tóm tắt luận án nghiên cứu sử dụng một số loài thực vật và chế phẩm thảo mộc trong sản xuất rau họ hoa thập tự tại thái nguyên - Pdf 24

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Rau họ hoa thập tự Brassicae (Cruistacae) là loài cây trồng
phổ biến ở nhiều nước trên thế giới (Lim, 1986), nó không chỉ là
nguồn thực phẩm bổ dưỡng cho con người mà còn là dược phẩm quý
trong y học. Thời kỳ Hypocates đã sử dụng món rau bắp cải luộc với
muối để chữa bệnh tiêu chảy. Cổ sử La Mã và Hy Lạp đã dùng rau
cải để chữa bệnh đau đầu, bệnh goute, chữa vết bầm, vết thương,
nhiễm trùng da, mụn nước, nước ăn chân, chữa sưng, bệnh trĩ và tiêu
độc. Binh sĩ Roman đã dùng lá bắp cải để chữa trị vết thương bằng
cách giã nhỏ lá bắp cải rồi đắp vào vết thương, thay 1-3 lần/ngày
(IARC, 2004). Ngày nay, ở các nước phát triển đã dùng bắp cải để
chữa bệnh đau cơ, đau thần kinh tọa, đau dây thần kinh, chữa bệnh
viêm khớp bằng cách hơ nóng lá bắp cải rồi chườm lên chỗ bị đau;
chữa bệnh viêm loét vì trong bắp cải có vitamin U. Đặc biệt, rau họ
hoa thập tự có tác dụng ngăn ngừa 40-70% ung thư (Giovannucci E.
et al, 2003; Verhoeven D.T. et al, 1996; Vermeulen M. et al, 2006).
Chính vì vậy, diện tích và chủng loại rau họ hoa thập tự ở Việt Nam
ngày càng tăng lên mạnh mẽ. Theo FAOSAT, 2012, năm 2010 diện
tích rau họ hoa thập tự đạt 44.800ha, tăng 4,48% so với năm 2009
(đạt 42.881 ha) và cao hơn diện tích trung bình 5 năm (2006 – 2010
đạt 42.526,6 ha) 2.270,4 ha. Chính sự gia tăng về diện tích, cùng với
việc thâm canh tăng vụ, thay đổi cơ cấu cây trồng và quy hoạch vùng
sản xuất rau chuyên canh làm cho tình hình sâu hại diễn biến phức tạp
hơn, xuất hiện nhiều đối tượng sâu bệnh hại mới. Cho nên, số lượng
và chủng loại thuốc BVTV sử dụng cũng tăng lên mạnh mẽ gây ô
nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và dư lượng
thuốc tồn dư trong sản phẩm cao. Trước thực tế đó, để đảm bảo vừa
sản xuất được rau đạt năng suất cao, chất lượng tốt, vừa giảm thiểu

- Luận án đã xác định được kinh nghiệm cổ truyền của dân tộc
vùng trung du miền núi phía Bắc trong việc sử dụng thực vật để phòng
trừ dịch hại cây trồng, làm cơ sở cho việc nghiên cứu quy trình công
nghệ sản xuất chế phẩm thảo mộc để phòng trừ dịch hại cây trồng.
- Lần đầu tiên sản xuất rau họ hoa thập tự bằng việc sử dụng dung
dịch ngâm thực vật và chế phẩm thảo mộc tại Thái Nguyên vừa đạt được
năng suất cao, vừa không có dư lượng hóa chất BVTV tồn dư trong sản
phẩm. Kết quả này đã được chuyển giao cho Lữ đoàn Công binh 575,
Quân khu 1 để sản xuất rau an toàn phục vụ các cán bộ, chiến sĩ thuộc
các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn thành phố Thái Nguyên.
3

Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Những kết quả nghiên cứu về thuốc thảo mộc của các tổ chức
quốc gia và quốc tế đã được tác giả đề cập, tổng kết và rút ra bài học
kinh nghiệm. Kết quả tổng quan vấn đề sử dụng một số loài thực vật
và chế phẩm thảo mộc trong sản xuất rau cho thấy:
- Những loài thực vật thành phần có chứa Nicotine, Rotenone,
Pyrethrum, Azadirachtin, tinh dầu, Salanin, Alkaloids, Amaroids,
Teventin, Glucozids đều có khả năng trừ sâu hại cây trồng. Trong đó,
hoạt chất nicotine không nên sử dụng vì ngoài tác dụng diệt sâu nó
còn có hại đối với con người và môi trường.
- Những loài thực vật có khả năng trừ dịch hại cây trồng có
một số đặc điểm: Không có hoặc ít bị sâu hại hay không có kiến,
nhện sống quanh đó dùng cây đó làm thức ăn; dịch (nhựa) cây có mùi
hắc, gây dị ứng hay mẩn ngứa cho da người; cây có mùi nồng, hắc
khó ngửi.
- Xu hướng nghiên cứu khai thác tiềm năng của các thực vật
làm thuốc trừ sâu là phải đơn giản trong chế biến và sử dụng; đồng

KKCross dùng cho thí nghiệm ngoài đồng ruộng.
Sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae Linne), sâu khoang
(Spodoptera litura Fabricius), Sâu tơ (Plutella xylostella Linnacus),
Bọ nhảy (Phyllotreta striolata Fabricius), rệp đào (Myzus persicae
Sulzer), rệp xám (Brevicoryne brassicae Linnacus).
Xà phòng bột OMO 0,1%; rượu Bắc Hà 0,1%; vôi tôi 0,1%, Padan
95 SP 0,01%.
Lồng làm thí nghiệm có kích thước (cao 0,8 m; dài 1,2 m và rộng 1,0
m); cốc nhựa trồng cây có đường kính 8 cm và cao 10 cm; đĩa Petry,
giấy thấm, bocal, bọ thủy tinh, bông, đường kính, dao nhỏ nhọn, bút lông
nhỏ, kẹp nuôi rệp, cồn 70º, bình phun tay, bình phun thuốc trừ sâu dùng
điện PT-04, kính lúp cầm tay có độ phóng đại 10 lần, túi nilon, chổi lông;
xô nhựa có nắp loại 5 lít.
2.2. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu
2.2.1. Nội dung 01: Điều tra tình hình sản xuất rau và tình hình sử
dụng hóa chất bảo vệ thực vật trên rau tại thành phố Thái Nguyên
- Số liệu về diện tích, năng suất và sản lượng rau qua các năm và
theo các đơn vị hành chính được thu thập tại Phòng kinh tế thành phố Thái
Nguyên năm 2012.
- Tình hình sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật cho rau tại thành
phố Thái Nguyên được thực hiện theo phương pháp PRA (Vũ Thị
Bình và cs, 2006).
5

2.2.2. Nội dung 2: Điều tra kinh nghiệm cổ truyền sử dụng thực vật
có độc trừ sâu hại cây trồng
Được thực hiện năm 2009 tại Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang
và Thái Nguyên theo phương pháp PRA (Vũ Thị Bình và cs, 2006).
2.2.3. Nội dung 3: Nghiên cứu cách pha chế dung dịch ngâm thực
vật trong phòng trừ sâu hại rau họ hoa thập tự


Chƣơng 3
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Tình hình sản xuất rau và tình hình sử dụng thuốc bảo vệ
thực vật trừ sâu trên rau tại thành phố Thái Nguyên
3.1.1. Tình hình sản xuất rau tại thành phố Thái Nguyên
Từ năm 2008 – 2011, sản xuất rau của Thành phố Thái Nguyên
đã tăng theo hướng sản xuất hàng hóa: Năm 2008 diện tích trồng rau
toàn thành phố là 709 ha, đến năm 2011 diện tích đạt 1.010 ha, tăng
1,42 lần so với năm 2008. Năng suất rau năm 2008 của toàn thành
phố là 173,21 tạ/ha; đến năm 2011 đạt 179,84 tạ/ha, tăng 1,03 lần so
với năm 2008. Trong đó năng suất rau năm 2010 là cao nhất đạt
188,74 tạ/ha, tăng 15,53 tạ/ha. Sản lượng rau trong vòng 4 năm (2008
- 2010) của thành phố tăng dần đều qua các năm: Năm 2008 sản
lượng rau đạt 12.285 tấn, đến năm 2011 đạt 18.164 tấn, tăng 1,47 lần
so với năm 2008 (bảng 3.1.).
Bảng 3.1. Diện tích, năng suất và sản lượng rau của thành phố
Thái Nguyên qua các năm (2008 – 2012)
Năm
Diện tích
(ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lƣợng
(tấn)
2008
709
173,21
12.285
2009

