nghiên cứu sử dụng một số loại thuốc bảo vệ thực vật phòng trừ có hiệu quả rầy lưng trắng (sogatella furcifera horvath) hại lúa tại nghệ an - Pdf 24



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
*
NGUYỄN MINH ĐỨC

NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG MỘT SỐ LOẠI THUỐC
BẢO VỆ THỰC VẬT PHÒNG TRỪ CÓ HIỆU
QUẢ RẦY LƯNG TRẮNG (Sogatella furcifera
Horvath) HẠI LÚA TẠI NGHỆ AN LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI – 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
*


LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bản luận văn này bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi
đã nhận được sự hợp tác giúp đỡ quí báu của giáo viên hướng dẫn, cơ sở
đào tạo và các bạn đồng nghiệp.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc trước sự quan tâm, dìu
dắt và sự hướng dẫn nhiệt của Tiến sĩ Nguyễn Trường Thành trong suốt thời
gian thực hiện và hoàn thành đề tài.
Tôi xin trân trọng cám ơn sự quan tâm và tạo điều kiện giúp đỡ của
Tiến sĩ Nguyễn Tất Khang cùng toàn thể giáo viên và các cán bộ Ban đào tạo
Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học tập và hoàn thành luận văn.
Tôi xin cảm ơn các cán bộ Trạm Bảo vệ thực vật Nghi Lộc – Nghệ An
đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất và phối hợp thiết kế các thí nghiệm cũng
như đánh giá kết quả nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp
Việt Nam, Ban lãnh đạo Viện Bảo vệ thực vật cùng toàn thể các cán bộ Bộ
môn Thuốc, Cỏ dại và Môi trường- Viện Bảo vệ Thực vật, đặc biệt là các
đồng nghiệp nhóm Kháng thuốc đã động viên và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi
thực hiện luận văn này.

Tác giả luận văn Nguyễn Minh Đức Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….



v

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn
ii
Lời cam đoan
iii
Mục lục
iv
Danh mục các bảng
viii
Danh mục các hình
ix
Danh mục các chữ viết tắt
x
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ S
Ở KHOA HỌC
CỦA ĐỀ TÀI
4
1.1
Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu
4

CHƯƠNG 2

VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PH
ƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
35
2.1
Vật liệu nghiên cứu
35
2.1.1.
Cây trồng
35
2.1.2.
Đối tượng
35
2.1.3.
Các loại thuốc thử nghiệm
35
2.1.4.
Dụng cụ và thiết bị nghiên cứu
36
2.2.
Nội dung nghiên cứu
37
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

vi

2.2.1. Xác định hiệu lực của các thuốc trừ rầy lưng tr
ắng trong phòng

2.3.6. Phương pháp xử lý số liệu 45
CHƯƠNG 3

KÊT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46
3.1. Xác định hiệu lực của các loại thuốc đối với rầy l
ưng
trắng trong phòng thí nghiệm 46
3.1.1. Thí nghiệm xác định hiệu lực c
ủa một số loại thuốc xử lý
hạt giống trừ rầy lưng trắng trư
ởng thành gây hại trên mạ
5 ngày tuổi 46
3.1.2. Thí nghiệm xác định hiệu lực của một số lo
ại thuốc xử lý
hạt giống trừ rầy lưng trắng trư
ởng thành gây hại trên mạ
10 ngày tuổi 48
3.1.3. Thí nghiệm xác định hiệu lực c
ủa một số loại thuốc xử lý
hạt giống trừ rầy lưng trắng trư
ởng thành gây hại trên mạ
15 ngày tuổi 49
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

vii

3.1.4. Thí nghiệm xác định hi
ệu lực của một số loại thuốc trừ
rầy lưng trắng tuổi 1 -2 50
3.1.5. Thí nghiệm xác đ

ở giai
đoạn lúa làm đòng 66
3.4.3. Thí nghiệm xác định hiệu lực thuốc trừ rầy lưng tr
ắng
trưởng thành ở giai đoạn lúa làm đòng 67
3.4.4. Thí nghiệm xác định hiệu lực các phương pháp phun r
ải
của thuốc tiếp xúc Bassa 50EC trừ rầy lưng tr
ắng ở giai
đoạn lúa làm đòng 69
3.4.5. Thí nghiệm xác định hiệu lực các phương pháp phun r
ải
c
ủa thuốc tiếp xúc Bassa 50EC kết hợp với phụ gia trợ
lực Enomil 30L trừ rầy lưng trắng ở giai đo
ạn lúa làm
đòng 69
3.4.6. Diễn biến các loại rầy vào trong 2 vụ lúa chính ở Nghệ An 71
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

viii

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
73
1. Kểt luận 73
2. Đề nghị 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
Tiếng Anh



Hiệu lực thuốc trừ rầy lưng trắng tuổi 1-2 51
Bảng 3.6.

