạ/ha tại Nghĩa Hưng. Sự suy giảm
năng suất lúa trên đất nhiễm mặn cũng được ghi nhận tại các huyện Trực
Ninh và Xuân Trường (Bảng 3.3)
Bảng 3.3. Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa vùng nhiễm mặn Nam
Định năm 2009
TT
Tên huyện
Vùng nhiễm mặn
Vùng không nhiễm mặn
DT
(ha)
NS
(tạ/ha)
SL
(tấn)
DT
(ha)
NS
(tạ/ha)
SL
(tấn)
1
Giao Thủy
8725
Nghĩa Hưng
8125
55,32
44947
14370
62,36
89611
6
TP. Nam
Định
-
-
-
1.862
43,35
8071
7
Trực Ninh
2018
56,80
11462
13972
61,70
86206
8
Vụ Bản
-
-
-
16.294
Qua việc xử lý mặn bằng dung dịch muối NaCl với nồng độ cao
(113 µM/L), chúng tôi theo dõi tỷ lệ mạ sống sau khi giống chuẩn nhiễm
mặn chết, kết quả được trình bày ở bảng 3.5.
14
Từ kết quả đánh giá nhanh khả năng chịu mặn của các nguồn gen
lúa trong thời kỳ cây con, đã lựa chọn được 6 nguồn gen có tỷ lệ sống cao (4
nguồn gen lúa tẻ và 2 nguồn gen lúa nếp) làm vật liệu cho các thí nghiệm
tuyển chọn các nguồn gen lúa chịu mặn là Lúa Chăm (SĐK 5127), A69-1
(SĐK 6157), Cườm dạng 1 (SĐK 6188), Chiêm rong (SĐK 6191), Nếp Ốc
(SĐK 6192 ), Nếp Nõn tre (SĐK 6196).
Bảng 3.5. Kết quả đánh giá khả năng chịu mặn 19 nguồn gen lúa
TT
Số đăng ký
Tên nguồn gen
Tỷ lệ cây
mạ sống
(%)
Khả năng chịu
mặn
1
3443
Nước mặn dạng 1
86,1
Chịu
2
4705
Lúa ngoi
52,8
Chịu TB
9
6189
Cườm dạng 2
53,4
Chịu TB
10
6190
Hom râu
19,4
Mẫn cảm
11
6191
Chiêm rong
88,9
Chịu tốt
12
6192
Nếp Ốc
80,6
Chịu
13
6193
Nếp vải
11,1
Rất mẫn cảm
14
6196
Nếp Nõn tre
82,3
Chịu
15
3.3. Kết quả đánh giá đa dạng di truyền và khả năng chịu mặn của các
giống lúa địa phương bằng chỉ thị SSR
3.3.1. Phân tích da dạng di truyền các nguồn gen lúa và khả năng chịu mặn
bằng chỉ thị SSR
Các mẫu ADN sau khi kiểm tra được pha loãng xuống nồng độ
5ng/µl để tiếp tục sử dụng trong phản ứng PCR.
Hình 3.1: Kết quả nhận dạng di truyền 19 nguồn gen lúa bằng chỉ thị SSR-RM9
Bảng 3.1. Đa hình các locut SSR ở 19 nguồn gen lúa nghiên cứu
STT
Locut
NST
Kiểu lặp
Số băng đa hình
PIC
1
RM 09
1
(GA)15GT(GA)2
9
0,87
2
RM 17
12
(GA)21
9
0,83
3
RM 231
3
(CT)16
6
0,79
9
RM 493
1
(CTT)9
9
0,86
10
RM 518
4
(TC)15
7
0,74
11
RM 3412
1
(CT)17
9
0,85
12
RM 5371
6
(TC)13
4
0,70
13
gồm 2 nguồn gen có khả năng chịu mặn tốt là Nước mặn dạng 1 (SĐK
3443) và A69-1 (SĐK 6157). Trong khi đó nhóm Ic phân tách với nhóm Ib
và Ia tại mức độ tương đồng di truyền là 0.78, có các nguồn gen có khả năng
chịu mặn khá và tốt gồm Cườm dạng 1 (SĐK 6188), Nếp Ốc (SĐK 6192),
Chiêm rong (SĐK 6191) và Nếp nõn tre (SĐK 6196).
- Nhóm II: với mức tương đồng di truyền 0,78 gồm nhóm IIa và IIb.
Nhóm IIa gồm 2 nguồn gen Hom râu (có SĐK lần lượt là 6182 và 6183) và Lúa
ngoi (SĐK 4705) phân nhánh cùng giống chuẩn kháng Pokkali. Trong khi đó
nhóm IIb gồm 2 nguồn gen có khả năng chịu mặn kém là Hom râu (SĐK 6190)
và Nếp vải (SĐK 6193).
