Nguyen Thi Lan Hương - Nghiên cứu và sử dụng một số loài thực vật thuộc
họ xoan (Meliaece) trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải vụ đông xuân
chính vụ năm 2010 tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
LỜI CAM
ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn chỉnh luận văn này đều đã được tác giả cảm ơn.
Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đều đã được ghi rõ nguồn gốc./.
Tác giả Nguyễn Thị Lan Hƣơng
Nguyen Thi Lan Hương - Nghiên cứu và sử dụng một số loài thực vật thuộc
họ xoan (Meliaece) trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải vụ đông xuân
chính vụ năm 2010 tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
LỜI CẢM ƠN
Hiện nay ,việc sử dụng các hóa chất bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa
học đã làm ô nhiễm môi trường, làm mất cân bằng sinh học và chứa đựng
nguy cơ bùng phát dịch hại cây trồng Vì vậy việc dùng các loại cây cỏ có
chứa chất độc dùng làm thuốc trừ sâu vừa có tác dụng tiêu diệt sâu hại cây
huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên 38
Bảng 3.3: Diễn biến của sâu hại bắp cải vụ Đông Xuân chính vụ năm 2010 39
Bảng 3.4. Hiệu lực xua đuổi sâu hại của dung dịch ngâm quả xoan và dung
dịch ngâm lá xà cừ 43
Bảng 3.5. Hiệu lực gây ngán sâu hại của dung dịch ngâm quả xoan Neem và
dung dịch ngâm lá xà cừ 46
Bảng 3.6. Hiệu lực tiêu diệt sâu hại của dung dịch ngâm quả xoan Neem và
dung dịch ngâm lá xà cừ 50
Bảng 3.7. Hiệu lực tiêu diệt sâu hại rau bắp cải của dung dịch ngâm quả xoan
Neem và dung dịch ngâm lá xà cừ (Thí nghiệm ngoài ruộng) 53
Bảng 3.8: Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 58
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Biểu đồ diễn biến sâu hại qua các thời kỳ điều tra 41
Hình 3.2. Hiệu lực xua đuổi sâu hại rau bắp cải của dung dịch ngâm quả
xoan Neem và dung dịch ngâm lá xà cừ 42
Hình 3.3. Hiệu lực gây ngán sâu hại của dung dịch ngâm quả xoan Neem &
dung dịch ngâm lá xà cừ 45
Hình 3.4. Hiệu lực tiêu diệt sâu hại của dung dịch ngâm quả xoan Neem
và dung dịch ngâm lá xà cừ 49
Hình 3.5. Hiệu lực tiêu diệt sâu hại rau bắp cải của dung dịch ngâm quả
xoan Neem và dung dịch ngâm lá xà cừ (Thí nghiệm ngoài
ruộng) 52
Hình 4.6. Khối lượng trung bình bắp 57
Hình 4.7. Năng suất lý thuyết 57
Hình 4.8. Năng suất thực thu 58
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài 2
điểm thực tập. 31
2.3.2. Nghiên cứu hiệu lực trừ sâu của dung dị ch ngâm quả cây cây xoan
Neem và dung dị ch ngâm lá cây xà cừ trong phòng trừ sâu hại bắp cải tại
Thái Nguyên trong năm 2010. 31
2.4. Phương pháp nghiên cứu 31
2.4.1. Điều tra thành phần và diễn biến của sâu hại trên rau bắp cải tại
Thành phố Thái Nguyên 31
2.4.2. Nghiên cứu hiệu lực trừ sâu của dung dị ch ngâm quả cây xoan
Neem và dung dị ch ngâm lá cây xà cừ 31
2.4.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của dung dị ch ngâm quả cây xoan Neem và
dung dị ch ngâm lá xà cừ đến năng suất rau bắp cải tại Thái Nguyên 36
2.4.5. Phương pháp xử lý số liệu 36
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
3.1. Tình hình thời tiết, khí hậu tỉnh Thái Nguyên tháng 10/2010 đến tháng
02/2011 37
3.2. Thành phần sâu hại rau bắp cải vụ Đông Xuân chính vụ năm 2010 tại
Đồng Hỷ - Thái Nguyên 38
3.3. Kết quả nghiên cứu diễn biến các loài sâu hại rau bắp cải qua các kỳ điều tra 38
