HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM HỒNG TRANG
HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC TRỪ RẦY VÀ TÍNH
KHÁNG THUỐC CỦA QUẦN THỂ RẦY LƯNG TRẮNG
(SOGATELLA FURCIFERA HORVATH) HƯNG YÊN
NĂM 2014 - 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2015
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM HỒNG TRANG
HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC TRỪ RẦY VÀ TÍNH
KHÁNG THUỐC CỦA QUẦN THỂ RẦY LƯNG TRẮNG
(SOGATELLA FURCIFERA HORVATH) HƯNG YÊN
NĂM 2014 - 2015
CHUYÊN NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT
MÃ SỐ: 60.62.01.12
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS HỒ THỊ THU GIANG
HÀ NỘI, NĂM 2015
MỤC LỤC
Lời cam đoan ................................................................................................... ii
Lời cảm ơn ...................................................................................................... iii
Mục lục ............................................................................................................ iv
Danh mục viết tắt.............................................................................................. vi
Danh mục bảng ................................................................................................ vii
Danh mục hình ............................................................................................... viii
MỞ ĐẦU............................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ..................................................................................1
2. Mục đích, yêu cầu: ..........................................................................................2
2.1. Mục đích ......................................................................................................2
2.2. Yêu cầu:.......................................................................................................3
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn ............................................................3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...................................................................4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài .............................................................................4
1.2 Nghiên cứu ở ngước ngoài ............................................................................6
1.2.1. Nguyên lý chung của tính kháng thuốc .............................................6
1.2.2. Tình hình kháng thuốc của sâu hại....................................................6
1.2.3 Sự di chuyển của rầy lưng trắng...........................................................7
1.2.4 Tính kháng thuốc, mức độ kháng và hiệu lực của thuốc trừ sâu đối
với rầy lưng trắng ................................................................................8
1.2.5 Các kết quả nghiên cứu về nguyên nhân và sự phát triển của tính
kháng thuốc của rầy lưng trắng .............................................................. 15
1.2.6 Các kết quả nghiên cứu về các biện pháp giảm thiểu tính kháng
thuốc của rầy lưng trắng .................................................................... 17
1.3 Nghiên cứu trong nước ............................................................................... 19
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......................... 23
2.1. Đối tượng và vật liệu và dụng cụ nghiên cứu ............................................. 23
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu ....................................................................... 23
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
DANH MỤC VIẾT TẮT
BVTV
Bảo vệ thực vật
CF
Correction factor
DTT
1,4-dithiothreitol
FAO
Food and agriculture organization of the United nationals
IRRI
International rice research institute
LC50
Lethal concentration 50
Số bảng
Tên bảng
Trang
3.1.
Các giống lúa trồng phổ biến tại tỉnh Hưng Yên năm 2013. .................... 34
3.2.
Các giống lúa có biểu hiện tính kháng rầy nâu và rầy lưng trắng của
tỉnh Hưng Yên năm 2013 ........................................................................ 35
3.3.
Thứ tự các loài sâu rầy quan trọng nhất trong những năm gần đây .......... 37
3.4.
Số loại thuốc thương phẩm và số loại hoạt chất thuốc trừ nhóm rầy
trên lúa đã được nông dân sử dụng tại tỉnh Hưng Yên năm 2013............. 38
3.5.
Các loại thuốc trừ rầy được dùng nhiều nhất từ 2003 đến nay tỉnh
Hưng Yên ............................................................................................... 40
3.6.
Page vii
DANH MỤC HÌNH
STT
Tên hình
Trang
2.1 : Thu bắt rầy lưng trắng tại Hưng Yên ....................................................... 24
2.2.
Nhân nuôi nguồn rầy trong lồng lưới lớn ................................................. 25
2.3.
Nhân nuôi nguồn rầy trong lồng mica ...................................................... 26
2.4
Dụng cụ pha thuốc................................................................................... 27
2.5.
Các thao tác tiến hành thí nghiệm nhỏ thuốc ............................................ 29
2.6:
tăng nhưng không ổn đinh. Hàng năm, ngoài tác hại do thiên tai, cây lúa còn bị
rất nhiều đối tượng gây hại làm giảm năng suất và sản lượng như sâu, bệnh hại,
chuột, cỏ dại.. đặc biệt ngày càng có nhiều dịch bệnh xảy ra thường xuyên hơn đã
ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất, chất lượng lúa.
