nghiên cứu sử dụng một số loài thực vật thuộc họ cà (solanaceae) trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải đông xuân chính vụ năm 2010 tại đồng hỷ - thái nguyên - Pdf 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ THANH NHÀN NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG MỘT SỐ LOÀI THỰC VẬT
THUỘC HỌ CÀ (SOLANACEAE) TRONG PHÒNG TRỪ SÂU
HẠI RAU BẮP CẢI VỤ ĐÔNG XUÂN CHÍNH VỤ NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG MỘT SỐ LOÀI THỰC VẬT
THUỘC HỌ CÀ (SOLANACEAE) TRONG PHÒNG TRỪ SÂU
HẠI RAU BẮP CẢI VỤ ĐÔNG XUÂN CHÍNH VỤ NĂM 2010

Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số : 60.62.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học : TS. Hoàng Thị Bích Thảo
ThS. Bùi Lan Anh
Thái Nguyên, năm 2011

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1


2
2.4.1. Điều tra đánh giá hiện trạng sản xuất rau tại Thái Nguyên 37
2.4.2. Điều tra thành phần và diễn biến của sâu hại trên rau bắp cải tại Thành
phố Thái Nguyên 37
2.4.3. Nghiên cứu hiệu lực trừ sâu của dung dịch ngâm qủa ớt và dung dịch
ngâm thân lá cà chua 38
2.4.4. Nghiên cứu ảnh hƣởng của dịch ngâm quả ớt và thân lá cây cà chua đến
năng suất rau bắp cải tại Thái Nguyên 42
3.4.5. Phƣơng pháp xử lý số liệu 42
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 43
3.1. Tình hình thời tiết, khí hậu tỉnh Thái Nguyên tháng 10/2010 đến tháng
02/2011 43
3.2. Thành phần sâu hại rau bắp cải vụ Đông Xuân chính vụ năm 2010 tại
Đồng Hỷ - Thái Nguyên 44
3.3. Kết quả nghiên cứu diễn biến các loài sâu hại rau bắp cải qua các kỳ điều tra 44
3.4. Kết quả nghiên cứu hiệu lực xua đuổi sâu hại của dung dịch ngâm thân lá
cà chua, quả ớt 48
3.5. Kết quả nghiên cứu hiệu lực gây ngán sâu hại của dung dịch ngâm thân lá
cà chua, quả ớt 51
3.6. Kết quả nghiên cứu Hiệu lực tiêu diệt sâu hại của dung dịch ngâm thân lá
cà chua và quả ớt 53
3.7. Kết quả nghiên cứu Hiệu lực tiêu diệt sâu hại của dung dịch ngâm thân lá
cà chua và quả ớt 56
3.8. Kết quả nghiên cứu năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 61
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
1. Kết luận 63
2. Đề nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4
DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1. Biểu đồ diễn biến sâu hại qua các thời kỳ điều tra 47
Hình 3.2. Hiệu lực xua đuổi sâu hại rau bắp cải của dung dịch ngâm thân lá cà
chua, quả ớt 48
Hình 3.3. Hiệu lực gây ngán sâu hại của dung dịch ngâm thân lá cà chua, quả ớt 51
Hình 3.4. Hiệu lực tiêu diệt sâu hại của dung dịch ngâm thân lá cà chua và
dung dịch ngâm quả ớt 53
Hình 3.5. Hiệu lực tiêu diệt sâu hại rau bắp cải của dung dịch ngâm thân lá cà
chua và dung dịch ngâm quả ớt 56
Hình 3.6. Khối lƣợng trung bình bắp 62
Hình 3.7. Năng suất lý thuyết 62
Hình 3.8. Năng suất thực thu 62
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
PHẦN
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu đƣợc trong mỗi bữa ăn hàng
ngày của con ngƣời, đặc biệt khi lƣơng thực và các thức ăn giầu đạm đã đƣợc
đảm bảo thì yêu cầu về chất lƣợng và số lƣợng rau lại càng gia tăng nhƣ một
nhân tố tích cực trong việc cân bằng dinh dƣỡng và tăng sức đề kháng cho cơ