Số lần
phun/vụ
Thời gian
cách ly
(ngày)
Thời
gian
cách ly
thực tế
(ngày)
- Sherpa 25 EC
- Dacovil 500 EC
II
Mồng tơi
6
10
4
-
6
7
3
- Peran 50 EC
- Delfin
- Mo thần kỳ
II
Cải xanh
8
7 - 10
5
-

- Nurelle D
25/2.5EC
- Mo thần kỳ
II
Bắp cải
6
10
4
II
7
14
5
-
3
-
5
- Sherpa 25 EC
- Nurelle D
25/2.5EC
- Mo thần kỳ
II
Su hào
6
10
4
II
7
14
5
-

2
ngâm thực vật pha với tỷ lệ
1:0 là cao nhất; tiếp đến tỷ lệ 1:1 > tỷ lệ 1:5 > tỷ lệ 1:10 và thấp nhất
là tỷ lệ 1:15. Trong thực tế, nên sử dụng d
2
ngâm thực vật pha với
nước theo tỷ lệ 1:5 hoặc 1:10 không nên sử dụng nồng độ đặc quá
(1:0 và 1:1) vì gây hiện tượng cháy lá rau.
Hiệu quả trừ sâu của chất bổ sung (phụ gia) 0,01% Padan 95SP
là cao nhất; tiếp đến d
2
xà phòng 0,1% và thấp nhất là d
2
rượu 0,1%.
Trong thực tế, nên sử dụng chất phụ gia là xà phòng hoặc vôi tôi,
không nên sử dụng Padan 95SP vì đó là thuốc trừ sâu hóa học.
3.4. Nghiên cứu sản xuất rau họ hoa thập tự có sử dụng một số
loài thực vật và chế phẩm thảo mộc
3.4.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng một số loài thực vật và
chế phẩm thảo mộc đến sinh trưởng của rau cải bắp
3.4.1.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng một số loài thực vật và
chế phẩm thảo mộc đến thời gian sinh trưởng của rau cải bắp
9

Thời gian sinh trưởng của rau cải bắp từ trồng - trải lá; từ trồng
– cuốn; từ trồng – thu hoạch ở công thức thí nghiệm đều ngắn hơn đối
chứng 1 (Phun nước lã) chắc chắn ở mức độ tin cậy 95% (bảng 3.3.).
Bảng 3.3: Ảnh hƣởng của dung dịch ngâm thực vật và chế phẩm
thảo mộc đến thời gian sinh trƣởng của rau cải bắp
Đơn vị tính: ngày

42,69
92,43
26,13
41,86
91,43
Đ/C
2
: Xà phòng
0,1%
24,33
43,02
91,26
24,97
41,58
91,38
25,83
41,05
90,94

chua+Đ/C
2

24,18
42,13
91,97
25,12
41,46
90,72
25,45
40,35

91,38
24,78
40,48
90,38
24,84
40,21
90,18
Tỏi + Đ/C
2

24,79
42,59
92,17
24,73
41,72
91,69
24,77
40,36
90,36
Derris + Đ/C
2

23,61
41,03
90,35
24,01
40,46
90,36
24,08
39,85

40,71
90,84
25,05
40,25
90,47
Rotenone
24,06
41,39
91,02
24,95
40,26
90,37
24,89
39,62
90,28
TB
24,29
41,87
91,36
24,72
40,93
90,92
24,92
40,36
90,50
Số liệu trung bình của 2 năm 2009 - 2010 và 2010 - 2011
Thời gian từ trồng đến thu hoạch trung bình của cải bắp dao động từ
90,50 – 91,36 ngày. Trong đó, thời gian sinh trưởng của rau cải bắp ở công
thức đối chứng 1