Hiệu lực thuốc trừ rầy lưng trắng tuổi 3- 4 52
Bảng 3.7. Hiệu lực thuốc trừ rầy lưng trắng trưởng thành 54
Bảng 3.8.

Hiệu lực một số loại thuốc đối với rầy lưng trắng trư
ởng
thành
55
Bảng 3.9. Hiệu lực một số loại thuốc nội hấp trừ rầy lưng trắng 57
Bảng 3.10.

Hiệu lực một số thuốc xử lý hạt giống trừ rầy lưng tr
ắng
di trú vụ đông xuân
60
Bảng 3.11.

Mật dộ rầy lưng trắng qua các kỳ điều tra 62
Bảng 3.12.

Hiệu lực một số thuốc xử lý hạt giống trừ rầy lưng tr
ắng
di trú vụ hè thu
63
Bảng 3.13.


Cháy rầy lưng trắng ở công thức không xử lý hạt giống
49
Hình 3:
Bẫy đèn theo dõi rầy lưng trắng trên đồng ruộng
61
Hình 4:
Xử lý hạt giống Enaldo 40FS
61
Hình 5:
Không xử lý hạt giống
61
Hình 6:
Diễn biến mật độ rầy lưng trắng trên đồng ruộng vụ hè thu
64
Hình 7:
Phun thuốc vào ngọn lúa
71
Hình 8:
Phun thuốc vào gốc lúa
71
Hình 9:
Diễn biến các loại rầy vào đèn vụ đông xuân
72
Hình 10:
Diễn biến các loại rầy vào đèn vụ hè thu
72 Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….



1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lúa là cây lương thực quan trọng bậc nhất của Việt Nam, với lịch sử phát
triển hàng nghìn năm. Trong sản xuất lúa ngày nay, vấn đề phòng chống dịch hại
lúa trong đó có rầy lưng trắng luôn là công việc rất khó khăn của người nông
dân. Rầy lưng trắng có tên khoa học là Sogatella furcifera Horvath (Homoptera:
Delphacidae) là một loài côn trùng hại phổ biến trên cây lúa ở nhiều nước châu
Á cũng như ở Việt Nam. Rầy lưng trắng (cả trưởng thành và rầy non) đều hút
nhựa cây từ phần thân cây lúa. Chúng nhiều khi phát sinh với mật độ cao, gây
hại nặng cho cây lúa, có thể làm giảm tới 30-40% năng suất hoặc hơn. Ngoài tác
động gây hại trực tiếp cho cây lúa, rầy lưng trắng còn được xác định là môi giới
truyền bệnh vi rút lúa lùn sọc đen phương Nam.
Trong các năm gần đây bệnh lùn sọc đen phương Nam do môi giới
truyền bệnh là rầy lưng trắng đang gây hại rất nghiêm trọng cho các vùng
trồng lúa của các tỉnh phía Bắc như Nghệ An, Nam Định, Vĩnh Phúc, Hải
Phòng, Quảng Ninh. Năm 2009 bệnh lùn sọc đen phương Nam đã trở thành
dịch trên lúa hè thu và lúa mùa ở 18 tỉnh với diện tích nhiễm bệnh trên 33,8
ngàn ha (trên 4 ngàn ha lúa Hè Thu), trong đó trên 28 ngàn ha nhiễm nặng và
mất trắng (theo báo cáo của Cục Bảo vệ thực vật, ngày 12 tháng 10 năm
2009). Riêng ở Nghệ An, bệnh đã gây thiệt hại trên 13.500ha, trong đó có
10.500ha bị mất trắng, thiệt hại kinh tế ước tính khoảng 140 tỷ đồng
(Theo báo cáo của Chi cục Nghệ An 2010).
Hiện trạng này đã và đang có nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh lương
thực của Việt Nam nói chung, khu vực phía Bắc nói riêng.
Để phòng trừ rầy lưng trắng, các nhà khoa học đã khuyến cáo sử dụng
các biện pháp phi hoá học trên ruộng lúa như điều tiết nước hợp lý, sử dụng
động vật (vịt) ăn rầy hay lợi dụng nguồn ký sinh thiên địch tự nhiên. Tuy

giúp nông dân có định hướng sử dụng thuốc trừ rầy lưng trắng.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