quả là tác nhân thƣờng gặp ở một số vụ ngộ độc gây rối loạn thần kinh trung
ƣơng, nhức đầu, nôn mửa, mất ngủ, giảm trí nhớ, với mức độ nặng hơn
có thể tổn thƣơng thần kinh ngoại biên dẫn đến liệt. Hội chứng nhiễm độc
não thƣờng gặp đối với thuốc bảo vệ thực vật nhóm thủy ngân hữu cơ và lân
hữa cơ. Các hội chứng về tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, gan, mật và hội chứng
về máu cũng có thể xảy ra ở những trƣờng hợp nặng, tỷ lệ tử vong cao.
Ở Việt Nam, vấn đề ngộ độc rau quả trên diện rộng đã ngày càng khiến
ngƣời tiêu dùng phải băn khoăn, cảnh giác. Trong khi vụ ngộ độc do ăn rau
muống đƣợc mua tại chợ Hôm (Hà Nội) khiến 18 ngƣời phải đi cấp cứu đang
còn là vấn đề thời sự, thì ngày 17 và 18/4/2002 đã xảy ra vụ ngộ độc do ăn cà
muối tại xã Tam Cƣờng (Vĩnh Bảo, Hải Phòng) khiến 45 ngƣời phải đi bệnh
viện. Nguyên nhân của cả 2 vụ ngộ độc trên đều là do dƣ lƣợng thuốc trừ sâu
tồn đọng trong rau quả. Một số vụ ngộ độc khác lại do rau bị nhiễm thuốc
chuột Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm Việt nam có khoảng 8
triệu ngƣời ngộ độc thực phẩm. Tuy nhiên chỉ có 8.000 ngƣời đƣợc thống kê,
phát hiện, bằng 1% số ngƣời ngộ độc thực phẩm trên thực tế.
Trƣớc thực tế đó, nền sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam đòi hỏi công
tác BVTV phải đảm bảo và ổn định lâu dài về hiệu quả phòng trừ dịch hại
cũng nhƣ ngăn ngừa đƣợc dƣ lƣợng thuốc BVTV trong nông sản phẩm, đồng
thời bảo vệ đƣợc môi trƣờng sống thì công tác BVTV phải nhanh chóng từng
bƣớc chuyển dần sang một chiến lƣợc mới, đó là hệ thống chiến lƣợc bao
gồm nhiều biện pháp phòng trừ tổng hợp, trong đó lấy biện pháp sinh học và
sinh thái học làm trọng tâm, kết hợp hài hoà sử dụng thuốc hoá học với liều
lƣợng thấp một cách hợp lý mà vẫn đạt hiệu quả phòng trừ cao, nhằm khắc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
phục dần những hiện tƣợng tiêu cực do thuốc hoá học gây ra. Để góp phần tạo
dựng và thiết lập nên một nền nông nghiệp sạch, an toàn, ổn định và bền

