nghiên cứu hiệu lực của một số loại thuốc bảo vệ thực vật phòng trừ rầy lưng trắng (sogatella furcifera horvath) hại lúa cấy trong vụ mùa 2010 tại đồng bằng sông hồng - Pdf 24


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

NGUYỄN NGỌC TUẤNNGHIÊN CỨU HIỆU LỰC CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC
BẢO VỆ THỰC VẬT PHÒNG TRỪ RẦY LƯNG TRẮNG
(SOGATELLA FURCIFERA HORVATH) HẠI LÚA CẤY
TRONG VỤ MÙA 2010 TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNGLUẬN VĂN THẠC SỸ NÔNG NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT
MÃ SỐ NGÀNH: 60.62.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS. TS. NGUYỄN VĂN ĐĨNH

HÀ NỘI – 2012

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….


ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự hướng dẫn và chỉ bảo
tận tình của các thầy cô, sự giúp đỡ và động viên của gia đình và bạn bè.
Với tất cả tấm lòng mình, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu
sắc tới thầy giáo hướng dẫn GS.TS. Nguyễn Văn Đĩnh, người đã luôn dành
cho tôi những chỉ dẫn và giúp đỡ tận tình trong suốt thời gian học tập và
nghiên cứu hoàn thành đề tài luận văn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo Bộ môn
Côn trùng - Khoa Nông học, Viện đào tạo sau Đại học - Trường Đại học
Nông nghiệp Hà Nội đã có những sự giúp đỡ quý báu trong suốt thời gian tôi
học tập và thực hiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình và động viên của Ban
giám đốc, các cán bộ nhân viên Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Thọ Khang,
các cán bộ Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc, Chi cục Bảo vệ thực vật các
tỉnh: Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, các lãnh đạo địa phương và bà con
nông dân nơi tôi tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã
luôn quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2012
Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Tuấn
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CHỮ VIẾT TẮT Ý NGHĨA
BVTV

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 3

MỤC LỤC 4

1. MỞ ĐẦU 7

1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ 7

1.2. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 9

1.2.1. Mục đích của đề tài 9

1.2.2. Yêu cầu của đề tài 9

1.3. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 10

1.3.1. Ý nghĩa khoa học 10

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 10

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 11

2.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 11

2.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI
NƯỚC
13

2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 13


30

a. Trong phòng thí nghiệm 30

b. Ngoài đồng ruộng 33

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35

4.1. THÀNH PHẦN RẦY HẠI THÂN LÚA VÀ DIỄN
BIẾN MẬT ĐỘ RẦY LƯNG TRẮNG TRONG VỤ MÙA
2010 TẠI MỘT SỐ TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
35

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

6

4.1.1. Thành phần rầy hại thân lúa một số tỉnh vùng đồng
bằng sông Hồng
35

4.1.2. Diễn biến mật độ rầy lưng trắng tại một số tỉnh vùng
đồng bằng sông Hồng
36

4.2. THỬ NGHIỆM HIỆU LỰC CỦA MỘT SỐ LOẠI
THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT PHÒNG CHỐNG RẦY
LƯNG TRẮNG
39