Ở Việt Nam, trong 5 năm, từ 1999-2003, rầy nâu và rầy lưng trắng vẫn là
1 trong 3 nhóm dịch hại nguy hiểm nhất trên lúa (Nguyễn Văn Đĩnh, 2004). Theo
số liệu của Cục Bảo vệ thực vật (BVTV), trong những năm 1999-2003, diện tích
lúa bị hại do rầy nâu và rầy lưng trắng gây ra trong cả nước là 408.908,4ha, trong
khi đó diện tích bị hại nặng là 34.278,4ha, diện tích mất trắng là 179.175ha. Như
vậy diện tích lúa bị hại và bị hại nặng do rầy nâu gây ra xếp hạng thứ 3 trong 9
loài dịch hại chủ yếu, nhưng diện tích mất trắng đứng thứ 4. Đặc biệt, trong 5
năm, 2006-2013, diện tích lúa bị hại do rầy nâu và rầy lưng trắng gây ra trong cả
nước đã lên đến 597.392ha, trong đó diện tích bị hại nặng là 79.343ha, diện tích
mất trắng là 259ha (cao hơn rất nhiều so với giai đoạn 1999-2003).
Thực tế biện pháp sử dụng thuốc hóa học vẫn đang là biện pháp được sử
dụng rất phổ biến và hiệu quả phòng trừ rầy nâu và rầy lưng trắng đã mang lại
hiệu quả phòng trừ cao, giải quyết nhanh nhiều trận dịch lớn. Tuy nhiên quá lạm
dụng vào thuốc hóa học đã mang lại những hậu quả không mong muốn như: Gây
ô nhiễm môi trường, tiêu diệt các loài thiên địch và đặc biệt gây hiện tượng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
kháng thuốc của rầy nâu khiến việc phòng trừ chúng đã khó khăn càng trở nên
khó khăn hơn nữa.
Tính kháng thuốc của rầy lưng trắng với nhóm Neonicotinoid (chủ yếu là
thuốc Imidacloprid) được ghi nhận đầu tiên ở Thái Lan năm 2003, sau đó là ở
một loạt các nước châu Á như Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản (Matsumura et
2.2. Yêu cầu:
- Điều tra tình hình sử dụng thuốc BVTV ở tỉnh Hưng Yên
- Xác định được tính kháng đối với một số nhóm hoạt chất của các quần
thể rầy lưng trắng
- Xác định một số đặc điểm sinh vật học của rầy lưng trắng sống sót sau
khi tiếp xúc với thuốc.
- Đánh giá hiệu lực 1 số thuốc hóa học trên đồng ruộng đối với RLT
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Cũng như các loài sâu hại khác trên đồng ruộng, tính kháng thuốc là một
đặc điểm nổi bật và quan trọng của sâu hại lúa nói chung và rầy lưng trắng nói
riêng. Đây là đặc điểm mang tính di truyền, thể hiện phản ứng chọn lọc của
chúng với tác động (hóa chất trừ sâu) của môi trường. Hiện tượng kháng thuốc
của sâu hại xuất hiện khi việc sử dụng các loại thuốc diệt trừ chúng trở nên quá
lạm dụng.
Đặc biệt trong thời gian từ đầu thập niên 90 thế kỷ 20 trở lại đây, khi các
giống lúa lai xuất hiện và phát triển rộng rãi thì rầy lưng trắng (Su et al., 2013).
Nếu rầy lưng trắng có tác hại trực tiếp là chích hút nhựa cây vào giai đoạn lúa trổ
bông thì chúng sẽ làm cho số lượng bông và chiều dài bông giảm, hạt lúa bị lép,
lửng và làm chậm quá trình chín của hại. Rầy lưng trắng còn là môi giới truyền
virus gây bệnh lùn sọc đen phương Nam theo cơ chế truyền tái bền vững với khả
năng truyền bệnh rất cao.
Khi quần thể dịch hại chịu tác động lặp đi lặp lại của một loại thuốc trừ
hiện tượng kháng thuốc là một quá trình chọn lọc, rõ ràng sự chọn lọc sẽ xảy ra
càng mạnh (cường độ sức ép chọn lọc lớn) khi số lần phun thuốc/vụ/năm càng
nhiều, nồng độ liều lượng thuốc dùng càng cao, quy mô dùng thuốc càng rộng.