3.4. Kết quả nghiên cứu hiệu lực xua đuổi sâu hại của dung dịch ngâm quả
xoan, lá xà cừ 42
3.6. Kết quả nghiên cứu hiệu lực tiêu diệt sâu hại của dung dịch ngâm quả
xoan, lá xà cừ (Thí nghiệm trong phòng) 48
3.7. Kết quả nghiên cứu hiệu lực tiêu diệt sâu hại của dung dịch ngâm quả
xoan, lá xà cừ (Thí nghiệm ngoài ruộng) 52
3.8. Kết quả nghiên cứu năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 57
KẾ T LUẬ N VÀ KIẾ N NGHỊ 60
1. Kế t luậ n 60
2. Đề nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
tập trung (khoảng 200 – 600 m
2
/nông hộ). Bên cạnh đó, trình độ học vấn của
nông dân trồng rau ở Thái Nguyên còn thấp (chủ yếu có trình độ cấp 1, 2 và
chỉ có khoảng 5 – 6% số người có trình độ cấp 3), cho nên họ canh tác chủ
yếu theo kinh nghiệm, sử dụng thuốc hóa học bảo vệ thực vật một cách bừa
bãi, chỉ vì mục đích kinh tế mà họ sẵn sàng phun bất cứ một loại thuốc BVTV
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
nào để diệt trừ sâu bệnh hại. Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay đa số nông
dân vùng sản xuất rau chuyên canh một số vùng chuyên canh rau thuộc tỉnh
Thái Nguyên đã và đang sử dụng hơn 37 loại thuốc trừ sâu và 29 loại thuốc
trừ bệnh hại cho trên 32 loại rau cải với số lần phun dao động từ 6 – 9 lần/vụ.
Ngoài ra, họ còn sử dụng một số loại thuốc trừ sâu có độ độc cao nhóm I,
hoặc một vài loại thuốc nằm trong danh mục cấm sử dụng trên rau. Với
phương thức canh tác như trên là nguyên nhân gây nên những hậu quả
nghiêm trọng ngoài khả năng kiểm soát của con.
Trước thực tế đó, để góp phần tạo dựng và thiết lập nên một nền nông
nghiệp sạch, an toàn, ổn định và bền vững; đồng thời góp phần nâng cao ý
thức mọi người về vệ sinh an toàn thực phẩm, hạn chế sử dụng thuốc hóa học
BVTV, bảo vệ sức khỏe con người và môi trường sống, và đáp ứng nhu cầu
rau sạch phục vụ nhu cầu cuộc sống người dân Thái Nguyên, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu và sử dụng một số loài thực vật thuộc
họ xoan (Meliaceae) trong phòng trừ sâu hại rau bắp cải vụ Đông Xuân
chính vụ năm 2010 tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên ”.
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích của đề tài
- Xác định hiệu lực trừ sâu hại rau bắp cải của dung dịch ngâm quả cây xoan
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình sản xuất rau trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1. Tình hình sản xuất rau trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều chủng loại rau được gieo trồng, diện
tích rau ngày càng gia tăng để đáp ứng nhu cầu về rau của người dân (Mai
Phương Anh, Trần Văn Lài, Trần Khắc Thi, 1996) [1]. Năm 1961 - 1965, tổng
lượng rau của thế giới là 200.234 tấn; từ năm 1971 - 1975 tổng lượng rau đạt
293.657 tấn và từ năm 1981 - 1985 là 392.060 tấn; đến năm 1996 tổng lượng rau
đã lên đến 565.523 tấn. Sản lượng rau trên thế giới tăng lên rất nhanh, điều đó
chứng tỏ nhu cầu rau của con người ngày càng tăng. Trên thế giới, những nước
có sản lượng rau tăng nhanh nhất là Ý, năm 1961 đạt 9.859 nghìn tấn; đến năm
1996 sản lượng tăng đạt 13.555 nghìn tấn. Ở Hà Lan, năm 1985 bình quân 84
kg/người/năm; đến năm 1990 đạt 202 kg/người/năm. Ở Canada, mức tiêu thu
rau bình quân là 70 kg/người/năm (Tạ T. Thu Cúc và CS, 2000) [5].