1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Lúa được coi là một trong ba cây lương thực chủ yếu trên thế giới,
trong đó có khoảng 40% dân số coi lúa gạo là nguồn lương thực chính, 25%
dân số sử dụng lúa gạo trên 1 phần 2 khẩu phần lương thực hàng ngày. Như
vậy, lúa gạo có ảnh hưởng tới đời sống ít nhất 65% dân số trên thế giới.
Hiện nay, vấn đề an ninh lương thực đang được nhiều nước trên thế
giới đặt lên nhiệm vụ hàng đầu. Ở nước ta trong các cây lương thực, cây lúa
chiếm một vị trí quan trọng nhất góp phần đảm bảo an ninh lượng thực quốc
gia. Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, cho
đến cuối năm 2010, sản lượng lúa gạo ở Việt Nam đạt khoảng 39,9 triệu tấn.
Để đạt được sản lượng này, rất nhiều tiến bộ khoa học trong thâm canh cây
lúa đã được áp dụng, hàng loạt các giống cây trồng mới có năng suất cao đã
ra đời, các kỹ thuật mới trong canh tác như mật độ gieo trồng, sử dụng hiệu
quả phân bón, gieo cấy đồng loạt,… đang dần thay thế cho canh tác cổ
truyền, các vùng chuyên canh rộng lớn đã hình thành, thay thế cho phương
thức đa canh,…
Tuy nhiên, cũng chính việc thâm canh, tăng vụ tại các vùng trồng lúa
trọng điểm đã tạo điều kiện cho các loại dịch hại trên cây lúa phát triển và
bùng phát thành dịch. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng tái phát,
song chủ yếu là do sử dụng thuốc hoá học quá nhiều, lại không đúng liều
lượng, cũng có thể không đúng cách Trần Quang Hùng (1999) [12].
Theo Cục Bảo vệ thực vật, trong những năm 1999 – 2003, diện tích
lúa bị hại do rầy nâu và rầy lưng trắng gây ra trong cả nước là 408.908,4 ha,
trong đó miền Bắc là 213.208,8 ha, miền Nam là 195.699 ha. Năm 2006 tại
các tỉnh thành phía Nam, tổng diện tích nhiễm rầy toàn vụ là 200.039 ha
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

8

chiếm 12,8% tổng diện tích gieo trồng. Như vậy, diện tích lúa bị hại và hại

Tại miền Bắc Việt Nam, trong một năm, rầy lưng trắng gây hại cả hai
vụ, nhưng mức độ gây hại ở vụ Mùa thường cao hơn vụ Xuân, Có thể nói
rằng, những hậu quả do rầy lưng trắng gây ra hiện đang là vấn đề mang tính
thời sự, nhóm rầy hại thân nói chung và rầy lưng trắng nói riêng, đang được
sự quan tâm rất lớn của các nhà bảo vệ thực vật, việc đi sâu nghiên cứu về
rầy lưng trắng và tìm ra biện pháp phòng chống chúng một cách hợp lý, góp
phần tích cực cho công tác BVTV đạt hiệu quả cao, đồng thời đưa ra được
những khuyến cáo trong việc phòng trừ rầy lưng trắng hại lúa là một việc
làm hết sức cần thiết. Mặc dù vậy, các nghiên cứu về hiệu lực của thuốc
BVTV trong công tác phòng trừ đối với rầy lưng trắng tại Việt Nam là chưa
thực sự nhiều, chủ yếu là các nghiên cứu đối với rầy nâu hoặc những nghiên
cứu về các đặc điểm sinh học của rầy lưng trắng.
Để góp phần làm cơ sở cho biện pháp phòng trừ rầy lưng trắng, đồng
thời cung cấp thêm những dẫn liệu khoa học góp phần đề xuất quy trình quản
lý tổng hợp đối với rầy lưng trắng hại lúa, được sự nhất trí của Viện Đào tạo
sau Đại học, Bộ môn Côn trùng - Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội,
dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TS. Nguyễn Văn Đĩnh, chúng tôi tiến
hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu hiệu lực của một số loại thuốc bảo vệ
thực vật phòng trừ rầy lưng trắng (Sogatella furcifera Horvath) hại lúa
cấy trong vụ mùa năm 2010 tại đồng bằng sông Hồng ”.
1.2. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1. Mục đích của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu về hiệu lực của một số loại thuốc BVTV đối
với rầy lưng trắng hại lúa cấy (trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng),
tìm ra loại thuốc BVTV phòng trừ đạt hiệu quả cao.
1.2.2. Yêu cầu của đề tài
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

