Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
------------------------------ NGUYỄN THỊ THU HUYỀN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ, HIỆU QUẢ
TẠO CỦ KHOAI TÂY BI IN VITRO VÀ TRỒNG
THỬ NGHIỆM TẠI THÁI NGUYÊNCHUYÊN NGÀNH: SINH HỌC THỰC NGHIỆM
MÃ SỐ: 60.42.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ TÂM THÁI NGUYÊN - 2008
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng có ai
công bố trong một công trình nào khác.
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 9 năm 2008
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Huyền Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, trước tiên tôi xin được bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thị Tâm, với cương vị là người hướng dẫn
khoa học đã hướng dẫn tận tình, động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho
tôi trong quá trình thực hiện luận văn. Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới các
mầm của khoai tây củ bi in vitro ........................................................................ 37
3.1.4. Chi phí sản xuất khoai tây củ bi trong phòng thí nghiệm ........................ 39
3.2. Kết quả nghiên cứu thử nghiệm ngoài đồng ruộng ..................................... 41
3.2.1. Điều kiện khí hậu, thời tiết của Thái Nguyên .......................................... 41
3.2.2. Khả năng sinh trưởng và các yếu tố cấu thành năng suất của khoai tây
trồng từ củ bi in vitro (vụ đông 2007) ................................................................ 43
3.2.3. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đối với khả năng sinh trưởng và các yếu
tố cấu thành năng suất của khoai tây trồng từ củ bi in vitro (vụ đông 2007) ... 53
3.3. Kết quả đánh giá chất lượng khoai tây được trồng từ củ bi in vitro (vụ
đông 2007) .......................................................................................................... 55
3.3.1. Đánh giá chất lượng thông qua một số chỉ tiêu về hình thái ................... 55
3.3.2. Đánh giá chất lượng thông qua một số chỉ tiêu hoá sinh ......................... 57
Kết luận và đề nghị .......................................................................................... 62
Tài liệu tham khảo ........................................................................................... 64
Phụ lục
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
Danh môc c¸c b¶ng Bảng 1.1. Năng suất protein và năng lượng của một số cây lương thực ........... 8
Bảng 1.2. Diện tích, năng suất, sản lượng khoai tây của châu Âu .................... 9
Bảng 1.3. Diện tích, năng suất, sản lượng khoai tây của châu Á .................... 10
Bảng 1.4. Diện tích, năng suất, sản lượng khoai tây của Việt Nam ................ 11
Bảng 2.1. Chế độ chăm sóc khoai tây củ bi trồng thử nghiệm trên đồng ruộng .. 24
Bảng 3.1. Ảnh hưởng của mật độ chồi cấy đến khả năng tạo củ bi in vitro .... 32
Bảng 3.2. Ảnh hưởng của vị trí đoạn cắt đối với sự sinh trưởng cây in vitro . 34
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của vị trí đoạn cắt đối với hiệu quả tạo củ bi in vitro ... 36
Bảng 3.4. Thời gian ngủ và mức độ hao hụt của củ bi trong bảo quản ........... 38
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
Danh môc c¸c h×nh
Hình 3.1. Ảnh hưởng của mật độ chồi cấy đến khả năng tạo củ bi in vitro .... 33
Hình 3.2. Ảnh hưởng của vị trí đoạn cắt đối với khả năng sinh trưởng của chồi ... 35
Hình 3.3. Ảnh hưởng của vị trí đoạn cắt đến hiệu quả tạo củ bi in vitro ......... 37
Hình 3.4. Khả năng nảy mầm của củ bi in vitro .............................................. 38
Hinh 3.5. Diễn biến nhiệt độ và lượng mưa trung bình hàng năm tỉnh Thái Nguyên . 42
Hình 3.6. Tăng trưởng chiều cao cây của khoai tây trồng từ củ bi .................. 46
Hình 3.7. Tăng trưởng số lá của cây khoai tây trồng từ củ bi .......................... 48
Hình 3.8. Kích thước củ giống của khoai tây củ bi và ĐC .............................. 51
Khoai tây (Solanum tuberosum L.) là cây lương thực, thực phẩm giá
trị được trồng ở nhiều nước trên thế giới. Củ khoai tây chứa trung bình 25%
chất khô, trong đó các chất dinh dưỡng quan trọng như: Tinh bột 80- 85%,
protein 3%, nhiều loại vitamin A, B1, C, B6, PP…[40]. Với giá trị dinh
dưỡng và kinh tế cao, khoai tây là một trong bốn cây lương thực quan trọng
xếp sau lúa, ngô và khoai lang [7]. Ở Việt Nam, khoai tây là cây vụ đông
quan trọng trong công thức luân canh lúa xuân- lúa mùa sớm- khoai tây [9].
Với điều kiện khí hậu trong vụ đông ở đồng bằng sông Hồng, cây khoai tây là
cây trồng thích hợp đem lại giá trị kinh tế cao.