- Góp phần nâng cao ý thức mọi ngƣời về nền nông nghiệp sinh thái, hạn
chế sử dụng các loại thuốc hoá học BVTV, cải tạo sinh cảnh và môi trƣờng sống.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Nghiên cứu cây ớt, cà chua có khả năng trừ sâu hại rau bắp cải là cơ sở
cho nghiên cứu tìm hiểu hoạt chất và cơ chế tác động của hoạt chất đó lên sâu
hại, góp phần nghiên cứu sản xuất ra các chế phẩm trừ sâu thảo mộc.
- Góp phần khai thác tiềm năng sử dụng nguồn tài nguyên thực vật bản
địa trong việc dập tắt các nạn dịch gây ra trong sản xuất nông, lâm nghiệp để
nâng cao năng suất, chất lƣợng nông sản phẩm, đồng thời bảo vệ đƣợc môi
trƣờng, giữ cân bằng sinh học và bảo vệ những loài thiên địch.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Thâm canh cây trồng ngày càng phát triển đã và đang làm thay đổi rất
nhiều điều kiện sinh thái, môi trƣờng sống và nguy hiểm hơn vì những
chuyển dịch này lại đang nghiêng về phía tiêu cực, tạo ra một thế cân bằng
mới bất lợi cho con ngƣời. Tuy nhiên, vì lợi nhuận nhất thời muốn làm tăng
năng suất cây trồng và do nhu cầu lƣơng thực, thực phẩm nuôi sống con
ngƣời nên con ngƣời vẫn phải đầu tƣ thâm canh ngày càng cao, làm phá vỡ hệ
sinh thái đồng ruộng.
Các quần thể ký sinh, bắt mồi ăn thịt đã bị giảm về số lƣợng. Ong bƣớm
thụ phấn cho hoa cũng bị tiêu diệt, đặc biệt đối với các cây trồng thụ phấn
chéo. Môi trƣờng sống bị nhiễm các chất độc sau nhiều lần phun thuốc. Số
lƣợng thuốc hoá học có độ độc cao ngày càng lớn nhƣng hiệu quả trong nhiều
lần phun lại rất thấp, do sâu bệnh kháng và chống thuốc. Ngƣời ta đã xác định

các nƣớc phát triển thƣờng có mức tiêu thụ rau trên đầu ngƣời cao hơn các
nƣớc đang phát triển. So sánh trên cùng một đơn vị diện tích trồng trọt, về
hàm lƣợng các chất dinh dƣỡng thì rau xanh có nhiều hơn so với cây lƣơng
thực khác, số liệu của Trung tâm phát triển châu Á (2008).
Bảng 1.1: Hàm lượng dinh dưỡng thu được từ một số loại cây trồng
Cây trồng
Năng suất tiêu thụ
(tấn/ha)
Protein
(kg/ha)
ß-carotene
(g/ha)
Vitamin C
(kg/ha)
Cải
39,7
707
537
20,6
Súp lơ
23,9
229
6,9
8,0
Hành
59,5
941
-
2,8
Tỏi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7
Qua bảng 1.1 ta thấy: Nguồn dinh dƣỡng từ rau xanh rất phong phú,
chúng bao gồm: vitamin, protein, lipit, gluxit, các chất khoáng
và xơ,… Trong đó, chất khoáng và vitamin trong rau xanh nhiều hơn hẳn so
với các cây trồng khác. Hiện nay, trong khẩu phần ăn của con ngƣời, rau xanh
cung cấp khoảng 90-99% nguồn vitamin A, 60-70% vitamin B
2
và gần 100%
vitamin C. Vitamin đã giúp cho các hoạt động sinh lý trong cơ thể diễn ra một
cách bình thƣờng, mỗi loại vitamin có một chức năng khác nhau, nếu thiếu
bất kỳ một loại vitamin nào sẽ gây rối loạn chức năng hoạt động sống của con
ngƣời, ví dụ: nếu thiếu vitamin A sẽ bị bệnh quáng gà, hoặc mắt không có khả
năng thích nghi với ánh sáng mờ, nếu bị nặng sẽ phát triển thành bệnh
Xeropthlmia làm hỏng thị lực. Thiếu vitamin B sẽ gây mệt mỏi, kém ăn, cơ
thể tê phù. … Nhƣ vậy, nếu thiếu các loại vitamin sẽ làm giảm sức dẻo dai,
giảm hiệu suất làm việc, dễ phát sinh bệnh tật. (Bùi Bảo Hoàn & Đào Thanh
Vân, 2000; Sở Nông nghiệp & phát triển nông thôn Hà Nội, 2000) [7].
Qua bảng 1.1 ta cũng thấy rằng: Các cây trồng thuộc họ cải cho hàm
lƣợng vitamin và protein là rất lớn .Trong đó thì bắp cải là một loài thuộc chi
cải( Brassica), có nguồn gốc ở vùng biển phía Đông và Tây Châu Âu. Bắp cải
là loại rau chủ lực trong họ nhà cải còn gọi là họ hoa thập tự ( Brassicacêal
Cruciferae).
Về mặt dinh dƣỡng có trong 100g bắp cải, cung cấp cho cơ thể 25 calo,
natri là 18mg; tinh bột là 5g; chất xơ là 2g; protein là 1g; vitamin A là 133IU;
vitamin C là 32g; canxi là 47mg và sắt là 1mg. Lƣợng vitamin C có trong bắp
cải chỉ thua cà chua, lƣợng vitamin C có trong bắp cải nhiều hơn 4,5 lần so
với cà rốt và 3,6 lần so với khoai tây và hành tây (Những cây thuốc và vị
thuốc Việt Nam)