10


Hàng năm thế giới bị thất thu trên 210 triệu tấn thóc vì sâu bệnh và
cỏ dại, trong đó, sâu hại là nguyên nhân quan trọng nhất, khoảng 26,7% sản
lượng thóc bị mất vì sự phá hại của các loài sâu.
Theo Nguyễn Xuân Hiển & CTV (1979) [10], trong hệ sâu hại lúa ở
Đông Nam Á, từ đầu những năm 70 của thế kỷ trước trở lại đây, rầy lưng
trắng (Sogatella furcifera Horvath) đã dần dần dẫn vị trí quan trọng hàng
đầu. Rầy lưng trắng đã xuất hiện ở tất cả các nước trồng lúa khu vực Đông
Nam Á, gây nhiều thiệt hại rất nghiêm trọng trên diện rộng.
Theo những kết quả điều tra đồng ruộng của Trung tâm BVTV phía
Bắc – Cục BVTV, trong một năm có 7 lứa rầy khác nhau, thời gian xuất hiện
của chúng tại các vụ Đông Xuân và vụ Mùa trong vòng 6 năm trở lại đây (từ
năm 2005 đến năm 2010) được trình bày tại bảng 2.1.
Bảng 2.1. Thời gian xuất hiện các lứa rầy từ năm 2005 đến năm 2010
Lứa

Năm
Lứa 1 Lứa 2 Lứa 3 Lứa 4 Lứa 5 Lứa 6 Lứa 7
2005 23/3-3/4 23/4-3/3 22/5-2/6 20/6-2/7 27/7-7/8 27/8-7/9 25/9-5/10
2006 20/3-1/4 20/4-3/5 18-28/5 20/6-4/7 24/7-4/8 20/8-1/9 15/9-25/9
2007 15-28/3 15-25/4 15-25/5 15/6-30/6 25/7-5/8 23/8-3/9 17/9-27/9
2008 25/3-5/4 25/4-5/5 25/5-3/6 1-15/7 10-20/8 5-15/9 1-10/10
2009 7-17/3 18-28/4 15-25/5 18-28/6 18-28/7 20-30/8 18-28/9
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

12

2010 5-15/3 10-20/4 8-18/5 15-25/6 20-30/7 20-30/8 17-27/9
(Nguồn số liệu: Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc - Cục Bảo vệ thực vật)

Trong số các lứa rầy xuất hiện, thì lứa 2, lứa 3 (vụ Đông Xuân) và

phải sử dụng các sản phẩm đăng ký trên đối tượng rầy nâu để phòng trừ rầy
lưng trắng, thực tế này cũng đúng so với các kết quả nghiên cứu khoa học
trước đây của tác giả Trần Đình Chiến (1994), tức là những loại thuốc độc có
hiệu quả đối với rầy nâu thì cũng có hiệu lực đối với rầy lưng trắng.
Chính vì vậy, kết quả nghiên cứu về hiệu lực của thuốc BVTV
phòng trừ rầy lưng trắng hại lúa sẽ tiếp tục góp phần làm cơ sở cho công tác
phòng trừ tổng hợp rầy lưng trắng hại lúa.
2.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Rầy lưng trắng Sogatella furcifera Horvath thuộc họ Delphacidae, bộ
Homoptera, Ngoài ra, còn có 17 tên khác như: Delphax furcifera Horvath
(năm 1899), Liburnica albolineosa Fowler (năm 1905), Sogata distinctant
Distant (năm 1912), Megamelut furcifera Muir (năm 1917), Sogata furcifera
Muir and Giffard (năm 1924), Delphacodes albolineosa Osborn (năm 1929),
Sogatella furcifera Horvath (năm 1963), Rầy lưng trắng phân bố rộng rãi ở
hầu hết các nước trồng lúa vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á như: Nhật
Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc, Malaysia, Philippines, Ấn Độ, Việt
Nam…và một số nước ở châu Mỹ và một số nước ở châu Úc và đảo Thái
Bình Dương, Hills S. Dennish (1983) [23].
Theo Reissig H. et al., (1993) [33], khi mật độ rầy cao hiện tượng
cháy rầy xảy ra khi khóm lúa bị vàng đỏ và cây lúa thụt đi khi mật độ rầy cao
và có thể lan nhanh, điển hình tại các vùng Assam - Ấn Độ, tháng 5 - 6 năm
1985 có hơn 8.000 ha lúa IR8 đã bị cháy rầy lưng trắng.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