thức đối chứng 1

(phun nước lã) là thấp nhất, chỉ đạt 24,27 – 27,82 lá.
Bảng 3.4: Ảnh hƣởng của dung dịch ngâm thực vật và chế phẩm
thảo mộc đến khả năng ra lá và đƣờng kính bắp cải
Công thức
Số lá/cây (lá)
Đƣờng kính bắp (cm)
ĐXS
ĐXCV
ĐXM
ĐXS
ĐXCV
ĐXM
Đ/C
1
: Nước lã
24,27
27,82
25,53
37,00
42,41
38,92
Đ/C
2
: X.phòng 0,1%
25,71
28,34
26,56
45,48

2

27,25
29,68
28,21
68,20
74,39
70,71
Tỏi + Đ/C
2

26,54
29,04
27,56
67,66
73,75
70,00
Derris + Đ/C
2

27,50
29,68
28,39
69,74
75,29
72,00
Thàn mát+Đ/C
2

27.72

29,60
28,15
64,18
70,12
66,72
Số liệu trung bình của 2 năm 2009 - 2010 và 2010 – 2011
11

Số lá/cây ở vụ ĐXCV cao nhất (đạt 27,82 – 30,82 lá); tiếp đến
ở vụ ĐXM đạt 25,53 – 29,58 lá và số lá/cây ở ĐXS là thấp nhất, chỉ
đạt 24,27 – 28,39 lá.
Đường kính tán ở công thức thí nghiệm cao hơn ở công thức
đối chứng chắc chắn ở mức độ tin cậy 95%. Đường kính tán trung
bình của các công thức thí nghiệm dao động từ 64,18 – 70,12 cm.
Trong đó, đường kính tán ở công thức phun d
2
ngâm quả Bồ hòn là
cao nhất (đạt 70,56 – 75,80 cm); tiếp đến ở các công thức phun d
2

ngâm thực vật và chế phẩm thảo mộc (đạt 65,09)- 75,74 cm) và
đường kính tán ở công thức đối chứng 1(phun nước lã) là thấp nhất,
chỉ đạt 37,0 – 42,41 cm.
Đường kính tán ở vụ ĐXCV cao nhất (đạt 42,41 – 75,80 cm);
tiếp đến ở vụ ĐXM đạt 38,92 – 72,79 cm và đường kính tán ở vụ
ĐXS là thấp nhất, chỉ đạt 37,0 – 70,56 cm.
3.4.2. Nghiên cứu hiệu quả của việc sử dụng một số loài thực vật và
chế phẩm thảo mộc trong phòng trừ sâu hại rau họ hoa thập tự
3.4.2.1. Nghiên cứu hiệu quả phòng trừ sâu xanh
Hình 3.1. cho thấy: Hiệu lực phòng trừ sâu xanh của hầu hết các

3.4.2.2. Nghiên cứu hiệu quả phòng trừ sâu tơ
Hình 3.2. cho thấy: Hiệu lực phòng trừ sâu tơ của các công thức
TN đều nhanh và mạnh hơn so với 2 công thức đối chứng (phun
nước lã và phun d
2
0,1% xà phòng) chắc chắn ở mức độ tin cậy 99%.