Cho đến nay, tình hình sản xuất rau trên thế giới không ngừng phát
triển cả về diện tích và sản lượng thể hiện qua bảng sau.
Bảng 1.1: Tình hình sản xuất rau trên thế giới qua các năm
Năm
Diện tích (ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lƣợng (tấn)
2004
15.937.621
nhưng do diện tích tăng qua các năm nên sản lượng rau trên thế giới đã tăng
rõ rệt, bình quân hàng năm tăng 6.307.889,4 tấn/năm. Điều đó chứng tỏ nghề
trồng rau trên thế giới đang có xu hướng phát triển nhanh chóng, rau xanh trở
thành nhu cầu thiết yếu và ngày càng tăng lên với đời sống của con người.
Cây rau phân bố không đều giữa các nước và châu lục trên thế giới, qua
tìm hiểu chúng tôi thu được kết quả sau thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.2: Tình hình sản xuất rau ở một số khu vực trong năm 2007
Khu vực
Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lƣợng (tấn)
Thế giới
17.022.433
144,397
245.079.950
Châu Âu
675.040
167,677
11.318.921
Châu Á
13.719.615
155,018
212.678.906
Châu Mĩ
513.876
130,097
6.685.405
Châu Phi
2.077.157
66,732
ta đã phát hiện thấy bầu, bí được trồng trong vườn gia đình. Theo sổ sách ghi
chép thì cây rau được nhập vào nước ta từ thế kỷ thử X. Thế kỷ thử XVIII, Lê
Quý Đôn đã tổng kết các vùng phân bố rau trong cả nước. Vào giữa thế kỷ
IXX, nhân dân ta đã biết trồng cải trắng và cải bẹ đông dư. Cuối thế kỷ IXX,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
nhân dân đã biết trồng rất nhiều loại rau có nguồn gốc từ Châu Âu như: cải
bắp, su hào, súp lơ, cà rốt, hành tây,… Thế kỷ XX, ở nước ta đã hình thành và
phát triển các vùng chuyên canh. Mặc dù, nghề trồng rau ở nước ta ra đời từ
rất sớm, trước cả nghề trồng lúa nước nhưng sản xuất rau còn manh mún, các
chủng loại rau còn nghèo nàn, diện tích và sản lượng thấp so với tiềm năng
đất đai, khí hậu Việt Nam.(Tạ T. Thu Cúc và CS, 2000) [5].
Theo Bùi Hoàn Hảo, Đào Thanh Vân, (2000) [7] cho đến nay chúng ta
có khoảng 70 loài thực vật được sử dụng làm rau hoặc chế biến thành rau.
Riêng rau trồng có hơn 30 loài trong đó có 15 loài là rau chủ lực. Trong số
này có hơn 80% là rau ăn lá.
Theo Trần Khắc Thi (2003) [14], năm 1995, cả nước có diện tích trồng
rau là 368,5 ha, sản lượng là 4.145,56 triệu tấn. Nếu so với năm 1985 thì diện
tích rau tăng 46,4%, bình quân mỗi năm tăng 10.000 ha. Diện tích trồng rau
trong cả nước tính đến năm 2000 là 445.000 ha, tăng 261.090 ha, tăng khoảng
70% so với năm 1990. Bình quân hàng năm tăng 18,4% nghìn ha (mức trung
bình 7%/năm). Trong đó, các tỉnh phía Bắc là 249.200 ha, chiếm 56%, còn
các tỉnh phía Nam là 196.000 ha, chiếm 44% diện tích canh tác.
Theo số liệu thống kê của FAO (2006), những năm gần đây, diện tích
rau của ta ngày càng được mở rộng từ 494.500 ha năm 2001 lên 525.000 ha
năm 2005, bình quân mỗi năm tăng 7.625 ha (mức tăng 1,5%/năm).