3

Cung cấp cho nông dân biện pháp phòng chống hiệu quả rầy lưng trắng
hại lúa, bảo vệ cây lúa.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Rầy lưng trắng Sogatella furcifera hại cây lúa ở Nghệ An
- Các hoạt chất có khả năng trừ rầy lưng trắng thuộc nhóm Carbamate
(Fenobucarb), nhóm Neonicotinoid (Thiamethoxam, Imidaclopid,
Dinotefuran, Clothianidin…).
4.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài gồm các vấn đề về tình hình phát sinh
phát triển gây hại của rầy lưng trắng hại cây lúa, đánh giá hiệu lực, chọn lọc
bộ thuốc và biện pháp phòng chống loài sâu hại này bằng biện pháp hoá học.
4.3. Địa điểm nghiên cứu
Xã Nghi Vạn – Nghi Lộc – Nghệ An; Nhà lưới viện Bảo vệ thực vật.
4.4. Thời gian nghiên cứu
Các nội dung nghiên cứu của đề tài được thực hiện từ tháng 11 năm
2010 đến tháng 10 năm 2011.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

4

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu

rầy nâu khi cây lúa còn non và sau đó giảm dần thấp hơn so với rầy nâu. Mùa
vụ càng tập trung càng có nguy cơ bùng phát dịch, đặc biệt nếu có sự hội tụ
với các yếu tố thuận lợi khác như thời tiết, khí hậu, giống lúa,
Trong các yếu tố thời tiết có liên quan đến sự bùng phát dịch, nhiệt độ
cao kết hợp mưa nhẹ và phân bố đều để tạo độ ẩm thích hợp sẽ cho điều kiện
thuận lợi lớn để rầy lưng trắng tăng khả năng sinh sản và hệ số tích luỹ quần thể.
Đây cũng là yếu tố quan trọng làm bùng phát số lượng quần thể rầy lưng trắng.
Ở Việt Nam, rầy lưng trắng không phải là loài sâu hại mới xuất hiện ở
Việt Nam song trước đây thiệt hại do rầy lưng trắng gây ra là nhỏ hơn nhiều
so với rầy nâu, cho nên rầy lưng trắng vẫn được coi là loài sâu hại thứ yếu
trên cây lúa và do đó chưa được nghiên cứu nhiều. Không chỉ gây hại trực
tiếp với cây lúa bằng cách chích hút nhựa cây mà trong vài năm gần đây (đặc
biệt từ năm 2007-2009) rầy lưng trắng còn là Môi giới truyền một loại virut
nguy hiểm cho cây lúa – vivut gây bệnh lùn sọc đen (Rice black-streacked
dwarf virus). Đây là bệnh do virus gây nên và hiện chưa có thuốc hoá học để
phòng trừ có hiệu quả khi cây nhiễm bệnh. Khi đó biện pháp duy nhất là nhổ
bỏ và điều này thường gây thiệt hại lớn cho người nông dân. Để ngăn chặn sự
gây hại (cả trực tiếp và gián tiếp) của rầy lưng trắng, chúng ta cần phải tìm ra
biện pháp hiệu quả để phòng trừ loài sâu hại này ngay từ khi chúng chưa kịp
gây bệnh cho cây. Muốn làm được điều đó chúng ta cần phải tìm hiểu được
quy luật phát sinh, phát triển, đặc điếm sinh vật học, sinh thái học của chúng
như là cơ sở khoa học quan trọng cho việc tiến hành phòng trừ có hiệu quả
với rầy lưng trắng.
Trong hệ thống các biện pháp quản lý nhóm rầy nói chung và rầy lưng
trắng nói riêng, việc dùng thuốc hoá học là biện pháp phổ biến nhất đang được
áp dụng trên thế giới và Việt Nam. Việc xác định được tình hình phát sinh gây
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