Hình 3.2. Hiệu lực phòng trừ sâu tơ
Các công thức thí nghiệm đều phát huy hiệu quả phòng trừ sâu
tơ nhanh và mạnh. Ngay sau phun 1 ngày, hiệu lực phòng trừ đạt
10,91 – 33,82%; sau đó hiệu lực tiếp tục tăng nhanh và đạt cao nhất
sau phun 5 ngày (đạt 55,09 – 98,05%).
Dung dịch ngâm quả Bồ hòn và dung dịch ngâm thân lá Cà
chua có hiệu lực phòng trừ sâu tơ cao nhất (đạt 97,19 - 98,05% a sau
phun 5 ngày); tiếp đó đến d
2
ngâm quả Cà độc dược, chế phẩm
Rotenone & chế phẩm Neem oil (đạt 83,97 – 85,71% b) và hiệu lực
của d
2
ngâm củ Tỏi là thấp nhất (đạt 55,09% f) trong so sánh Duncan.
3.4.2.3. Nghiên cứu hiệu quả phòng trừ sâu khoang
Kết quả nghiên cứu hiệu quả phòng trừ sâu khoang ở hình 3.3.
13 Hình 3.3. Hiệu lực phòng trừ sâu khoang
Hiệu lực phòng trừ sâu khoang của các công thức TN (trừ d
2


ngâm quả Cà độc dược (b)
cao hơn hiệu lực của chế phẩm Neem oil (c) chắc chắn ở mức độ tin
cậy 99%.
3.4.2.4. Nghiên cứu hiệu quả phòng trừ bọ nhảy
14

Hình 3.4. cho thấy: Các d
2
ngâm thực vật và chế phẩm thảo
mộc đều có hiệu lực phòng trừ bọ nhảy cao hơn cả 2 công thức đối
chứng chắc chắn ở mức độ tin cậy 99%.

Hình 3.4. Hiệu lực phòng trừ bọ nhảy
Hầu hết các công thức TN (trừ d
2
ngâm củ Tỏi) đều có hiệu lực
phòng trừ bọ nhảy nhanh và mạnh. Ngay sau phun 1 ngày, hiệu lực
phòng trừ đạt 32,11– 73,23%, sau đó hiệu lực tiếp tục tăng và đạt cao
nhất sau phun 5 ngày (đạt 88,16 – 100,00%).
Dung dịch ngâm quả Ớt, d
2
ngâm thân lá Cà chua, d
2
ngâm quả
Cà độc dược, d
2
ngâm rễ cây Derris & d
2
ngâm quả Bồ hòn có hiệu
lực phòng trừ bọ nhảy cao nhất (đạt 98,41 – 100,00% a); tiếp đến chế

chế phẩm thảo mộc Rotenone (bc) chắc chắn ở mức độ tin cậy 99%.
15

Hiệu quả phòng trừ bọ nhảy của chế phẩm thảo mộc Rotenone
(bc) không có sự sai khác so với hiệu lực của chế phẩm thảo mộc
Neem oil (ab) và d
2
ngâm hạt Thàn mát (c) trong so sánh Duncan.
Nhưng hiệu lực phòng trừ của của chế phẩm thảo mộc Neem oil (ab)
cao hơn hiệu lực của d
2
ngâm hạt Thàn mát (c) chắc chắn ở mức độ
tin cậy 99%.
3.4.2.54. Nghiên cứu hiệu quả phòng trừ rệp
Kết quả nghiên cứu hiệu lực phòng trừ rệp ở hình 3.5. Các d
2

ngâm thực vật và chế phẩm thảo mộc đều có hiệu lực phòng trừ rệp
cao hơn đối chứng chắc chắn ở mức độ tin cậy 99%.

Hình 3.5. Hiệu lực phòng trừ rệp
Các công thức thí nghiệm đều có hiệu lực phòng trừ rệp nhanh
và mạnh. Ngay sau phun 1 ngày, hiệu lực phòng trừ đạt 13,02 –
46,52%, sau đó hiệu lực tiếp tục tăng và đạt cao nhất sau phun 5 ngày
(đạt 54,76 – 96,98%).
Dung dịch ngâm quả Bồ hòn có hiệu lực phòng trừ cao nhất
(đạt 96,98% a sau phun 5 ngày); tiếp đó đến hiệu lực của chế phẩm
thảo mộc Rotenone (đạt 93,40% b) và hiệu lực phòng trừ rệp của
dung dịch ngâm củ Tỏi là thấp nhất (đạt 54,76% f).
Tóm lại: Kết quả nghiên cứu của mục 3.4.2. cho thấy, d