14

Theo Hill S. Dennish (1983) [23], rầy lưng trắng cũng như rầy nâu,
trứng được đẻ ở phần mô bẹ lá hoặc gân lá chính của lá, đẻ thành từng ổ,
trứng có hình dạng và kích thước tương tự như rầy nâu nhưng mũi trứng dài

Reissig, Henrichs (1993) [33], Ram P., (1986) [32], rầy lưng trắng
thường có số lượng lớn vào đầu vụ. Quần thể rầy lưng trắng cao nhất vào
thời kỳ đẻ nhánh đến trước khi phân hoá đòng (khoảng 7 - 8 tuần sau khi
cấy), sau đó số lượng giảm dần vào giai đoạn lúa sau khi trỗ.
Theo Lui (1995) [31], số lượng rầy lưng trắng cao vào giai đoạn đầu
của cây lúa có thể là do sự có mặt của một số aminoaxit. Tuy nhiên biến
động số lượng của rầy lưng trắng còn phụ thuộc vào nhiệt độ, độ ẩm làm ảnh
hưởng đến hoạt động của rầy lưng trắng.
Theo Shulkla et al., (1990) [39], trong điều kiện thời tiết mát mẻ kéo
dài vòng đời của rầy lưng trắng và hoạt động của chúng rất thấp. Những
vùng khí hậu cận nhịêt đới như Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Quốc thì vòng
đời của rầy lưng trắng kéo dài gấp 2 lần so với vùng nhiệt đới.
Sự di chuyển của rầy lưng trắng cũng giống như rầy nâu, rầy lưng
trắng cũng di chuyển hàng loạt, được phản ánh như một “Hội chứng bay sinh
trứng” của quá trình tiền sinh sản của rầy di cư. Sự di chuyển của rầy lưng
trắng liên quan đến cường độ ánh sáng và nhiệt độ. Hoạt động di chuyển của
rầy lưng trắng có liên quan đến tuần trăng.
Theo Kisimoto (1971) [40], có 5 đợt rầy di cư ở Trung Quốc từ giữa
tháng 4 đến đầu tháng 5 nhờ gió Nam và Tây Nam, có 3 đợt di cư hướng tây
nam vào giữa và cuối tháng 8, cuối tháng 10. Ở bán đảo Triều Tiên việc du
nhập qua biển đông của rầy nâu và rầy lưng trắng vào cuối tháng 6 và đầu
tháng 7 và các đảo miền trung của Nam Triều Tiên là cuối tháng 7.
Ngoài ra, cũng như rầy nâu, rầy lưng trắng còn có sự di cư giữa các vụ
lúa với khoảng cách từ 6-30 km sau khi cất cánh vào buổi tối trong mùa khô
ở các vùng nhiệt đới, Shingh Phaliwal et al. (1986) [41].
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