14 lần so với cây lƣơng thực.
Cây rau đã góp phần cải thiện đƣợc đời sồng của ngƣời nông dân trong
những năm gần đây, góp phần xoá đói giảm nghèo, điển hình: Ở Hƣng Yên
diện tích rau màu của huyện Yên Mỹ chỉ đƣợc trồng với diện tích nhỏ nhƣng
hiện nay cây rau đã trở thành cây trồng có giá trị kinh tế cao cho thu nhập 5 -
7 triệu đồng/sào. (website Hội nông dân Việt Nam). Xã Xuân Bắc (huyện
Xuân Lộc) tỉnh Đồng Nai là một vùng thuần nông trƣớc đây ngƣời dân sống

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
chủ yếu bằng nghề trồng lúa nên đời sống hết sức khó khăn. Vài năm gần đây
nhiều nông dân đã chuyển diện tích trồng lúa sang trồng rau, đậu các loại
năng suất 3,5 tấn/sào mang lai thu nhập cao hơn trồng lúa 6 - 7 lần. (Theo báo
Đồng Nai, 14/2/2008). Ngƣời dân xóm 7 xã Yên Khánh (Ninh Bình) đã thành
công trong phát triển rau trái vụ với gần 100 hộ tham gia, bình quân các hộ
trong xã đều đạt thu nhập từ 20 - 30 triệu đồng nhờ trồng rau trái vụ.(Báo
Ninh Bình điện tử năm 2009).
Bắp cải thích hợp với đất thịt nhẹ, cao ráo, dễ thoát nƣớc. Sau 3 tháng, thu
hoạch có năng suất đạt 2 tấn/sào, với giá bán cho thƣơng lái 3,5 - 4 ngàn
đồng/kg sau khi trừ chi phí còn cho lãi trên 110 triệu đồng. NASATI (Theo
Trung tâm Khuyến nông Hà Tĩnh, ngày 21/04/2011).
Nhƣ vậy so với các cây trồng khác cây rau là cây có giá tri kinh tế cao,
cho thu nhập vƣợt trội hơn so với lúa và một số loại cây trồng khác, điều này
đã đƣợc thực tiễn chứng minh và công nhận.
1.2.2. Sơ lược tình hình phát triển rau trên thế giới và Việt nam
1.2.2.1. Sơ lược tình hình phát triển rau trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều chủng loại rau đƣợc gieo trồng, diện tích
rau ngày càng gia tăng để đáp ứng nhu cầu về rau của ngƣời dân (Mai
Phƣơng Anh, Trần Văn Lài, Trần Khắc Thi, 1996) [11] Năm 1961 – 1965,

