nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của rầy lưng trắng (sogatella furcifera horvath) hại lúa vụ hè thu 2011 tại nghi lộc, nghệ an - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI







LÊ THỊ MINH THU
NGHIÊN CỨU ðẶC ðIỂM SINH HỌC, SINH THÁI
CỦA RẦY LƯNG TRẮNG (Sogatella furcifera Horvath)
HẠI LÚA VỤ HÈ THU 2011 TẠI NGHI LỘC, NGHỆ AN LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành : BẢO VỆ THỰC VẬT
Mã số : 60.62.10

Người hướng dẫn KH: PGS.TS. ðẶNG THỊ DUNG



Có ñược kết quả nghiên cứu này
Tôi xin ñược bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc ñến:
PGS. TS ðặng Thị Dung – Bộ môn Côn trùng Khoa Nông học Trường
ðại học Nông Nghiệp Hà Nội, người ñã hết sức tận tình và chu ñáo. Cô ñã
truyền ñạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu, chỉ dẫn cho tôi
từng bước ñi ñể tập làm và hoàn thành luận văn nghiên cứu khoa học.
Xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy cô giáo Bộ môn Côn trùng -
Khoa Nông học, Viện ñào tạo Sau ñại học Trường ðại học Nông Nghiệp Hà
Nội, ñã tạo mọi ñiều kiện giúp ñỡ và có những góp ý sâu sắc trong thời gian
học tập và thực hiện ñề tài.
Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh ñạo Chi cục Bảo vệ thực vật Nghệ An
và các anh chị em ñồng nghiệp, những người ñã tạo mọi ñiều kiện về thời
gian và giúp ñỡ cho tôi trong quá trình nghiên cứu khoa học.
Xin chân thành cảm ơn các ñồng chí lãnh ñạo ñịa phương và bà con
nông dân, nơi tôi tiến hành các thí nghiệm, nghiên cứu khoa học.
Cuối cùng tôi xin chân thành cám ơn những người thân trong gia ñình,
bạn bè ñã ñộng viên khích lệ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn
thành luận văn này.
Tác giả luận văn Lê Thị Minh Thu
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

iii

MỤC LỤC

Lời cam ñoan i

Những nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh học, sinh thái của rầy lưng trắng
6
3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

3.1

ðối tượng nghiên cứu
14
3.2

Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
14
3.3

Thời gian và ñịa ñiểm nghiên cứu
14
3.4

Nội dung và phương pháp nghiên cứu
14
3.5

Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp tính toán
17
3.6

Xử lý số liệu
18
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 19


Một số ñặc ñiểm sinh học khác của rầy lưng trắng trong ñiều kiện
phòng thí nghiệm và trên ñồng ruộng
26
4.2.3

Nhịp ñiệu ñẻ trứng của rầy lưng trắng S. furcifera trong ñiều kiện
phòng thí nghiệm Chi cục BVTV Nghệ An
30
4.2.4

Vị trí ñẻ trứng của trưởng thành rầy lưng trắng S.furcifera ở một
số giai ñoạn sinh trưởng
33
5 KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 35

5.1

Kết luận
35
5.2

ðề nghị
36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37

PHỤ LỤC 43
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

4.4 Sức ñẻ trứng, tỷ lệ trứng nở của S. furcifera trên giống lúa Khang
dân 18 và Nhị ưu 838 tại Chi cục BVTV Nghệ An 27

4.5 Tỷ số giới tính và tỷ số dạng hình của rầy lưng trắng S. furcifera
trong ñiều kiện phòng thí nghiệm 28

4.6 Tỷ số giới tính và tỷ số dạng hình của rầy lưng trắng S.furcifera
ngoài ñồng vụ hè thu 2011 tại Nghi Lộc, Nghệ An 29

4.7 Nhịp ñiệu ñẻ trứng của rầy lưng trắng S. furcifera trong ñiều kiện
phòng thí nghiệm 31

4.8 Vị trí ñẻ trứng của trưởng thành rầy lưng trắng S. furcifera trên
lúa ở một số giai ñoạn sinh trưởng 33Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