16

Theo Zhang (1991) [42], Ho Liu (1996) [43], ở Trung Quốc rầy lưng

phun vào lúc rầy sắp nở thì rầy non nở ra sẽ bị biến dạng, nếu phun lúc rầy
đang lột xác thì rầy sẽ bị chết hoặc sẽ kìm hãm rầy lột xác. Trường hợp rầy
non không bị chết, vẫn vũ hoá thành công thì sau khi vũ hoá cánh sẽ bị biến
dạng rất điển hình. Nếu phun Flufenoxuron ở nồng độ 600ppm thì sẽ có tác
dụng làm giảm khả năng sinh sản của rầy.
Theo Nagata (1983) [48] thì cấu tạo hoá học của một loại thuốc và
mức độ sử dụng thường xuyên của loại thuốc đó cũng là nhân tố ảnh hưởng
đến tốc độ phát triển tính kháng thuốc của côn trùng.
Matsumura (2008) [49] cho rằng rầy lưng trắng tại các nước Đông
Nam Á đang có xu hướng kháng với hoạt chất Fipronil, nguyên nhân của
hiện tượng trên được giải thích là do Fipronil đã được sử dụng để phòng trừ
sâu cuốn lá nhỏ vào giai đoạn cây lúa làm đòng. Đây cũng là thời điểm phát
triển của rầy lưng trắng chính vì vậy dù việc sử dụng các thuốc hoá học
thuộc nhóm này để phòng trừ rầy lưng trắng không phổ biến nhưng tính
kháng thuốc Fipronil vẫn phát triển.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Trong những năm gần đây rầy nâu, rầy lưng trắng là đối tượng dịch
hại nguy hiểm. Theo số liệu tổng kết báo cáo công tác bảo vệ thực vật năm
2006 của Cục Bảo vệ thực vật, cho thấy rầy nâu, rầy lưng trắng có xu hướng
phát triển tăng lên về mật độ và diện phân bố, riêng năm 2006 cả nước có
diện tích rầy nâu, rầy lưng trắng là 605.593 ha (3,2 lần so với năm 2005),
trong đó diện tích bị nhiễm nặng là 48.876 ha (tăng 4,6 lần so với năm
2005), có 51,8 ha bị cháy rầy phân bố chủ yếu ở các tỉnh vùng Đồng bằng
Bắc Bộ. Ở các tỉnh miền Bắc có 141.190 ha bị nhiễm rầy nâu, rầy lưng trắng,
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

18

tăng 28,6% so với năm 2005, trong đó diện tích nhiễm nặng khoảng 20.000
ha, tăng 1,8 lần so với năm 2005.

2007
137.140 28.691 35 14.965 131 0
2008
295.178 47.752 4,2 187.004 40.563 98,2
2009
166.556,83 14.742,5 24,78 162.337 10.505 251,22
2010
215.651 20.882 11,7 325.152 56.948 393,21
(Nguồn số liệu: Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc – Cục Bảo vệ thực vật)
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

19

Số liệu về diện tích nhiễm rầy nâu-rầy lưng trắng và tác hại của chúng
trong vòng 5 năm qua (từ năm 2005 đến năm 2010) tại các tỉnh Hà Nam,
Nam Định và Thái Bình được thể hiện qua các bảng sau: Bảng 2.4. Diện tích lúa bị nhiễm rầy nâu - rầy lưng trắng tại tỉnh Hà
Nam từ năm 2005 đến năm 2010
Diện tích nhiễm vụ xuân (ha) Diện tích nhiễm vụ mùa (ha) VụNăm
DT nhiễm

DT Bảng 2.5. Diện tích lúa bị nhiễm rầy nâu - rầy lưng trắng tại Nam Định
từ năm 2005 đến năm 2010
Diện tích nhiễm vụ xuân (ha) Diện tích nhiễm vụ mùa (ha) VụNăm
DT nhiễm

DT
nặng
DT giảm
70% NS
DT nhiễm

DT
nặng
DT giảm
70% NS
2005 7.050 650 0 14.857 578 0
2006 9.088,5 583.5 0 17.994 2.618 0
2007 35.349 1.042 0 8.223 3 0
2008 65.646 11.267 0.03 29.175 3.105 0.4
2009 27.827 806 0 21.298 1.108 0
2010 35.247 6.183 0 61.113 5.023 11.3
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….