17.022.433,00
14,43
245.079.950,00
2008
17.625.143,00
14,16
249.659.862,00
2009
17.873.286,00
13,91
248.591.881,00
(Nguồn: FAO, 2011)
Qua bảng 1.2 ta thấy: Tình hình sản xuất rau trên thế giới từ năm
2005 trở lại đây có nhiều biến động cả về diện tích, năng suất và sản lƣợng .
- Về diện tích: Từ năm 2005- 2009 diện tích trồng rau trên thế giới đã
tăng lên nhanh chóng. Năm 2005 diện tích trồng rau trên thế giới chỉ có
16.478.642,00 ha, nhƣng đến năm 2009 đã lên tới 17.873.286,00 ha. Nhƣ vậy
chỉ sau 4 năm diện tích trồng rau của thế giới đã tăng 139.464,00 ha (trung
bình tăng 348.661,00 ha). Qua đó cho thấy, cây rau chiếm vị trí ngày càng
quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp thế giới.
- Về năng suất: Nhìn chung trong những năn gần đây năng suất giảm
dần nhƣng không đáng kể từ 14,30 tấn/ha năm 2005, đến 2009 năng suất chỉ
còn là 13,91 tấn/ha.
- Về sản lƣợng: Từ năm 2005 trở lại đây tuy năng suất rau không tăng
nhƣng do diện tích qua các năm tăng nên sản lƣợng rau trên thế giới đã tăng
rõ rệt, bình quân hàng năm tăng 34.276.844,00 tấn/năm. Nhìn vào bảng trên
chúng ta thấy sản lƣợng rau tăng mạnh vào năm 2008 nhƣng lại có xu hƣớng
giảm xuống vào năm 2009. Tuy nhiên điều đó chứng tỏ nghề trồng rau trên
thế giới đang có xu hƣớng phát triển nhanh chóng, rau xanh đã trở thành nhu
cầu thiết yếu và ngày càng tăng lên với đời sống của con ngƣời.

2009
2.123.563
28,7015
63.597.459
2010
2.256.717
28,3306
64.326.757
( Nguồn: FAO, 2011)
Qua bảng 1.3 ta thấy: Tình hình sản xuất rau bắp cải trên thế giới từ năm
2006 trở lại đây có nhiều biến động về cả diện tích, năng suất và sản lƣợng.
- Về diện tích: Từ năm 2006 đến năm 2010, diện tích trồng rau bắp cải
của thế giới có sự suy giảm về diện tích. Năm 2009, diện tích giảm mạnh
nhất, giảm 161.328 ha so với năm 2006. Năm 2010 diện tích có giảm nhƣng
giảm ít hơn so với các năm khác và chỉ giảm 28.174 ha so với năm 2006.
Điều đó chứng tỏ, cây rau bắp cải vẫn giữ một vai trò quan trọng trong đời
sống của con ngƣời, vẫn là nguồn cung cấp rau xanh chủ yếu cho con ngƣời.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

12
- Về năng suất: Năng suất trung bình của rau bắp cải trên thế giới giai
đoạn 2006-2010 đạt 28,4129 tấn/ha. Năng suất bắp cải cũng có sự biến động .
Năm 2007, năng suất rau bắp cải đạt cao nhất là 29,6305 tấn/ha, cao hơn năm
2006 là 17.726 tấn/ha. Đến năm 2010, năng suất rau bắp cải có giảm so với
năm 2007 nhƣng giảm nhẹ so với năng suất trung bình, đạt 28,3306 tấn/ha.
Năng suất giảm ngoài yếu tố sâu bệnh thì còn phải kể đến ảnh hƣởng của biến
đổi khí hậu, dẫn đến không kiểm soát đƣợc các yếu tố tự nhiên nhƣ: Nhiệt độ,
độ ẩm, ánh sáng… Do đó, phẩn nào làm suy giảm năng suất rau bắp cải trên
thế giới.