vii

DANH MỤC CÁC HÌNH
STT Tên hình Trang
4.1 Diễn biến mật ñộ rầy lưng trắng S. furcifera trên một số giống lúa
trong vụ hè thu 2011 tại Nghi Lộc, Nghệ An 20
4.2 Diễn biến mật ñộ rầy lưng trắng S. furcifera trong vụ hè thu 2011
trên một số chân ñất tại Nghi Lộc, Nghệ An 22
4.3 Ruộng lúa tại vùng ñiều tra 23
4.4 Rầy lưng trắng trên ruộng ñiều tra 23
4.5 Sogatella furcifera lột xác 26
4.6 Xác rầy lưng trắng S.furcifera 26

năm 2008 và 53,2 tạ/ha năm 2010) (Tổng cục thống kê, 2010) [10]. Song song
với những thành tựu trên là tình hình phát sinh phát triển của sâu bệnh hại lúa
ñang diễn biến ngày càng phức tạp, nhiều loài dịch hại trước kia là thứ yếu
hoặc không ñược biết ñến thì nay ñã trở thành những loài dịch hại quan trọng.
Trong số côn trùng hại lúa nổi lên gây hại những năm ñầu thế kỷ 21
phải kể ñến rầy lưng trắng Sogatella furcifera. Theo các nghiên cứu mới nhất
của Viện Bảo vệ thực vật, bên cạnh tác hại trực tiếp là chích hút nhựa cây lúa,
rầy lưng trắng còn là môi giới truyền vi rút gây bệnh lùn sọc ñen phương Nam
trên lúa theo cơ chế truyền bền vững tái sinh với khả năng truyền bệnh rất cao
(Viện Bảo vệ thực vật, 2009) [12]. Trong vụ hè thu và vụ mùa năm 2009 cùng
với sự bùng phát về số lượng của rầy lưng trắng thì bệnh lùn sọc ñen phương
Nam cũng ñã phát sinh gây hại thành dịch ở các tỉnh phía Bắc như Nghệ An,
Nam ðịnh, Thái Bình, với tổng diện tích bị thiệt hại nặng lên ñến trên
40.000 ha (Sở NN và PTNT Nghệ An, 2010) [9].
Riêng ở Nghệ An, vụ hè thu – mùa năm 2009 toàn tỉnh có trên 10.000
ha lúa bị rầy lưng trắng gây hại với mật ñộ cao, kéo theo ñó là bệnh lùn sọc
ñen phát sinh thành dịch trên diện rộng, gây thiệt hại lớn trên 13.500 ha, trong
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

2

ñó có 10.500 ha bị mất trắng, ước tính thiệt hại khoảng 140 tỷ ñồng và ảnh
hưởng ñến ñời sống của hàng vạn nông dân [9].
Như vậy có thể nói, rầy lưng trắng ñang trở thành mối ñe dọa hết sức
nguy hiểm cho sản xuất lúa ở Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn sản xuất, ñể góp phần xây dựng cơ sở khoa
học trong phòng chống ñạt hiệu quả, bền vững ñối với rầy lưng trắng, chúng
tôi tiến hành thực hiện ñề tài:
“Nghiên cứu ñặc ñiểm sinh học, sinh thái của rầy lưng trắng (Sogatella
furcifera Horvath) hại lúa vụ hè thu 2011 tại Nghi Lộc, Nghệ An”

tên thành Sogatella furcifera. Ngoài ra rầy lưng trắng còn các các ñồng danh
khác như Liburnica albolineosa Fowler 1905, Sogata distinctant Distant 1912,
Megamelut furcifera Muir 1917, (Dale, 1994) [19].
* Vị trí phân loại của rầy lưng trắng
Rầy lưng trắng thuộc lớp Côn trùng (Insecta), bộ Cánh ñều (Homoptera),
Bộ phụ (Suborder) vòi ở ngực (Auchenorrhyncha), Tổng họ Fulgoroidea, Họ
Muội nâu (Delphacidae), Tên khoa học Sogatella furcifera Horvath.
* Sự phân bố của rầy lưng trắng
Rầy lưng trắng phân bố rộng rãi ở hầu hết các nước trồng lúa vùng
nhiệt ñới và cận nhiệt ñới châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, ðài Loan, Trung
Quốc, Malaysia, Philippines, Ấn ðộ, Việt Nam… và một số nước ở châu Mỹ,
châu Úc, ñảo Thái Bình Dương (Hill S.Dennish, 1983), (Asche and Wilson,
1990) [20],[13].
Dale (1994) và Matsumura (1996) cũng ñã ghi nhận rầy lưng trắng có
mặt ở Afghanistan, Ấn ðộ, Mông Cổ, Nhật Bản, Nepal, Pakistan, Philippines,
Thái Lan, Trung Quốc [19],[30].
* Phạm vi ký chủ của rầy lưng trắng
Trên ñồng ruộng, nhìn chung ký chủ của rầy lưng trắng là cây lúa. Tuy
nhiên trong ñiều kiện nhà lưới, có ñến 37 ký chủ thay thế khác: Zea mays,
Echinochloa colonum, Echinochloa glabrescens, Leptochloa chinensis,
Chloris barbata, Brachiaria distachya, Brachiaria mutica, Digitaria ciliaris,
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