Hình 3.3. Cây phân nhóm di truyền SM-UPGMA dựa trên kiểu gen SSR
của 19 nguồn gen lúa nghiên cứu
17
Từ kết quả nghiên cứu đa dạng di truyền liên quan đến tính chịu mặn đã
chọn lọc các nguồn gen điển hình có khả năng chịu mặn thuộc 5 phân nhóm
khác nhau với mức độ tương đồng là 0,78 là các nguồn gen Nước mặn dạng 1
(SĐK 3443), A69-1 (SĐK 6157), Lúa chăm (SĐK 5127) và Lúa chăm biển
(SĐK 6234), Cườm dạng 1 (SĐK 6188), Chiêm rong (SĐK 6191), Nếp Ốc
(SĐK 6192), Nếp Nõn tre (SĐK 6196).
3.4. Đánh giá đặc tính sinh lý, nông sinh học liên quan đến chịu mặn
của các nguồn gen lúa
3.4.1. Ảnh hưởng của mặn đến các đặc tính sinh lý và nông sinh học của các
giống lúa trong giai đoạn đẻ nhánh (Vụ Xuân 2010)
+ Cường độ quang hợp và các chỉ tiêu liên quan:
Bảng 3.3. Ảnh hƣởng của mặn đến CĐQH và các chỉ tiêu liên quan ở
giai đoạn đẻ nhánh
CT
26,03
1,03
293,43
10,67
35,50
Nếp Nõn tre
29,98
1,04
295,40
12,37
34,53
IR28 (Đ/C1)
29,59
0,93
287,16
12,11
34,98
A69-1 (Đ/C2)
28,80
0,67
267,00
11,35
38,73
TB
29,07
0,93
41,20
Nếp Nõn tre
25,89
0,51
261,31
9,37
37,38
IR28 (Đ/C1)
22,35
0,44
261,47
7,55
41,18
A69-1 (Đ/C2)
24,23
0,80
289,18
9,73
38,00
TB
24,41
0,58
268,49
8,26
38,17
0,37
263,62
6,44
33,95
IR28 (Đ/C1)
18,20
0,36
268,53
6,69
38,00
A69-1 (Đ/C2)
17,33
0,45
285,33
7,20
37,08
TB
17,98
0,35
263,28
5,94
36,27
LSD
0,05(M)
0,96
Như vậy ở giai đoạn đẻ nhánh, khi tăng nồng độ mặn đã làm giảm
CĐQH, độ nhạy khí khổng, cường độ thoát hơi nước, chỉ số SPAD, hiệu
suất lượng tử tối đa (Fv/Fm) của các nguồn gen lúa. Tuy nhiên, mức độ ảnh
hưởng của mặn đến chỉ tiêu Fv/Fm ít hơn so với các chỉ tiêu khác. Nguồn
gen Lúa Chăm và Chăm biển đều có CĐQH và các chỉ tiêu liên quan cao
hơn các nguồn gen khác và tương đương với đối chứng.
+ Diện tích lá và khối lượng chất khô
Bảng 3.12. Ảnh hƣởng của mặn đến diện tích lá và khối lƣợng chất khô
của các giống lúa ở giai đoạn đẻ nhánh
CT
Giống
DT lá
xanh (cm
2
)
KLCK
(g)
T/ R
Tỷ lệ lá
chết
(%)
SLA
(cm
2
/g)
Lúa chăm
382,84
3,77
273,39
IR28 (Đ/C1)
176,50
1,74
4,57
-
214,58
A69-1 (Đ/C2)
301,80
1,80
4,74
-
339,10
TB
431,29
3,26
5,00
272,82
Lúa chăm
282,88
3,17
5,94
3,78
212,69
1,68
4,42
6,08
248,92
A69-1 (Đ/C2)
178,52
2,13
4,49
0,89
195,64
TB
319,85
3,02
5,13
2,51
227,43
Lúa chăm
207,12
2,12
4,87
19,13
318,65
Cườm dạng 1
414,19
4,14
6,45
A69-1 (Đ/C2)
66,82
0,79
3,01
30,47
220,88
TB
207,38
2,21
6,41
19,84
229,72
LSD
0,05 (M)
77,14
0,52
1,83
12,10
64,00
LSD
0,05(M*G)
204,10
1,37
4,83
32,02
lúa (ngày)
Tên nguồn gen
Cấy -ĐNHH
Cấy -Trỗ
TGST (ngày)
X 2010
X 2011
X 2010
X 2011
X 2010
X 2011
Cườm
44
57
95
112
145
155
Chiêm rong
44
57
93
112
143
155
Nếp Nõn tre
44
57
90
110
Số hạt/bông
Tỷ lệ hạt chắc
(%)
Khối lƣợng
1000 hạt (g)
X2010
X2011
X2010
X2011
X2010
X2011
X2010
X2011
Cườm
10,5
*
12,8
*
92,2
*
91,4
*
65,6
64,6
24,2
24,4
Nếp Ốc
10,0
*
13,8
*
94,2
*
91,0
*
66,6
61,9
24,5
24,6
IR 28 (ĐC1)
7,1
7,0
69,1
67,6
53,5
60,0
17,4
17,6
A 69-1 (ĐC2)
8,8
10,1
74,9
74,1
tấn/ha) thấp hơn đối chứng A69-1 trong vụ Xuân 2010 nhưng trong vụ Xuân
2011 năng suất đạt 45,2 tạ/ha tương đương với đối chứng.