sớm, trƣớc cả nghề trồng lúa nƣớc nhƣng sản xuất rau còn manh mún, các
chủng loại rau còn nghèo nàn, diện tích và sản lƣợng thấp so với tiềm năng
đất đai, khí hậu Việt Nam. (Tạ T. Thu Cúc, 2000) [3].
Theo Trần Khắc Thi (2003) [11], năm 1995 cả nƣớc có diện tích trồng rau là
368,5 ha; sản lƣợng là 4.145,56 triệu tấn. Nếu so với năm 1985 thì diện tích
rau tăng 46,4%, bình quân mỗi năm tăng 10.000 ha. Diện tích trồng rau trong
cả nƣớc tính đến năm 2000 là 445.000 ha, tăng 261.090 ha, tăng khoảng 70%
so với năm 1990. Bình quân hàng năm tăng 18,4% nghìn ha (mức trung bình
7%/năm). Trong đó, các tỉnh phía Bắc là 249.200 ha, chiếm 56%, còn các tỉnh
phía Nam là 196.000 ha, chiếm 44% diện tích canh tác.
Theo số liệu thống kê của FAO (2006), những năm gần đây, diện tích rau
của ta ngày càng đƣợc mở rộng từ 494.500 ha năm 2001 lên 525.000 ha năm
2005, bình quân mỗi năm tăng 7.625 ha (mức tăng 1,5%/năm).
Theo Phạm Thị Thùy (2005) [10], năng suất rau xanh ở nƣớc ta còn thấp
và bấp bênh. Năm 1998, năng suất cao nhất cũng chỉ đạt 144,8 tạ/ha bằng
80% so với mức trung bình của toàn thế giới (xấp xỉ 80 tạ/ha). Nếu so với
năm 1990 là 123,5 tạ thì năng suất bình quân trong cả nƣớc trong 10 năm
cũng chỉ tăng 11,5 tạ/ha. Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh,
Đà Lạt là các tỉnh có năng suất rau cao hơn cả nhƣng cũng chỉ đạt năng suất
bình quân ở mức 160 tạ/ha. Năng suất trung bình thấp nhất là ở các tỉnh miền
trung, chỉ bằng một nửa so với năng suất trung bình cả nƣớc. Theo số liệu
thống kê, những năm gần đây năng suất tƣơng đối ổn định, năm 2005 đạt
125,714 tạ/ha (Faostat, 2006).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

14
Sản lƣợng rau có chiều hƣớng gia tăng, năm 2000 đạt hơn 6 triệu tấn,
tăng 81% so với năm 1990, mức tăng sản lƣợng trung bình hàng năm từ 1990
– 2000 là xấp xỉ 260 ngàn tấn (Trần Khắc Thi, 2003) [12]. Do diện tích tăng

2006
536.914,00
11,88
6.380.340,00
2007
531.257,00
12,34
6.559.530,00
2008
529.851,00
11,70
6.202.390,00
2009
524.973,00
12,02
6.313.390,00
(Nguồn: FAO, 2011)
Cho đền nay, diện tích, năng suất và sản lƣợng rau nói chung và rau
bắp cải nói riêng có xu hƣớng ngày càng tăng thể hiện qua bảng sau:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

15
Bảng 1.5: Diện tích, năng suất và sản lượng rau bắp cải của Việt Nam giai
đoạn 2006– 2010
Năm
Diện tích (ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lƣợng (tấn)
2006

nƣớc và xuất khẩu.
- Về sản lƣợng: Sản lƣợng rau bắp cải tăng nhanh trong những năm gần
đây. Trong đó, tăng mạnh nhất trong hai năm 2008 - 2009( tăng 32,286 tấn).
Nhƣ vậy, trong giai đoạn trên, năng suất rau bắp cải của Việt Nam đạt sản
lƣợng trung bình là 715.836 tấn.
Năm 2006, cả diện tích và sản lƣợng rau bắp cải của Việt Nam đều thấp
hơn so với các năm khác. Nguyên nhân là do trong năm 2006, thiên tai hạn
hán, bão, lụt, lũ quét, lốc và mƣa đá đã xảy ra nhiều ở nƣớc ta, đặc biệt là bão