Trong những điều kiện như vậy, những quần thể dịch hại sẽ phải trải qua một quá
trình chọn lọc khắc nghiệt từ đó đẩy nhanh tốc độ phát triển và cường độ kháng
thuốc của chúng. Con người có thể chủ động tác động đến yếu tố cường độ sức
ép chọn lọc để giảm thiểu tốc độ hình thành và phát triển tính kháng thuốc của
sâu hại nói chung và rầy lưng trắng nói riêng.
Biện pháp sử dụng thuốc hoá học cũng dần trở nên kém hiệu quả trong
việc quản lý phòng trừ các loài dịch hại phổ biến. Nguyên nhân là do các loài
dịch hại có khả năng sinh sản nhanh và phát triển mạnh, vòng đời ngắn, trong
một năm có nhiều lứa và đặc biệt chịu áp lực chọn lọc thuốc hóa học rất cao do
đó chúng có khả năng hình thành tính kháng rất nhanh chóng.
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về tính kháng của rầy lưng trắng cũng đã
được ghi nhận, tuy nhiên những nghiên cứu này chưa nhiều. Do vậy, nghiên cứu
về tính kháng thuốc của rầy lưng trắng ở Hưng Yên và các giải pháp hạn chế tính
kháng thuốc của chúng là hết sức cần thiết để xây dựng cơ sở khoa học cho việc
quản lý hiệu quả và bền vững đối với loài sâu hại nguy hiểm này.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
1.2 Nghiên cứu ở ngước ngoài
1.2.1. Nguyên lý chung của tính kháng thuốc
Khái niệm tính kháng thuốc
Theo định nghĩa của WHO (1976): Kháng thuốc là sự giảm tính mẫn cảm
của một quần thể động thực vật với một loại thuốc BVTV, sau một thời gian dài
(trong quá trình sản xuất, bảo quản), quần thể này liên tục tiếp xúc với nhóm
hình thành mạnh nhất và được nghiên cứu nhiều nhất. Đến đầu những năm 80 của
thế kỷ 20, người ta đã phát hiện 447 loài côn trùng và nhện (trong đó có 264 loài
côn trùng và nhện hại nông nghiệp); trên 100 loài nấm và vi khuẩn; khoảng 50 loài
cỏ dại đã hình thành tính kháng.
Các loài côn trùng đã phát triển tính kháng với tất cả các nhóm thuốc trừ
sâu hữu cơ: Đầu tiên là các thuốc clo, lân hữu cơ và cacbamat, thì nay các nhóm
thuốc mới giết côn trùng trực tiếp như pyrethroid, formamidin, neonicotenic
v.v...(Gou et al., 1998), các chất triệt sản, các chất điều khiển sinh trưởng côn
trùng IGR cũng đã hình thành tính kháng.
1.2.3 Sự di chuyển của rầy lưng trắng
Khả năng di chuyển là một trong những đặc điểm gây nên hiện tượng
kháng thuốc của rầy lưng trắng, đây 1 đặc điểm rất quan trọng của rầy lưng trắng
trên đồng ruộng, cường độ, màu sắc ánh sáng đèn và nhiệt độ, ẩm độ và áp xuất
khỉ quyển quyết định việc phát tán của rầy lưng trắng, quá trình xâm nhập, di cư
của rầy có tính định hướng vào đồng lúa. Khoảng cách di chuyển, hướng di
chuyển của chúng phụ thuộc vào tốc độ, hướng gió. (Kisimoto, 1976)
Nhóm rầy lưng trắng có khả năng di chuyển với khoảng cách rất xa, chúng
có khả năng di chuyển từ phía Bắc Việt Nam tới phía Nam Trung Quốc và từ đó
chúng di cư đến Nhật Bản và Hàn Quốc.