VM 45.300 18.050 4,4 46.700
2009

VX 40.000 8.000 0 23.000
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

22

VM 56.250 282,5 5 31.500
VX 17.700 4.200 0 71.700
2010

VM 5.000 200 16 32.950
VX 460 1,4 0 480
2011

VM 2.000 198,5 1,5 24.500
(Nguồn số liệu: Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Thái Bình)
Tại tỉnh Thái Bình, từ năm 2007 đến năm 2010 thì diện tích phòng trừ
rầy nâu-rầy lưng trắng của vụ mùa thấp hơn vụ xuân, tuy nhiên trong năm
2011, diện tích nhiễm, diện tích nhiễm nặng và diện tích phòng trừ trong vụ
mùa cao hơn hẳn so với vụ xuân.
Như vậy, qua bảng tổng hợp diện tích nhiễm rầy nâu-rầy lưng trắng
qua các năm tại Hà Nam, Nam Định, Thái Bình cho thấy, vụ mùa năm 2010
tại tỉnh Thái Bình là tỉnh có diện tích giảm 70% năng suất nhiều nhất so với
2 tỉnh là Hà Nam và Nam Định.
Có thể thấy, những số liệu thực tế tại các tỉnh Hà Nam, Nam Định và
Thái Bình đều phù hợp với những kết quả nghiên cứu về quy luật phát sinh
rầy nâu – rầy lưng trắng của các tác giả trước đây.

C và ẩm độ 92 - 93,8%,
vòng đời của rầy lưng trắng là 22 ngày.
Cũng theo hai tác giả Nguyễn Đức Khiêm và Đinh Văn Thành, mô tả
đặc điểm rầy lưng trắng có dải trắng dễ nhận thấy ở mảnh lưng giữa, mình
màu nâu vàng, cánh trước có mặt cánh đen hoặc nâu xám. Rầy đực dài 2,6
mm, không có dạng cánh ngắn, rầy cái dài 2,9 mm, mảnh lưng uốn cong
không sâu phía dưới. Rầy trưởng thành di chuyển nhiều hơn so với rầy nâu.
Rầy lưng trắng có 5 tuổi, tuổi 1 có màu trắng sữa cho đến khi xuất hiện nền
trắng và xám ở tuổi 3, tuổi 5 mảnh lưng và bụng đồng vàng, có các vết vằn
trắng, xám trên nền trắng mịn, chiều dài thân thay đổi từ 0,8 - 2,1 mm. Trứng
đẻ thành từng ổ từ 2 - 7 quả, thường đẻ trong mô bẹ hoặc gân lá chính của lá
tuỳ theo giai đoạn sinh trưởng của lá. Khi mới đẻ trong suốt không màu dài
từ 0,96 mm, rộng 0,2 mm, 3 ngày sau khi đẻ đầu trứng xuất hiện điểm màu
đỏ, cuối trứng có nmột đốm màu vàng đục. Thời gian phát dục của rầy lưng
trắng thay đổi theo điều kiện nhiệt độ và ẩm độ từ 23,8 - 29,8
0
C, độ ẩm 93 -
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp ……………….

24

94% thời gian phát dục của trứng là 6,4 - 6,7 ngày, rầy non là 12,5 - 12,9
ngày, vòng đời 23,6 - 20,4 ngày.
Theo các tác giả Nguyễn Xuân Hiển, Trần Hùng, Bùi Văn Ngạc, Lê
Anh Tuấn (1979) [10], ký chủ chính của rầy lưng trắng là lúa, ngoài ra rầy
lưng trắng còn có thể hoàn thành phát dục của mình trên một số cây khác
như ngô (Zea mays), cỏ lồng vực cạn (Echinochloa colonum), lồng vực
nước, cỏ đuôi phượng, cỏ mầm trầu, cỏ chắc, kê và các loại lúa dại (Oryza
sativa). Cũng như rầy nâu cả rầy non và rầy trưởng thành đều trực tiếp chích
hút vào thân cây lúa. sự chích hút có thể làm cho cây héo vàng, xuất hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status