4

Chrysopogon aciculatus, Dactyloctenium aegyptium và Eriochloa procera
(Catindig, 1993) [17]. Ngoài ra, người ta còn quan sát ñược sự có mặt của rầy
lưng trắng trên cây lúa mỳ (wheat), mía và cây lúa miến (sorghum) (Misra,
1980) [31], cây kê (Dale, 1994) [19], cây cỏ và cây lách (sedges) (Yu et
al.,1996) [43] nhưng không có thông tin nào cho thấy những cây trồng trên có

ñể ñẻ trứng. Dịch ngọt do rầy thải ra còn giúp cho sự phát triển của nấm
(Dale, 1994) ñây chính là nguyên nhân gián tiếp chính của bệnh muội ñen
trên lúa [19].
Những nghiên cứu ở Nhật Bản cho thấy gần ñây có sự di cư sớm của
rầy lưng trắng vào Nhật Bản và sự gia tăng mật ñộ của các cá thể di cư. ðiều
này làm thay ñổi sự hiện diện của rầy lưng trắng trên lúa ở Nhật Bản dẫn ñến
một số triệu chứng gây hại mới, các triệu chứng này của rầy lưng trắng ñã ghi
nhận ñược là bông lúa biến màu nâu, hạt thóc rạn nứt màu ñen (Matsumura,
1996) [30].
Trong những ñiều kiện tối ưu về môi trường sống, S.furcifera gia tăng
số lượng gây nên hiện tượng “cháy rầy”, cây lúa bị chết (Romena et al.,
1986) [34].
Trước ñây, triệu chứng bị rầy lưng trắng gây hại trải ñều trên ruộng
lúa, không co cụm thành từng ñám, từng vạt như rầy nâu. Hiện nay ở vùng
phía Bắc Honshu (Nhật Bản) ñã ghi nhận hiện tượng lúa bị cháy rầy lưng
trắng giống như cháy rầy nâu (Matsumura, 1996) [30].
Rầy lưng trắng còn là môi giới chính truyền vi rút gây bệnh lùn sọc ñen
cho lúa, ngô. Khi rầy chích hút trên cây lúa bị bệnh thì vi rút theo dịch cây
vào trong cơ thể rầy và nhân lên, khi rầy chích hút trên cây lúa khỏe sẽ truyền
vi rút sang cây khỏe. Cả rầy non và rầy trưởng thành ñều truyền ñược bệnh,
rầy bị bệnh trên lúa truyền ñược bệnh cho cây ngô, ñặc biệt là cây ngô non
(Sở NN & PTNT Nghệ An, 2010) [9].
Rầy lưng trắng gây ảnh hưởng chủ yếu ñến các yếu tố cấu thành năng
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

6

suất lúa là làm giảm trọng lượng nghìn hạt và làm tăng tỉ lệ hạt bị lép lửng
trên một bông lúa (Liu et al., 1990) [28].
2.2 Những nghiên cứu về ñặc ñiểm sinh học, sinh thái của rầy lưng trắng

Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

7

nhiệt ñộ trung bình 20,3
o
C, ẩm ñộ 72,8% thời gian phát dục của trứng là 8,6 ±
1,4 ngày [5].
Theo Asche and Wilson (1990), rầy non rầy lưng trắng có 5 tuổi. Cơ
thể rầy non các tuổi từ 1 ñến 5 có chiều dài tương ứng 0,8mm; 1,0mm;
1,7mm; 1,8mm; 2,1mm và chiều rộng tương ứng 0,4mm; 0,7mm; 1,0mm;
1,3mm; 1,6mm [13].
Rầy non mới nở có màu trắng ñục, ñến tuổi 3 xuất hiện các vệt vằn trên
lưng. Chúng có kích thước từ 0,8 – 2,1mm tùy theo tuổi (Suenaga., 1963) [38].
Rầy non hoàn thành phát triển trong vòng 11-17 ngày (Liu et al., 1982) [27].
Theo Suenaga (1963), thời gian trung bình của rầy non là 17 ngày ở
20
o
C, 13 ngày ở 25
o
C và 12 ngày ở 28-30
o
C. Tuổi 1 bắt ñầu gây hại cây lúa
bằng cách chích hút nhựa cây, từ tuổi 3 trở ñi chúng có khả năng di chuyển và
phát tán sang những cây lúa xung quanh ñể gây hại [38]. Theo Catindig
(1993) [17], ñể rầy non hoàn thành các giai ñoạn phát dục cần 14 ngày. Rầy
non hoạt ñộng rất nhanh nhẹn và có khả năng bật nhảy.
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn ðức Khiêm (1995) [8] và ðinh Văn
Thành (1998) [5], trong ñiều kiện nhiệt ñộ 26,1 - 29,8
o

Trưởng thành ưa thích ở vị trí phía trên của thân cây lúa. Chúng có xu
tính với ánh sáng ñèn. Trưởng thành cái ñẻ trứng thành ổ, theo hang dọc trong
mô bẹ lá hoặc gân của lá (Dale, 1994) [19]. Thời gian trước ñẻ trứng của
trưởng thành cánh ngắn là 3-7 ngày và 3-9 ngày ñối với trưởng thành cánh
dài. Tuổi thọ của trưởng thành biến ñộng từ 7,5 – 13 ngày ñối với cá thể cái,
và khoảng 14 ngày ñối với cá thể ñực (Liu et al., 1982) [27].
Trưởng thành ñực và trưởng thành cái rầy lưng trắng có thời gian phát
dục tương ứng là 6 và 6,5 ngày. Nhiệt ñộ tối thiểu mà tại ñó chúng có thể
sống và sinh sản là 22
0
C và chúng dễ bị tổn thương bởi ñiều kiện thời tiết khô
nóng. Do ñó hạn hán trong mùa khô là yếu tố có khả năng kiềm chế sự bùng
phát số lượng của rầy lưng trắng (Wu et al., 1997) [41].
Sức ñẻ trứng trung bình của trưởng thành cái rầy lưng trắng có sự biến
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

9

ñộng ở các vùng khác nhau. Sức ñẻ trứng trung bình của trưởng thành tại Ấn
ðộ là 164 quả (Vaidya et al., 1981) [39], tại Nhật Bản là 300-350 quả
(Suenaga, 1963) [38] và 247 quả ñối với những trưởng thành phân bố ở
Philipin (Catindig, 1993) [17].
Trên một số giống thí nghiệm, sức sinh sản của rầy lưng trắng trên
giống TN1 và Dưu 527 là rất cao, còn trên giống C70, IR53386 là rất thấp
(ðinh Văn Thành và cs, 2006) [6].
Sức sinh sản của rầy lưng trắng còn thay ñổi theo nhiệt ñộ. Theo nghiên
cứu của Hồ Thị Thu Giang và cs (2011) [7], trên giống lúa Khang dân 18, ở
các ngưỡng nhiệt ñộ 20 ± 1
o
C, 25± 1