6



Trước đây triệu chứng bị rầy lưng trắng gây hại trải đều trên ruộng lúa
không co cụm thành từng đám, từng vạt như rầy nâu. Hiện nay ở vùng phía
bắc Honshu (Nhật Bản) đã ghi nhận hiện tượng lúa bị cháy rầy lưng trắng
giống như cháy rầy nâu (Matsumura, 1996b) [31].
Ngoài tác hại trực tiếp (chích hút dịch cây), rầy lưng trắng còn là môi
giới truyền bệnh virus lúa lùn sọc đen (Zhou et al.,2008) [56].
1.2.2. Đặc điểm sinh học rầy lưng trắng
Do rầy lưng trắng từ sâu hại thứ cấp trở thành sâu hại quan trọng ở
nhiều nước trồng lúa trên thế giới nên các nghiên cứu về đặc điểm sinh học
của loài này đã được nhiều nhà khoa học của các nước quan tâm nghiên cứu.
Pha trứng: Trứng rầy lưng trắng được đẻ trong mô bẹ lá hoặc gân
chính của lá. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì thời gian trứng của
rầy lưng trắng phụ thuộc vào nhiệt và ẩm độ. Tại Ấn Độ, theo Atwal (1967)
thì thời gian trứng của rầy lưng trắng ở Punjab là 3-5 ngày. Theo Misra và
Israel (1968) ở Cuttak thì pha trứng của rầy lưng trắng kéo dài 6 ngày trong
điều kiện nhiệt, ẩm độ tương ứng là 25,3 – 32,7
0
C; 83 – 85%. Theo Catindig
(1993) thì thời gian pha trứng ở Philippines là 8 ngày.
Pha rầy non: Rầy non của rầy lưng trắng trải qua 5 tuổi, ngay sau khi
nở chúng đã có thể chuyển động (chủ yếu là nhảy kể cả khi chỉ bị khua nhẹ)
và gần như ngay sau khi nở chúng đã bắt đầu gây hại cho cây lúa. Theo
Suenaga (1963) thì ở điều kiện nhiệt độ 20
0
C thì thời gian rầy non của rầy
lưng trắng là 17 ngày, ở 25
0
C là 13 ngày và ở 28-30
0

trắng ở vụ mưa cao hơn 6 lần so với vụ khô và nó có nhiều nhất là 3 thế hệ
trong một vụ, còn ở Hirosima (Nhật bản) trong một năm rầy lưng trắng có 2
thế hệ trên lúa và 3 thế hệ trên cỏ hoà thảo (Graminaceous) (Miyake và
Fujiwara, 1962). Thời gian vòng đời trong thời kỳ lạnh hơn (tháng 11 đến
tháng 2 năm sau) của khí hậu cận nhiệt đới có thể kéo dài hơn 2 lần so với
thời gian vòng đời của khí hậu nóng ấm (Ho và Chen, 1968; Ho và Liu,
1969). Ở dưới 8
0
C hoặc trên 35
0
C là ngưỡng nhiệt độ làm ảnh hưởng đến hoạt
động của rầy nâu và rầy lưng trắng (Ho và Liu, 1969).
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

9

Theo Misra (1985) ở Prades (Ấn Độ) quần thể rầy lưng trắng có số
lượng cao nhất vào cuối tháng 10 và chúng có tương quan chặt giữa số lượng
quần thể được xác định bằng bẫy đèn và thời gian chiếu sáng (Mishra, 1991)
[33]. Ở Nhật Bản, quần thể rầy lưng trắng đạt đỉnh cao vào thế hệ thứ nhất sau
khi nhập cư và giảm đi vào thế hệ thứ 2 khi trưởng thành di chuyển khỏi đồng
lúa (Kisimoto, 1976; Noda, 1987)[23]. Kuno (1979); Perfect và cộng sự
(1994) đã kết luận mặc dù mật độ nhập cư ban đầu của rầy lưng trắng là cao
hơn nhiều so với rầy nâu nhưng số lượng quần thể rầy lưng trắng sau 3 thế hệ
chỉ tăng lên được 4 lần trong khi quần thể rầy nâu thì tăng lên 8 lần ở mỗi thế
hệ. Loài này có tốc độ tăng trưởng quần thể thấp hơn và hiếm khi đạt tới đủ số
lượng cao trên đồng ruộng để có thể gây nên thiệt hại kinh tế. Mặt khác việc
dự báo mật độ đỉnh cao quần thể từ mật độ nhập cư ban đầu đối với rầy lưng
trắng là rất khó chính xác vì tốc độ sinh sản thấp hơn và hay thay đổi hơn
(Perfect , 1994)[41].