Ở Nhật Bản, rầy lưng trắng Sogatella furcifera không thể qua đông. Vì thế
hàng năm xuất hiện các chuyến di cư đường dài ở lục địa châu Á, đây là điều đặc
biệt của loài này. Thời gian di cư diễn ra từ tháng 6 đến tháng 7. Ở thế hệ đầu
tiên sau nhập cư đạt mật độ cao nhất và giảm dần ở các thế hệ tiếp theo
(Kisimoto, 1976)
Sự di cư diễn ra giữa các khu vực nhiệt đới và các khu vực ôn đới của
châu Á vào suốt mùa xuân và mùa hè. Một mô hình được gọi là BLAYER đã
được áp dụng để dự báo sự di cư của các quần thể rầy lưng trắng Sogatella
furcifera từ Trung Quốc sang Hàn Quốc. Khu vực di cư vào đầu mùa là khu vực
Đông Nam Trung Quốc (25 ºNam, 115 º Đông). Vào cuối mùa sự di cư có thể bắt
(Metolcarb) là hoạt động thoái biến với Malathion và Malaxon, còn cơ chế kháng
MTMC là do sự giảm mức độ nhạy cảm của enzym Acetycholinesterase với
thuốc (Endo et al., 1988).
Endo et al., (1988) đã nghiên cứu tính mẫn cảm của rầy lưng trắng S.
furcifera, và rầy nâu Nilaparvata lugens Stal thu được năm 1980 và 1987 với 16
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
loại thuốc trừ sâu và cho rằng độ mẫn cảm của rầy lưng trắng với nhóm thuốc
chứa hợp chất lân hữu cơ và cacbamate; p,p’- DDT có xu hướng giảm theo các
năm (năm 1987 so với năm 1980). Nhưng độ mẫn cảm với Lindane thì hầu như
không thay đổi (1967 so với năm 1987).
Endo et al., (1988) đã cho rằng: Độ mẫn cảm của rầy lưng trắng đối với
p,p’ – DDT của năm 1980 giảm nhiều so với năm 1967, nhưng với các thuốc
khác thì độ mẫn cảm không thay đổi nhiều. năm 1987 độ mẫn cảm của rầy lưng
trắng với malathion và fenitrothion chỉ giảm có 1/50 và 1/69 so với năm 1967. Sự
phát triển tính kháng của rầy lưng trắng với các hợp chất lân hữu cơ qua 7 năm
(1980 – 1987) được cho là nhanh hơn so với thời gian trước 13 năm (1980 –
1967). Độ mẫn cảm của rầy lưng trắng với các thuốc thuộc nhóm Carbamate
giảm từ 1/10 đến 1/6 trong năm 1987. Độ mẫn cảm của rầy lưng trắng với p,p’ –
DDT năm 1987 giảm khoảng 1/10 so với năm 1967. Tuy nhiên, độ mẫn cảm với
Lindane hầu như ko thay đổi từ năm 1967-1987. Đồng thời, với hợp chất lân hữu
cơ thì hệ số của giá trị LD50 của rầy nâu so với rầy lưng trắng năm 1967 là 3.5 –
13, còn năm 1980 là 13 - 48 (khoảng cách tương đối lớn) và cuối cùng là năm
1987 với hệ số nhỏ hơn 1. Với Carbamate, hệ số là 2.6 – 4.3 năm 1980, và
tương đối nhỏ vào năm 1987 (0.42 – 1.9). Sự phát triển tính kháng của rầy lưng
trắng chậm hơn rầy nâu.
trên giống kháng vừa mẫn cảm với thuốc hơn là nuôi trên giống nhiễm. Dạng
cánh dài của rầy nâu và rầy lưng trắng có trị số LD50 cao hơn dạng cánh ngắn từ
2 đến 10 lần (Nagata and Masuda, 1980). Theo Nagata and Masuda (1980) thì
tính kháng thuốc của các loài rầy di cư vào Nhật Bản có quan hệ với sức ép chọn
lọc của quần thể rầy ở trong nước có nguần gốc nhập cư; hơn nữa cấu tạo hóa
học của một loại thuốc và mức độ sử dụng thường xuyên cũng là những nhân tố
ảnh hưởng đến tốc độ phát triển tính kháng thuốc của côn trùng. Trong 3 nhóm
thuốc có gốc Clo hữu cơ, Lân hữu cơ, Carbamate được sử dụng trong 10 năm
(1961 – 1971) ở Nhật Bản thì rầy lưng trắng và rầy nâu có tốc độ phát triển tính
kháng thuốc không tăng, còn rầy xám thì tăng khá nhanh.