30± 1
o
C và ẩm ñộ 73,4 – 86,7%, thời gian phát dục của pha rầy non dao ñộng
từ 12,48 – 15,08 ngày. Trưởng thành bắt ñầu ñẻ trứng từ 3,29 – 5,5 ngày.
Vòng ñời rầy lưng trắng kéo dài trung bình từ 20,86 – 29,88 ngày.
Ở Trung Quốc, trưởng thành cánh dài rầy lưng trắng di cư ñến ruộng
lúa từ cuối tháng 5 ñến ñầu tháng tám và có từ 3 -4 thế hệ trên ñồng ruộng.
Sức ñẻ trứng của trưởng thành cánh dài giảm dần qua các thế hệ. Sức ñẻ trứng
trung bình ở thế hệ thứ nhất là 118 quả, thế hệ thứ hai là 70 quả và ở thế hệ
thứ ba là 37 quả. Hầu hết chúng rời khỏi ruộng lúa vào cuối tháng 8.(Liu et
al., 1982) [27].
Tại ðài Loan, rầy lưng trắng phát sinh cả trên 2 vụ lúa nhưng mật ñộ
quần thể trên vụ 1 thấp, gây hại không ñáng kể. Trên lúa vụ 2 có 3 kiểu biến
ñộng mật ñộ quần thể, phụ thuộc vào thời gian xâm nhập và mật ñộ của
trưởng thành xâm nhập. Trên vụ sớm, nếu mật ñộ trưởng thành di cư ñạt cao
hơn 1 con/khóm và mật ñộ rầy nâu cao hơn 30 con/khóm thì rầy lưng trắng sẽ
phát tán ngay và ñỉnh cao mật ñộ ñạt vào tháng 8; nếu mật ñộ trưởng thành di
cư ñạt thấp thì ñỉnh cao mật ñộ quần thể rầy lưng trắng sẽ rơi vào thế hệ thứ 2
hoặc thứ 3 tức là vào tháng 9, 10 (phụ thuộc vào ñiều kiện môi trường). Trên
lúa ở thời vụ muộn, ñỉnh cao mật ñộ quần thể rầy rơi vào thế hệ thứ 3. (Huang
et al., 2007) [22].
Ở Nhật Bản, S.furcifera không thể qua ñông, sự di cư thường niên từ
lục ñịa châu Á là nguyên nhân chính dẫn ñến sự xuất hiện rầy lưng trắng tại
ñây. Sự di cư diễn ra từ tháng 6 ñến tháng 7 hàng năm. ðỉnh cao mật ñộ quần
thể rầy lưng trắng ñạt ñược ở thế hệ thứ nhất và giảm mạnh ở thế hệ sau
(Kisimoto, 1976) [26]; (Noda, 1987) [32].
Ở Punjab (Ấn ðộ), rầy lưng trắng ñã hoàn thành ñược 11 thế hệ từ
tháng 8/1978 ñến tháng 9/1979 (Shukla et al., 1982) [36].
Các nghiên cứu từ năm 1981-1982 ở Yunan (Trung Quốc) cho thấy rầy
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………


12
sinh vào thời kỳ lúa làm ñòng ñễn trỗ (cuối tháng 4 ñến ñầu tháng 5 của vụ
xuân và cuối tháng 8 ñầu tháng 9 của vụ thu – mùa có mật ñộ cao nhất. Các
lứa rầy lưng trắng xuất hiện không thực sự rõ rệt, từ cuối ñợt 2 trở ñi trong
quần thể rầy luôn có tỷ lệ rầy trưởng thành khá cao (50 – 60%) [11].
Ở Nghệ An kết quả theo dõi của Chi cục BVTV trong những năm gần
ñây cho thấy rầy lưng trắng là một trong những loài dịch hại chính, thường
phát sinh với mật số cao, gây hại nặng. Năm 2010 toàn tỉnh có khoảng 60.000
ha lúa bị rầy lưng trắng tấn công và có nhiều diện tích ñã bị “cháy” rầy. Trong
mỗi vụ sản xuất rầy lưng trắng phát sinh sớm ngay từ trên ruộng mạ và ñỉnh
cao mật ñộ thường vào giai ñoạn lúa ñẻ nhánh – làm ñòng [4]. Trong 2 vụ thì
Hè thu – mùa thường có mật ñộ rầy cao và gây hại nặng hơn so với vụ Xuân
(Sở NNPTNT, 2010) [9].
Số liệu thống kê diện tích nhiễm rầy trong 2 năm 2009 – 2010 trên ñịa
bàn Nghệ An ñược trình bày tại bảng 2.1.
Bảng 2.1. Tình hình gây hại của rầy hại thân lúa tại Nghệ An
Diện tích bị nhiễm Rầy nâu + rầy lưng trắng (ha)
Vụ xuân Vụ hè thu – vụ mùa
Năm
theo dõi