Theo Phạm Thị Thùy (2006) [15], năng suất rau xanh ở nước ta còn
thấp và bấp bênh. Năm 1998, năng suất cao nhất cũng chỉ đạt 144,8 tạ/ha
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
Hiện nay, Việt Nam có 40 nước là thị trường xuất khẩu rau nhưng chúng ta lại
không đủ điều kiện, mới chỉ xuất khẩu được khoảng 1 - 2% sản lượng. Rau
nước ta không thể cạnh tranh được với thị trường quốc tế mà ngay cả trong
nước vì rau tươi của chúng ta đang bị các sản phẩm nhập khẩu lấn át (Cục chế
biến nông lâm sản và ngành nghề nông thôn, 2000; Đường Hồng Dật, 1971;
Đường Hồng Dật, 2002; Nguyễn Văn Miện, Nguyễn Trọng Hùng, Ngô Văn Công,
2001) [4].
Thời gian qua, một số địa phương đã triển khai sản xuất rau an toàn,
bước đầu đạt được một số thành tựu, điển hình là các thành phố như: Hà Nội,
TP Hồ Chí Minh và Đà Lạt. Tính đến năm 1999, diện tích trồng rau an toàn
của cả nước đạt 1.082,5 ha, với sản lượng đạt khoảng 14.000 tấn/năm (Phạm
Thị Thùy, 2006)[15]. Rau trồng chủng loại đa dạng và phong phú, đến nay đã
có hơn 30 loại với 15 loại rau chủ lực. Trong số đó có hơn 80% là rau ăn lá
(Mai Phương Anh, Trần Văn Lài, Trần Khắc Thi, 1996; Cục chế biến nông
lâm sản và ngành nghề nông thôn, 2000) [1].
1.2. Giá trị dinh dƣỡng và giá trị kinh tế của cây rau
1.2.1. Giá trị dinh dưỡng của cây rau
Rau là thực phẩm không thể thay thế được trong bữa ăn hàng ngày của
con người, trong thức ăn hàng ngày cơ thể hấp thu nhiều nguồn dinh dưỡng từ
các nguồn thức ăn như: thức ăn từ động vật (thịt, tôm, cá,…) cung cấp chủ
yếu protein và lipit, thức ăn từ thực vật (lúa, ngô, khoai, sắn,rau,…) cung cấp
chủ yếu các loại vitamin A, B, C, D, E các loại muối khoáng, chất xơ là
những chất dinh dưỡng không thể thiếu được đối với các hoạt động sinh lý
của cơ thể.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
Chất xơ trong rau giúp sự tiêu hoá được điều hoà, chống táo bón, giữ
được cảm giác no. Ngoài ra chất xơ ảnh hưởng có lợi đến hàm lượng
cholesterol trong máu, do vậy ảnh hưởng tốt đến huyết áp và tim, ngăn ngừa
được sỏi mật và ung thư ruột. Số lượng chất xơ lớn có trong rau và với giá trị
năng lượng thấp của nó sẽ có tác dụng ngăn ngừa bệnh béo phì (Trần Văn
Lài, Lê Thị Hà, 2002) [9].
1.2.2. Giá trị kinh tế của cây rau
Ngoài giá trị dinh dưỡng rất cao rau xanh còn là một loại cây trồng
mang lai hiệu quả kinh tế khá lớn cho người nông dân. Theo số liệu chính
thức của tổng cục hải quan kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam tháng
6/2009 đạt 46,02 triệu USD tăng 30% so với tháng trước và tăng đến 73,8%
so với tháng 6/2008. Tính chung 6 tháng đầu năm tổng kim ngạch xuất khẩu
mặt hàng này sang các thị trường đạt 209.61 nghìn USD tăng 13,69% so với
cùng kì năm 2008 (Tổng cục hải quan, 2009).[ 13]
Rau là nguyên liệu của các ngành công nghiệp thực phẩm như:
- Công nghiệp đồ hộp (dưa chuột, cà chua, ngô rau,…)
- Công nghiệp bánh kẹo (bí xanh, cà rốt, khoai tây,…)
- Công nghiệp sản xuất nước giải khát (cà chua, cà rốt, )
- Công ngiệp chế biến thuốc, dược liệu (tỏi, hành, rau gia vị,…)
- Làm hương liệu (hạt mùi, ớt,…)
Rau góp phần phát triển các ngành kinh tế khác như ngành chăn nuôi
(rau là nguồn thức ăn cho ngành chăn nuôi).