Theo Suzuki et al., (1995) rầy non tuổi 3 của rầy lưng trắng chết khi lột
xác nếu phun 0,075% Buprofezin hoặc quần thể bị hạn chế số lượng khi sống
trên cây có phun 0,075% Buprofezin. Thuốc hóa học có ảnh hưởng đến quần thể
và số lượng rầy lưng trắng.
Theo Endo and Tsurumachi (2001) đã nghiên cứu và tổng kết từ các
nghiên cứu khác trước đó cho thấy: Giá trị LD50 của quần thể rầy lưng trắng Thái
Lan năm 1977 với p,p’- DDT và Lân hữu cơ nhỏ hơn so với quần thể rầy lưng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
trắng Nhật Bản (1976) (lần lượt là l/24 lần, 1/5 – 1/12 lần). Đối với p,p’ – DDT
thì giá trị LD50 của quần thể rầy lưng trắng Nhật Bản (1988) cao hơn quần thể rầy
lưng trắng ở Indonesia (1988) (1/5 lần). Đối với Malathion, giá trị LD50 của quần
thể rầy lưng trắng Malaysia (năm 1989 và 1990) lớn hơn (4 và 7 lần) so với quần
thể Nhật Bản.
Việc cấm sử dụng BHC ở Trung Quốc dẫn đến việc sử dụng các thuốc
Lân hữu cơ đã làm cho tính kháng thuốc của rầy với nhóm thuốc này tăng lên
giảm đi so với trước đó. Các giá trị LD50 của các quần thể rầy nâu và rầy lưng
trắng thu thập từ năm 2005 - 2007 với 7 loại thuốc trừ rầy được dùng phổ biến
(Malathion, Fenitrothion, MIPC, BPMC, Carbaryl, Etofenprox và Imidacloprid)
được đem so sánh với các kết quả thu được trước năm 2001. Cho thấy, nhìn
chung không có sự thay đổi lớn về tính kháng thuốc của các loại rầy, ngoại trừ có
sự tăng lên giá trị LD50 của rầy nâu với thuốc Imidacloprid diễn ra từ năm 1990
đến năm 2007. Giá trị LD50 của quần thể rầy nâu thu thập năm 2000 cao gấp 10
lần so với quần thể rầy nâu thu thập năm 1999. Xu hướng này tiếp tục diễn ra đến
năm 2005. Từ năm 2006, giá trị LD50 tăng lên rất cao đối với thuốc Imidacloprid.
Ngược lại, giá trị LD50 của rầy lưng trắng vẫn thấp cho đến năm 2007. Mặc dù
không có các thông số trước đây về LD50 đối với thuốc Dinotefuran, Fipronil và
Thiamethoxam nhưng các giá trị này của rầy lưng trắng với thuốc Fipronil và của
rầy nâu với thuốc Thiamethoxam cũng tăng khoảng 10 lần trong thời gian từ
2005- 2007. Giá trị LD50 của rầy nâu với thuốc Dinoterfuran trong năm 20052007 thấp hơn so với thuốc Imidacloprid cho thấy không có tính kháng chéo giữa
Imidacloprid và Dinotefuran (Matsumura et al., 2009)
Bao et al., (2009) đã tiến hành thử nghiệm hiệu lực của các loại thuốc Lân
hữu cơ và thuốc có nguồn gốc thảo mộc ở Pakistan với rầy lưng trắng cho kết
luận: thuốc Lân hữu cơ có hiệu lực cao nhất (93,15%), sau đó là Methidathion
(89,16%), Nicotin (61,63%) và cuối cùng là dầu Neem (33,39%).
Tang et al., (2010) cũng đã tiến hành thử 6 loại thuốc ở Ấn Độ với trứng
rầy lưng trắng thì chỉ có Phosphamidon 0,05% và Fenvalerate 0,005% là có tác
dụng làm giảm khả năng sinh sản của rầy cái và duy nhất có Phosphamidon
0,05% là có khả năng diệt trứng rầy lưng trắng.