và chế phẩm thảo mộc đến khối lượng trung bình bắp

Hình 3.6. Khối lượng trung bình bắp
Hình 3.6. cho thấy: Khối lượng trung bình bắp (M
bắp
) cải ở các
công thức TN cao hơn M
bắp
ở các công thức đối chứng chắc chắn ở
mức độ tin cậy 99%. Khối lượng trung bình bắp ở các công thức thí
nghiệm dao động từ 1,56 – 2,11 kg. Trong đó, M
bắp
ở công thức phun
17

d
2
ngâm rễ cây Deris, d
2
ngâm quả Bồ hòn cao nhất (đạt 1,74 – 2,11
kg); tiếp đó đến d
2
ngâm thân lá Cà chua, d
2
ngâm quả Cà độc dược &
d
2
ngâm hạt thàn mát (đạt 1,70 – 2,07 kg) và M
bắp
ở công thức phun d

18

Năng suất bắp cải ở vụ ĐXCV cao nhất (12,40 – 44,92 tấn/ha);
tiếp đến ở vụ ĐXM (11,45 – 41,27) và năng suất bắp cải thấp nhất ở
vụ ĐXS (10,77 – 38,85 tấn/ha).
3.4.4. Ảnh hưởng của việc dùng của các d
2
ngâm thực vật và chế
phẩm thảo mộc đến hàm lượng vitamin C, dư lượng hóa chất bảo vệ
thực vật trong rau bắp cải
Hàm lượng vitamin C trong rau bắp cải của các công thức tham
gia thí nghiệm đều cao hơn so với đối chứng chắc chắn ở mức độ tin
cậy 99%. Hàm lượng vitamin C trung bình trong rau bắp cải ở các
công thức thí nghiệm dao động từ 25,07 – 26,88 mg/100g rau tươi.
Trong đó, hàm lượng vitamin C ở công thức phun d
2
ngâm hạt Thàn
mát cao nhất (đạt 25,46 – 27,91 mg/100g rau tươi); tiếp đến ở công
thức phun d
2
ngâm quả Bồ hòn (đạt 25,56 – 27,47 mg/100g rau tươi)
và hàm lượng vitamin C ở công thức phun d
2
ngâm hỗn hợp (Ớt +
Tỏi), ở công thức phun d
2
ngâm củ Tỏi là thấp nhất (đạt 25,26 – 25,77
mg/100g rau tươi) (bảng 3.5.).
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của dung dịch ngâm thực vật và chế phẩm
thảo mộc đến hàm lượng Vitamin C và dư lượng thuốc BVTV trong

0
Cà chua
25,36
27,40
25,57
0
0
0
Ớt
25,30
27,42
25,67
0
0
0
Cà Đ.dược
25,78
27,30
25,88
0
0
0
Ớt+tỏi
25,66
26,82
25,36
0
0
0
Tỏi

26,20
0
0
0
Rotenone
25,47
27,57
25,95
0
0
0
TB
25,07
26,88
25,60
0
0
0
19

Trong các thời vụ trồng cải bắp, hàm lượng vitamin trong bắp
cải ở vụ ĐXCV cao nhất (đạt 24,01 – 27,91 mg/100g rau tươi); tiếp
đó đến hàm lượng vitamn C ở vụ ĐXM (đạt 23,28 – 26,68 mg/100g
rau tươi) và hàm lượng vitamin C ở vụ ĐXS là thấp nhất (đạt 22,74 –
25,78 mg/100g rau tươi).
Về dư lượng thuốc BVTV trong rau bắp cải: ở tất cả các công
thức xử lý bằng các d
2
ngâm thực vật và chế phẩm trừ sâu thảo mộc
(Neem oil & Rotenone) đều không có dư lượng thuốc BVTV.