Rau là cây trồng quan trọng trong ngành trồng trọt, được trồng ở nhiều
vùng sinh thái khác nhau với lợi thế là thời gian sinh trưởng ngắn và có thể
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
trồng được nhiều vụ trong năm, do vậy rau được coi là cây trồng chủ lực
phát triển rau trái vụ với gần 100 hộ tham gia, bình quân các hộ trong xã đều
đạt thu nhập từ 20 - 30 triệu đồng nhờ trồng rau trái vụ [3]
Như vậy so với các cây trồng khác cây rau là cây có giá tri kinh tế cao,
cho thu nhập vượt trội hơn so với lúa và một số loại cây trồng khác, điều này
đã được thực tiễn chứng minh và công nhận.
1.3. Thực trạng sản xuất rau tại Việt Nam nói chung và tỉnh Thái Nguyên
nói riêng
1.3.1. Thực trạng sản xuất rau tại Việt Nam
Ở nước ta do cấu trúc địa hình phức tạp nằm trong vùng nhiệt đới có
gió mùa, ngoài hai đồng bằng chính là đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng
Sông Cửu Long, còn lại đại bộ phận chiếm 2/3 là đồi núi gây nên nhiều vùng
khí hậu khác nhau từ đó gây ra không ít khó khăn cho việc sản xuất rau ở
nước ta. Khí hậu nóng ẩm mưa nhiều điều kiện tốt cho sâu bệnh phát triển và
diễn biến hết sức phức tạp. Mặt khác, người dân thì chạy theo lợi nhuận nên
một số loại rau trong quá trình sản xuất để loại trừ sâu bệnh hại, người sản
xuất đã sử dụng bừa bãi các loại thuốc BVTV gây hiện tượng nhờn thuốc, dẫn
đến việc bệnh phát triển ngày càng mạnh hơn… Sản xuất rau ở nước ta còn
phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, thường xuyên xảy ra bão lụt thiên tai,
gây nhiều rủi ro cho người sản xuất. Môi trường sống bị ô nhiễm, hệ sinh thái
mất cân bằng đặc biệt là nguồn nước sinh hoạt của con người bị nhiễm độc sẽ
ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người và các thế hệ trong tương lai.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
Mặc dù nghề trồng rau trong những năm vừa qua có những bước tiến
đáng kể, nhưng mới tập trung ở khu vực chuyên canh ven thành phố, lượng
hạt giống mới nhập về còn hạn chế, chưa có một nền sản xuất lớn tập trung
chưa đáp ứng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất. Do đó,
năng suất rau còn thấp, giá thành lại cao, chưa coi trọng quản lý, kỹ thuật
Bảng 1.3. Diện tích, sản lượng rau ở một số địa phương trong tỉnh
Địa điểm
Diện tích (ha)
Sản lƣợng (tấn)
2006
2007
2008
2009
2010
2006
2007
2008
2009
2010
Toàn tỉnh
7176
7982
8047
7724
8920
8523
99879
116745
117798
139635
TP Thái Nguyên
801
782
709
776
348
333
426
324
2667
3145
4175
5436
4448
Phú Lƣơng
536
529
521
392
290
5952
5460
6520
4656
3718
Đồng Hỷ
1013
1211
1270
1055
1071
14758
18160
21908
18359
18286
19349
18460
22480
(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên tháng 3/2011)[12]
Qua bảng 1.3 cho thấy từ năm 2006 đến nay (năm 2010) tình hình sản
xuất rau ở Thái Nguyên đã tăng theo hướng sản xuất hàng hóa. Nhìn chung
toàn tỉnh về cả diện tích và sản lượng rau đều tăng lên, cụ thể vào năm 2006
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
diện tích rau toàn tỉnh là 7.176 ha cho đến năm 2010 diện tích đạt 8.920 ha
tăng 1,24 lần so với năm 2006. Về sản lượng năm 2006 đạt 8.523 tấn nhưng
đến năm 2010 sản lượng đã đạt tới 139.635 tấn tăng 1,36 lần so với năm
2006. Tuy nhiên, diện tích trồng rau ở các huyện còn có sự chênh lệch khá rõ
ràng như: ở huyện Đại Từ vào năm 2010 là vùng có diện tích trồng rau lớn
nhất là 2.417 ha gấp 8,33 lấn so với huyện trồng rau ít nhất là huyện Phú
Lương chỉ đạt 290 ha (2010).