Thuốc hóa học có ảnh hưởng đến quần thể và số lượng rầy lưng trắng. Ở
Pakistan (1991), các loại thuốc Chlopyriphos và carbosulphal có hiệu lực cao và
kéo dài trong 5 ngày đối với rầy lưng trắng, ngoài ra dầu xoan, dầu luyn cũng có
tác dụng trừ rầy lưng trắng, chỉ có Phosphamilon 0,05% có khả năng diệt trứng,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
khảo nghiệm ở Miền Đông, Trung Quốc (2013) dao động từ 0.216mg/L (ở
Nanning) đến 1.635 mg/L ( ở Qianshan). Như vậy, độ mẫn cảm giữa các quần
thể rầy lưng trắng dao động không lớn (7.6 lần giữa quần thể đến từ Nanning và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
Qianshan). 2 quần thể đến từ Nanning và Naxi có độ mẫn cảm thấp đối với hoạt
chất Imidacloprid. 7 trong 25 quần thể (28%), đến từ Hejiang, Guilin, Jiangpu,
Yixing, Minqing, Changsha và Qianshan cho thấy tính kháng mạnh đối với hoạt
chất Imidacloprid. 10 quần thể (40%) có tính kháng thấp đối với hoạt chất này.
Còn lại các quần thể khác (32%) thì vẫn mẫn cảm với hoạt chất này (Su et al.,
2013).
Matsumura et al. (2013) đã nghiên cứu 17 quần thể rầy lưng trắng ở Nhật
Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Philipines và cho biết ở hầu hết tất cả
quần thể rầy lưng trắng thu từ Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam và
Philippines có khoảng giá trị LD50 (19.7 – 239 µg.g-1, 24h sau xử lý) cho fipronil
rộng hơn một vài quần thể từ Philippine (0.3 – 5.9 µg.g-1) và Trung Quốc (3.0
µg.g-1). Ở 48 và 72h sau xử lý, giá trị LD50 giảm, nhưng một số vẫn còn lớn ở
48h sau xử lý. Độ dốc của đường quy hồi
thuốc của rầy lưng trắng
Theo tổng kết của Nagata (2002) sự thay đổi tính mẫn cảm của rầy lưng
trắng ở Nhật Bản có liên quan tới sự thay đổi việc sử dụng thuốc trừ rầy ở Nam
Trung Quốc và Bắc Việt Nam là những nơi được xác định là nguồn di cư của rầy
lưng trắng tới Nhật Bản. Tác giả cho rằng sự thay đổi này có liên quan chặt chẽ
với sự thay đổi mạnh mẽ về sử dụng thuốc và các biện pháp canh tác và liên quan
gián tiếp đến việc sử dụng các giống kháng rầy lưng trắng ở các vùng nêu trên.
Ví dụ, sự tăng rõ rệt giá trị LD50 ở Nhật Bản vào các năm cuối của thập kỷ 70
của thế kỷ 20 được cho là sự thay đổi về sự sử dụng thuốc trừ rầy ở Trung Quốc,
nơi xuất phát của nguồn rầy lưng trắng di cư đến Nhật Bản.
Tính kháng chéo luôn là mối nguy hiểm tiềm năng với thời gian sử dụng
có hiệu quả của một số loại thuốc trừ sâu trên đồng ruộng. Hiện tượng kháng
chéo với thuốc thuộc nhóm Neonicotinoid đã được quan sát thấy trên đồng ruộng
và ở các dòng được chọn lọc của loài Leptinotarsa decemlineata (Say) và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
Drosophilia melanogaster (Meigen). Trong các trường hợp này, mức suy giảm
độ mẫn cảm của sâu hại với thuốc Imidacloprid có liên kết với mức suy giảm độ
mẫn cảm của các thuốc khác thuộc nhóm Neonicotinoid như Thiamethoxam,
Acetamiprid và Nitenpyram (Liu et al., 2003).
Theo kết quả nghiên cứu năm 2001 cho thấy: cơ chế kháng thuốc của rầy
lưng trắng với thuốc Malathion và MTMC (Metolcarb) là giảm dần qua các năm,
còn cơ chế kháng MTMC là do sự giảm mức độ nhạy cảm của enzyme
Acetycholinesterase với thuốc (Endo and Tsurumachi, 2001). Sự phát hiện ra các
thuốc Neonicotinoid là mốc mới về nghiên cứu thuốc trừ sâu trong ba thập kỷ
vừa qua. Các thuốc trong nhóm này có đặc điểm giống nicotin là tác động vào hệ