Trên thực tế, sản xuất khoai tây nước ta gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là
trong công tác giống, dẫn đến năng suất và diện tích trồng hàng năm thấp và
không ổn định. Việt Nam phải nhập 70%-75% nguồn giống từ Trung Quốc,
15% nguồn giống từ châu Âu, 15% giống sản xuất trong nước [5]. Giống sản
xuất trong nước chủ yếu là theo phương thức tự để, củ giống dễ bị thoái
hoá, tăng tỉ lệ nhiễm bệnh, đặc biệt là virus, làm yếu dần tính chống chịu
của khoai tây qua sinh sản vô tính [4]. Nhập khẩu một lượng lớn khoai tây
thịt giá rẻ từ Trung Quốc làm giống sẽ lan truyền nhiều loại sâu bệnh nguy
hại cho môi trường. Nguồn giống từ châu Âu cho chất lượng tốt nhưng giá
giống đắt làm hạn chế đến hiệu quả kinh tế. Khoai tây là loại cây trồng có
khả năng cho năng suất cao, ở các ruộng thâm canh của nhiều nước năng
suất có thể đạt đến hàng trăm tấn củ/ha. Trong khi đó nước ta năng suất
khoai tây chỉ đạt dưới 10 tấn/ha.
Trong hệ thống sản xuất khoai tây sạch bệnh thì việc sản xuất khoai tây
củ bi có ý nghĩa rất lớn. Khoai tây củ bi mang đầy đủ đặc tính tốt của khoai
tây bầu đất. Ngoài ra, người dân không phải gây giống cấp một mà vẫn đảm
bảo được năng suất, nhất là sức chống chịu bệnh của giống.Việc bảo quản,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
vận chuyển dễ dàng, giá củ bi thấp hơn nhiều so với các củ giống lớn, như
vậy giảm được vốn đầu tư ban đầu [12], [19].
1.1. Giới thiệu chung về cây khoai tây
1.1.1. Nguồn gốc và phân loại cây khoai tây
Cây khoai tây (Solanum tuberosum L.) có nguồn gốc ở Nam Mỹ. Đầu
thế kỷ XVI những nhà hàng hải người Tây Ban Nha chinh phục Nam Mỹ,
đã đem về trồng ở nước họ. Vào cuối thế kỷ XVI, khoai tây được trồng ở
AiLen, Anh, Italia, Đức, Pháp Nga…từ đó khoai tây được trồng ở nhiều
nước châu Âu khác. Các nước ở châu Á và châu lục khác biết đến cây khoai
tây muộn hơn các nước ở châu Âu thông qua chính sách thuộc địa của
người châu Âu. Đến nay, khoai tây được trồng rộng rãi ở khoảng 130 nước
trên thế giới từ 71
0
vĩ tuyến Bắc đến 40
0
vĩ tuyến Nam [7], [9], [47].
Ở nước ta, khoai tây được người Pháp mang sang trồng ở một số nơi từ
năm 1890 và chủ yếu trồng ở vùng đồng bằng sông Hồng. Giống khoai tây được
trồng phổ biến trước đây là giống khoai tây ruột vàng Thường tín, giống này có
nguồn gốc từ giống Ackersegen, được nhập từ Pháp năm 1890 [9], [46], [50].
Cây khoai tây thuộc chi Solanum Setio Pentota [45], thuộc họ cà
(Solanaceace) [9] là cây ở thể tứ bội (Tetraploid) (2n=4x=48), có khả năng
sinh trưởng phát triển tốt và cho năng suất cao.
1.1.2. Đặc tính thực vật học của cây khoai tây
Thân và lá cây khoai tây có nhiều lông, lá kép lông chim, không đối
xứng [9]. Thân cây khoai tây là hệ thống bao gồm thân, tia củ và củ, thân cây
cao từ 45- 90cm tuỳ theo giống, độ phì của đất và kỹ thuật canh tác.
Tia củ phát triển từ mầm cành, với điều kiện thuận lợi sẽ phát triển thành
củ, điều kiện không thuận lợi sẽ chồi lên mặt đất phát triển thành cành.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
5
1.1.3.2. Ảnh hƣởng của một số yếu tố sinh thái tới sinh trƣởng và phát
triển của cây khoai tây
Nhiệt độ là yếu tố khí tượng đặc biệt quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp
đến sinh trưởng phát triển của cây khoai tây. Ở thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng
cây khoai tây có thể thích ứng với biên độ nhiệt từ 10
0
C- 25
0
C, rộng hơn so
với giai đoạn sinh trưởng sinh thực. Theo Billb- Deau (1992), nhiệt độ thích
hợp cho sự hình thành củ khoai tây là 18
0
C-20
0
C, từ 20
0
C trở lên quá trình
hình thành củ khoai tây sẽ bị kìm hãm, khối lượng chất khô của củ cũng như
chất lượng của củ đều bị giảm [48], nếu nhiệt độ quá thấp cũng ảnh hưởng
đến sinh trưởng của củ, khi nhiệt độ xuống thấp dưới 15
0
C các đặc tính như
màng vỏ, hàm lượng tinh bột thay đổi theo hướng không có lợi.