Riêng về huyện Đồng Hỷ đây cũng là một vùng trồng rau lớn của tỉnh.
Diện tích trồng rau của huyện đứng thứ 4 trong tỉnh (2010) chiếm 12% so với
diện tích trồng rau toàn tỉnh. Tuy nhiên diện tích trồng rau của huyện qua các
năm lại có xu hướng giảm xuống cụ thể năm 2008 diện tích trồng rau của
huyện là 1270 ha nhưng đến năm 2010 diện tích chỉ còn 1.071 ha.
Sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau nói riêng chủ yếu phụ
thuộc vào điều kiện thời tiết khí hậu, những biến động bất thường của tự
nhiên như nhiệt độ xuống quá thấp vào mùa đông, khô hạn kéo dài… làm ảnh
hưởng sấu tới sản xuất rau. Thêm vào đó là sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng
của địa phương, sử dụng đất nông nghiệp vào các mục đích khác làm cho diện
tích trồng rau giảm. Tuy diện tích rau có giảm nhưng tổng sản lượng rau của
2.482
2.502
2.394
2.790
Bắp cải
1.040
1.157
1.172
1.125
1.290
Su hào
958
1.066
1.054
1.012
1.194
Năng suất
(tạ/ha)
Rau muống
124,29
131,63
152,62
160,34
164,42
Bắp cải
133,87
141,78
164,38
172,70
177,09
su hào. Vì vậy, hiệu quả kinh tế còn chưa cao.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
18
Tùy vào mùa vụ mà diện tích của các loại rau thay đổi, các loại rau chủ
yếu trong vụ đông xuân là su hào, bắp cải, trong đó diện tích trồng bắp cải là
lớn nhất và tăng dần qua các năm cụ thể: ở năm 2006 diện tích bắp cải là
1.040 ha gấp 1,1 lần so với su hào 958 ha, đến năm 2010 diện tích rau bắp cải
tăng lên 1.290 ha gấp 1,2 lần so với năm 2006. Về sản lượng rau bắp cải vẫn
là loại rau có sản lượng lớn nhất trong vụ này cụ thể là năm 2010 sản lượng
rau bắp cải là 22.845 tấn còn su hào đạt 22.622 tấn.
Qua các năm cùng với sự tăng lên về diện tích và nhận thấy sự quan
trọng của cây bắp cải trong vụ Đông Xuân, cùng với kinh nghiệm và kiến
thức trồng rau của người dân ngày càng cao nên sản lượng rau bắp cải và một
số loại rau khác đều được nâng cao. Từ đó cho thấy rau bắp cải là loại rau chủ
lực và được trồng chủ yếu trong vụ này.
14. Tình hình nghiên cứu về các loại thực vật nói chung và cây xoan Neem, cây
x cừ nói riêng trong phòng trừ sâu hại trên thế giới và Việt Nam
1.4.1. Tình hình nghiên cứu về các loại thực vật trong phòng trừ sâu hại
Từ xa xưa, trong quá trình phát triển con người đã biết khai thác, sử dụng
những cây hoang dại có tính độc để săn bắn, bắ t cá. Dần dần, con người còn biết
dùng những cây dại để trừ chấy rận, rệp, bọ hại người và gia súc.
Từ 300 năm trước công nguyên, khi học giả Theopharastus nhận thấy, cây
đậu Chikpea gây ức chế cây trồng thông qua việc tiết vào đất vào mộ t chất nào đó.
Nhiều năm sau Pliny II và các nhà khoa học Culpeper, Young và De Candol (thế
kỷ I sau công nguyên) cũng đề cập đến vấn đề này. Tuy nhiên đó chỉ là những
nhận xét trực quan chứ không phải là những thí nghiệm so sánh (Rice, 1984).