3.6. Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác giống lúa chịu mặn
tại vùng đất mặn Nam Định.
3.6.1 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến khả năng sinh trưởng
phát triển của giống lúa Nếp Ốc
Bảng 3.30. Ảnh hưởng của mật độ và phân đạm đến khả năng đẻ nhánh và
hình thành bông hữu hiệu, khả năng tích luỹ chất khô của giống Nếp Ốc
Phân
bón
Mật độ
(khóm/m
2
)
Số dảnh/m
2
Tỷ lệ bông
hữu hiệu (%)
Sinh khối (tấn/ha)
CT1
20
356
68,8
2.49
30
431
68,2
3.2
30
449
67,9
3.44
40
502
69,7
3.68
TB
436
69,6
3.22
CT4
20
335
71,3
2.54
30
460
57,0
3.15
40
472
57,8
3.62
TB
422
62,0
3.10
CV%
2
và mức bón 135 kg N/ha cho số nhánh đẻ
thấp nhất, 335 nhánh/m
2
, mật độ cấy 30 khóm/m
2
và mức bón 135 kg N/ha
cho tỷ lệ hình thành bông thấp nhất, 57,0%. Sự sai khác là có ý nghĩa. Như
vậy, tương tác giữa mật độ cấy và lượng đạm bón có ảnh hưởng rõ đến số
nhánh hữu hiệu/khóm.
3.6.2. Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất của Nếp Ốc
Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến tỷ lệ hạt
chắc của Nếp Ốc thấy tỷ lệ hạt chắc khá cao, biến động từ 84,9 % đến 91,6 %.
Bảng 3.33. Ảnh hƣởng của mật độ và phân đạm đến các yếu tố
cấu thành năng suất và năng suất
Phân
bón
Mật độ
(khóm/m2)
Bông/
m
2
Hạt
chắc
/bông
Tỷ lệ
lép
11.5
23.6
64.0
3.84
TB
279
104
10.9
23.6
68.0
3.82
CT2
20
246
124
11.2
24.1
73.5
4.17
30
296
114
8.4
23.5
79.3
4.28
40
322
91
12.0
24.1
73.4
4.01
TB
303
112
11.0
24.1
79.6
4.28
20
239
112
12.9
24.0
64.2
3.72
CT4
30
262
111
13.9
23.6
68.6
4.19
40
đạt cao nhất ở công thức bón 90 kg N/ha với cấy 40
khóm/m
2
, thấp nhất ở công thức 135 kg N/ha và cấy 20 khóm/m
2
. Số hạt trên
bông cao nhất là 131 hạt ở công thức cấy 20 khóm/m
2
và bón 90 kg N/ha, thấp
nhất là 87 hạt ở công thức cấy 40 khóm/m
2
và bón 90 kg N/ha. Năng suất thực
thu biến động từ 3.11 – 4,47 tấn/ha, đạt cao nhất ở công thức bón 90 kg N/ha và
cấy 30 khóm/m
2
, thấp nhất ở công thức bón 45 kg N/ha và cấy 40 khóm/m
2
.
23
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
1. Kết luận
Sản xuất lúa ở Nam Định tập trung tại hầu khắp các huyện thị với
tổng diện tích lúa toàn tỉnh đạt trên 685.000 ha. Trong đó có xấp xỉ 30.000
ha đất lúa nhiễm mặn. Kết quả điều tra năng suất lúa năm 2009 ở vùng
nhiễm mặn thấp hơn đáng kể so với vùng không nhiễm mặn, tương ứng với
4,738 và 5,583 tấn/ha tại Giao Thủy; 5,398 và 6,272 tấn/ha tại Hải hậu,
5,532 và 6,236 tấn/ha tại Nghĩa Hưng, năng suất lúa giảm trên vùng nhiễm
mặn cũng được ghi nhận tương tự tại các huyện Trực Ninh và Xuân Trường.