nữa việc di chuyển hàng loạt có thể phản ánh một thời kỳ sinh sản mà thời kỳ
này có liên quan đến tuần trăng.
Kisimoto (1994) và Noda (1986) đã nhận xét rằng những cá thể rầy
cánh dài bắt được trên biển Đông Trung Quốc di cư vào Nhật Bản là chưa
thuần thục về sinh học. Sự phát triển buồng trứng của con cái cánh dài là
chậm so với cánh ngắn; Con cái cánh ngắn thuần thục sinh dục sớm hơn và
tiến hành giao phối ngay trong ngày hoá trưởng thành (Kisimoto, 1965;
Ohkubo, 1967; Mochida, 1970; Ichikawa, 1979)[23, p304 - 317]. Johnson
(1969) đã miêu tả sự di cư như là một “ hội chứng bay sinh trứng” (oogenesis
fligh syndrom) của quá trình tiền sinh sản của rầy di cư.
Reley và cộng sự (1987) có kết luận rằng mùa khô ở vùng nhiệt đới rầy
nâu và rầy lưng trắng có xảy ra hiện tượng di cư giữa các vụ lúa ở khoảng
cách thay đổi từ 6-30 km vào buổi tối.
Cheng và cộng sự (1979) bằng sử dụng bẫy đèn trên đất liền và trên
biển cùng với thí nghiệm đánh dấu và bắt lại đã kết luận có 5 đợt rầy di cư ở
Trung Quốc từ giữa tháng 4 – đầu tháng 5 với sự lưu hành của gió Nam và
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

11

Tây nam, 3 đợt di cư hướng Nam vào giữa, cuối tháng 8 và cuối tháng 10.
Sogawa (1994) đã xác định việc du nhập qua biển Đông của rầy nâu và rầy
lưng trắng vào bán đảo Triều tiên từ cuối tháng 6 đến đầu tháng 7 ở đảo Jeju,
giữa tháng 7 ở phía Nam và cuối tháng 7 ở các đảo miền Trung (Sontakke,
1994) [50].
Theo các tác giả thì con đường di cư của rầy lưng trắng ở khu vực Châu
Á có điểm khởi đầu thường là ở miền Bắc của Việt Nam (theo như một số tài
liệu khác thì điểm khởi đầu của con đường di cư của rầy lưng trắng ở khu vực
Châu Á còn có thể là ở miền Trung của Việt Nam, cũng có thể ở tỉnh Hải
Nam của Trung Quốc, Luzon của Philippine) (Kisimoto, 1977; Sontakke,

có thể gây cháy rầy làm chết cây.
Kevin và cộng sự (1994); Wilson và Claridge (1991) đã kết luận trong
số 22 loài rầy thuộc họ Delphacidea xuất hiện trên lúa ở Nam và Đông nam Á
thì chỉ có 2 loại gây hại phổ biến và có ý nghĩa là rầy nâu và rầy lưng trắng
bằng cách hút trực tiếp nhựa cây gây ra triệu chứng cháy rầy. Theo Noda
(1986) ở Shimane (Nhật Bản) khi rầy lưng trắng hại hạt lúa nó làm vỏ trấu có
mầu nâu, một số bị lép. Các thí nghiệm trong phòng đã xác định là việc rầy đã
cắm vòi của nó vào trong đã làm biến mầu ở vỏ trấu.
Về ngưỡng thiệt hại và ngưỡng phòng trừ đối với rầy lưng trắng có
nhiều nhận xét và kết luận khác nhau:
Ở Nhật Bản: Iitomi (1985) đã có nhận xét rằng ở Akita cây lúa có thể
không có thiệt hại đáng kể khi có mật độ rầy lưng trắng đến tận 35 con/khóm
trong suốt giai đoạn sinh trưởng từ đẻ nhánh đến chín hoàn toàn, còn Naba lại
đưa ra ngưỡng kinh tế (thiệt hại 5 % năng suất) trong thời kỳ đẻ nhánh ở
Hirosima là 10-20 con/khóm.
Ở Ấn Độ: dựa trên kết quả của thí nghiệm gây hại nhân tạo với mật độ
rầy từ 15 đến 200 con/khóm, Khatri và cộng sự (1983) đã kết luận ngưỡng
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

13

kinh tế là 15 con/khóm và nên trừ ở ngưỡng này ở bất kỳ giai đoạn sinh
trưởng nào của cây lúa.
Ở Trung Quốc: Zhao và cộng sự (1995) đưa ra ngưỡng kinh tế là 7,0-
8,3 con/khóm ở cuối thời kỳ làm đòng và 10,0-12,6 con/khóm ở giai đoạn
ngậm sữa (Sontakke , 1994)[50] còn Ye và cộng sự (1993) lại đưa ra ngưỡng
phòng trừ là 12-16 rầy non/khóm.
Ramaraju và cộng sự(1996) kết luận mật độ quần thể tối thiểu là 25 rầy
trên một cây mới gây giảm đáng kể đến sức khoẻ của cây, chiều cao và trọng
lượng hạt của các giống (Ramaraju,1990)[42]. Như vậy, theo nhiều tác giả,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status