∑ DT bị
nhiễm
DT nhiễm
nặng
∑ DT bị
nhiễm
DT nhiễm
nặng


Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

14
3.
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU3.1 ðối tượng nghiên cứu
Rầy lưng trắng (Sogatella furcifera Horvath) (Homoptera: Delphacidae)
3.2 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
3.2.1 Vật liệu nghiên cứu
Một số giống lúa ñược trồng phổ biến tại ñịa phương: Giống lúa thuần
Khang dân 18 và giống lúa lai Nhị ưu 838.
3.2.2 Dụng cụ nghiên cứu
- Khung ñiều tra, khay ñiều tra rầy
- Vợt, ống hút, lọ ñựng mẫu, túi ñựng mẫu.
- Hộp nuôi rầy, vải màn, lồng cách li.
- Ống nghiệm, giá ñựng ống nghiệm.
- Kính lúp soi nổi.
- Sổ ghi chép, bút chì, bút lông.
3.3 Thời gian và ñịa ñiểm nghiên cứu
- ðề tài ñược thực hiện trong vụ hè thu năm 2011, tại huyện Nghi Lộc,
tỉnh Nghệ An và phòng thí nghiệm Chi cục Bảo vệ thực vật Nghệ An
3.4 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Nội dung nghiên cứu
- ðiều tra diễn biến mật ñộ rầy lưng trắng (S. furcifera), dưới ảnh
hưởng của một số yếu tố sinh thái (giống lúa, chân ñất) tại Nghi Lộc, Nghệ
An trong vụ hè thu năm 2011.
- Nghiên cứu một số ñặc ñiểm sinh học, sinh thái của rầy lưng trắng (S.

ngày trên mỗi giống ñược tách và nuôi vào các ống nghiệm trồng giống lúa
trên. Tổng số rầy non ñược tiến hành theo dõi trên mỗi giống là 40 cá thể. Khi
rầy non lột xác lần thứ nhất, xác ñịnh ñược thời gian phát dục của rầy tuổi 1.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………………

16
Nuôi tiếp rầy tuổi 2 cho ñến khi lột xác lần thứ 2 ñể xác ñịnh thời gian phát
dục của tuổi 2. Tiếp tục theo dõi cho ñến khi rầy non hóa trưởng thành ñể xác
ñịnh thời gian phát dục của các tuổi 3, 4, 5. Ghép ñôi những cặp trưởng thành
vũ hóa cùng ngày vào các ống nghiêm trồng lúa sạch trứng rầy (15 cặp ñối
với mỗi giống). Hàng ngày chuyển rầy sang các ống nghiệm mới. Rạch mô
lúa, quan sát dưới kính lúp soi nổi ñể xác ñịnh ngày trưởng thành ñẻ quả trứng
ñầu tiên sau khi ghép ñôi, xác ñịnh thời gian phát dục của trưởng thành cái.
ðồng thời theo dõi các cá thể hóa trưởng thành cho ñến khi chúng chết ñể tính
thời gian sống của pha này.
- Nghiên cứu sức ñẻ trứng, tỉ lệ trứng nở, vị trí ñẻ trứng của trưởng
thành cái rầy lưng trắng S.furcifera trên các giống lúa Khang dân 18 và Nhị
ưu 838
Trên mỗi giống, lấy những trưởng thành vũ hóa cùng ngày, khác giới
ghép ñôi (15 cặp) vào các ống nghiệm ñược trồng giống lúa tương ứng, sạch
trứng rầy. Hàng ngày chuyển chúng sang những cây lúa mới, sạch. Giữ ẩm
ñảm bảo cho cây lúa không bị héo. Theo dõi cho ñến khi rầy chết.
+ Sức ñẻ trứng: Với mỗi ống lúa, sau 4 ngày kể từ ngày chuyển rầy,
rạch mô lúa ở những chỗ có vết chích ñẻ trứng và quan sát dưới kính lúp soi
nổi ở ñộ phóng ñại 40 lần, ñếm số trứng rầy ñã ñẻ.
+ Tỷ lệ trứng nở: Tính tổng số trứng ñã ñược ñẻ và tổng số trứng có
chấm mắt ñỏ (trứng nở) qua các ngày, tính tỉ lệ. (Sheng et al., 2003) [35].
+ Xác ñịnh vị trí ñẻ trứng
Thời kỳ mạ: Gieo lúa vào các ống nghiệm, sau 7 ngày tiến hành thả rầy
chửa vào.

5Tổng số trứng thu ñược
Sức ñẻ trứng TB (quả/TT cái) =
Tổng số cặp trưởng thành theo dõi

Tổng số trứng có chấm ñỏ
Tỉ lệ trứng nở (%) =

Tổng số trứng thu ñược
× 100


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status