chế phẩm trừ sâu thảo mộc trong sản xuất rau cải bắp an toàn
- Về hiệu quả phòng trừ sâu hại rau cải bắp ở các mô hình: Mô
hình sử dụng d
2
ngâm thực vật (quả bồ hòn, hạt thàn mát) đạt 68,41 –
98,04% tương đương với hiệu quả trừ sâu của mô hình SX theo đơn
vị (đạt 70,03 – 98,52%); nhưng cao hơn so với hiệu quả của mô hình
SX theo người dân (đạt 51,38 – 94,46%) từ 4,06 – 18,65% (bảng 3.5).
Hiệu quả trừ sâu của mô hình sử dụng chế phẩm trừ sâu thảo mộc
(Neem oil, Rotenone) đạt 70,43 – 93,52% gần tương đương so với
hiệu quả trừ sâu của mô hình SX theo người dân (đạt 51,38 –
94,46%) và mô hình SX theo đơn vị (đạt 70,03 – 98,52%) (bảng 3.6).

Hình 3.9. Năng suất rau bắp cải ở các mô hình
21

Bảng 3.6. Hiệu quả phòng trừ sâu hại cải bắp ở các mô hình thử nghiệm vụ đông xuân năm 2011 tại
Tiểu đoàn Vƣợt Sông 4 thuộc Lữ đoàn Công binh 575 - Quân khu 1 - Thái Nguyên
Đơn vị tính: %

Mô hình

Loại thuốc trừ
sâu
Hiệu lực phòng trừ sau phun 5 ngày
Sâu xanh
bƣớm trắng
Sâu tơ
Sâu
khoang

97,38a
97,67a
Hạt Thàn mát
68,41e
75,43e
78,51b
90,13b
86,85d
Sử dụng chế phẩm
thảo mộc
Neem oil
80,67d
85,49c
71,39c
89,16b
90,06c
Rotenone
84,56c
81,13d
70,43c
90,07b
93,52b
* Trong cùng một cột, số liệu theo sau chữ khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa với độ tin cậy 95% trong so sánh
Duncan
22

- Về năng suất: Năng suất rau SX theo đơn vị (phun thuốc hóa
học, không bón phân hữu cơ, bón phân vi sinh Sông Gianh) đạt 35,63
– 39,83 tấn/ha, thấp hơn mô hình sử dụng chế phẩm thảo mộc 1,09 –
2,56 tấn/ha và thấp hơn mô hình sử dụng d

(3) Cách điều chế thuốc trừ sâu thảo mộc: Gồm 7 bước:

Băm/giã nhỏ
(2)
Ngâm với
nước
(3)
Lọc
(4)
Thêm nước
(5)
Hòa với xà
phòng
(6)
Thuốc đem
phun
(7)
Nguyên liệu
(1)
23

(4) Các dung dịch ngâm thực vật và chế phẩm thảo mộc có hiệu
quả phòng trừ sâu hại cao, trong đó, dung dịch ngâm quả Bồ hòn có
hiệu quả cao (đạt 88,61 – 100,00%) đối với cả 5 loài sâu (sâu xanh
bướm trắng, sâu tơ, sâu khoang, bọ nhảy và rệp).
Năng suất bắp cải ở các công thức phun dung dịch ngâm thực
vật và chế phẩm thảo mộc đạt từ 30,24 – 44,92 tấn/ha và cao hơn đối

2. Đề nghị:
Từ kết quả đánh giá trên, trong sản xuất rau an toàn, người nông
dân nên sử dụng các chế phẩm trừ sâu thảo mộc (Neem oil, Rotenone)
hay dung dịch ngâm thực vật (quả bồ hòn, hạt thàn mát, cà độc dược,
ớt,…) để phòng trừ sâu hại rau cải bắp; đồng thời kết hợp với việc sử
dụng phân hữu cơ hay phân vi sinh hạn chế sử dụng phân bón hóa học
và thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học. Với biện pháp này vừa
đem lại hiệu quả phòng trừ sâu hại rau cao, vừa bảo vệ được môi trường
đồng thời tăng sức sản xuất của đất lâu dài, bền vững.

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
ĐXS:
Đông xuân sớm
ĐXCV:
Đông xuân chính vụ
ĐXM:
Đông xuân muộn
M
bắp
:
Khối lượng trung bình bắp
BVTV:
Bảo vệ thực vật
d
2
:
Dung dịch
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status