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

16
xảy ra liên tiếp và phức tạp, gây thiệt hại nghiêm trọng về ngƣời, tài sản, công
trình hạ tầng, gây nhiều khó khăn cho sản xuất, đời sống của nhân dân (
Trung tâm khí tƣợng thuỷ văn Quốc gia).
Đánh giá về thực trạng sản xuất rau ở nƣớc ta trong thời gian qua, nhiều
tác giả cho rằng: hiện nay sản lƣợng và năng suất rau ở nƣớc ta còn thấp, quy
mô còn phân tán, chất lƣợng không ổn định, phần lớn rau không đủ tiêu chuẩn
xuất khẩu tƣơi và chế biến công nghiệp. Mức tiêu thụ nội địa còn thấp, chỉ số
bình quân đầu ngƣời đạt 60 – 65 kg/năm. Sở dĩ có những hạn chế đó là do,
việc quản lý, thiếu cải tiến kỹ thuật, canh tác chủ yếu thiên về năng suất, chƣa
chú trọng đến chất lƣợng sản phẩm cho nên rau tƣơi Việt nam chƣa đảm bảo
an toàn cho ngƣời sử dụng. Mặt khác, xuất khẩu rau còn quá ít, khả năng cạnh
tranh trên thị trƣờng Quốc Tế kém. Hiện nay Việt nam có 40 nƣớc là thị
trƣờng xuất khẩu rau nhƣng chúng ta lại không đủ điều kiện, mới chỉ xuất
khẩu đƣợc khoảng 1 – 2% sản lƣợng.Rau nƣớc ta không thể cạnh tranh đƣợc
với thị trƣờng Quốc tế mà ngay cả trong nƣớc vì rau tƣơi của chúng ta đang bị
các sản phẩm nhập khẩu lấn át (Cục chế biến Nông lâm sản và ngành nghề
nông thôn, 200; Đƣờng Hồng Dật, 1971; Đƣờng Hồng Dật, 2002; Nguyễn
Văn Miện, Nguyễn Trọng Hùng, Ngô Văn Công, 2001) [5].

nhiều rủi ro cho ngƣời sản xuất. Môi trƣờng sống bị ô nhiễm, hệ sinh thái mất
cân bằng đặc biệt là nguồn nƣớc sinh hoạt của con ngƣời bị nhiễm độc sẽ ảnh
hƣởng trực tiếp đến sức khỏe của con ngƣời và các thế hệ trong tƣơng lai.
Mặc dù nghề trồng rau trong những năm vừa qua có những bƣớc tiến
đáng kể, nhƣng mới tập trung ở khu vực chuyên canh ven thành phố, lƣợng
hạt giống mới nhập về còn hạn chế chƣa có một nền sản xuất lớn tập trung
chƣa đáp ứng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất. Do đó
năng suất rau còn thấp, giá thành lại cao, chƣa coi trọng quản lý kỹ thuật canh
tác chủ yếu tập trung vào năng suất chƣa chú trọng đến chất lƣợng sản phẩm
do đó rau tƣơi ở Việt Nam chƣa đảm bảo an toàn cho ngƣời sử dụng dẫn đến
hạn chế rất nhiều cho xuất khẩu.
1.2.3.2 Tình hình sản xuất rau ở Thái Nguyên giai đoạn 2006- 2010.
Theo thống kê của cục thống kê Thái Nguyên từ năm 2006- 2010,diện
tích gieo trồng và sản lƣợng rau đƣợc thể hiện qua bảng sau.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

18
Bảng 1.6: Diện tích sản lượng rau của một số địa phương trong tỉnh
Địa điểm
Diện tích(ha)
Sản lƣợng(tấn)
2006
2007
2008
2009
2010
2006
2007
2008

2779
3147
4603
5455
6133
Định Hóa
664
684
725
651
778
5913
6059
8140
8983
10497
Võ Nhai
324
348
333
426
324
2667
3145
4175
5436
4448
Phú Lƣơng
536
529

Phú Bình
1185
1220
1231
1178
1381
10931
13585
17010
17477
21326
Phổ Yên
1375
1448
1337
1166
1423
17140
18286
19349
18460
22480
( Nguồn : Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên tháng 3-2010)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

19
Qua bảng 1.6 cho thấy từ năm 2006 đến nay (2010) sản xuất rau ở Thái
Nguyên đã tăng theo hƣớng sản xuất hàng hóa. Nhìn chung toàn tỉnh về cả
diện tích và sản lƣợng rau đều tăng lên, cụ thể vào năm 2006 diện tích rau


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status