Khoai tây là cây ưa sáng, cường độ ánh sáng thích hợp cho năng suất cao
từ 40.000- 60.000 lux. Cường độ ánh sáng mạnh có lợi cho quá trình quang
hợp sẽ thuận lợi cho hình thành, tích luỹ chất khô. Cường độ quang hợp yếu
nhiều tia củ sẽ không có khả năng hình thành củ [50].
Các thời kỳ sinh trưởng khác nhau của cây khoai tây thì yêu cầu về thời
gian chiếu sáng cũng khác nhau: Từ khi khoai tây bắt đầu mọc khỏi mặt đất
năng suất sản lượng khoai tây cao, chất lượng tốt thì phải sử dụng phân hữu cơ
vì phân hữu cơ cung cấp một cách cân đối các nguyên tố đa lượng và bán đa
lượng (N, P, K , Ca) cho khoai tây và đặc biệt là bổ sung đầy đủ các nguyên tố
vi lượng quan trọng cần cho khoai tây. Ngoài ra phân hữu cơ còn tạo độ xốp
trong đất, tăng khả năng giữ ẩm của đất, kích thích bộ rễ phát triển và tạo điều
kiện thuận lợi cho quá trình hình thành và phát triển củ khoai tây [9], [28].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
1.1.3.4. Thời vụ trồng khoai tây ở Việt Nam
Ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam, khung thời vụ trồng
khoai tây nằm gọn trong thời gian từ vụ lúa mùa sang vụ lúa xuân. Thời vụ
trồng khoai tây vụ đông có thể trồng từ thượng tuần tháng 10 đến hạ tuần
tháng 11 vẫn cho thu hoạch. Thời vụ tốt nhất để trồng khoai tây là trung tuần
tháng 10 đến trung tuần tháng 11. Thời vụ này có thể đáp ứng đầy đủ nhất về
nhiệt độ, ánh sáng để cây khoai tây sinh trưởng phát triển và cho năng suất
cao. Trồng sớm hơn khoai tây sớm bị rạc, nếu trồng muộn hơn khoai tây sẽ
gặp rét ngay lúc mới mọc, phát triển chậm nên cho năng suất thấp [28].
Theo Vũ Thị Bích Dẫn và Cs (1995), vụ đông sớm ở đồng bằng Bắc Bộ
thường được bố trí từ trung tuần tháng 9 đến trung tuần tháng 10. Thời vụ này
thường gặp điều kiện thời tiết khí hậu bất thuận như lượng mưa lớn và nhiệt độ
cao. Mặt khác, khoai tây trồng ở Việt Nam có thời gian xuất hiện củ rất ngắn chỉ
khoảng 35- 40 ngày trồng, đặc biệt với các giống ngắn ngày, mầm già sinh lý củ
xuất hiện sớm hơn và thời gian sinh trưởng ngắn nên năng suất không cao [8].
Ở vùng nam khu IV cũ, khoai tây có thể trồng muộn hơn, tức là vào
trung tuần tháng 11 vì ở vùng này mùa mưa kết thúc muộn hơn. Còn vùng núi
khí hậu ôn hoà như Sapa, Đà Lạt có thể trồng được quanh năm [20].
Nghiên cứu của Đào Mạnh Hùng (1996) cho thấy, khoai tây vụ xuân
thường được trồng từ hạ tuần tháng 12 đến thượng tuần tháng giêng, thu hoạch
trung tuần tháng 4. Tháng 12 có nhiệt độ trung bình là 18,1
0
khoai tây có thể đảm bảo ít nhất 8% nhu cầu protein, 3% năng lượng, 10% sắt,
10% vitaminB1 và 20-25% nhu cầu vitamin C cho 1 người trong 1 ngày đêm
[47]. Vì vậy, theo đánh giá của Vander Zaag (1976), trong số các cây trồng
của vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới như lúa, ngô, đậu tượng… thì khoai tây
cho năng suất năng lượng, năng suất protein và sinh lợi cao nhất [55].
Bảng 1.1. Năng suất protein và năng lượng của một số cây lương thực
Loại cây trồng Kcalo/100g
Năng suất
năng lượng
(kcalo/10ngày/ha)
Tỉ lệ
protein
(%)
Năng suất
protein
(kg/ngày/ha)
Khoai tây 90,82 48,64 2,0 1,1
Sắn 185,87 45,12 0,7 0,2
Khoai lang 138,30 48,93 1,5 0,5
Đậu đỗ 400,24 11,72 22,0 0,6
Lúa 420,90 35,10 7,0 0,6
Ngô 138,91 38,97 9,5 0,8
(Nguồn: Vander Zaag, (1976) [55]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
Nếu so sánh về năng suất chất khô trên một đơn vị diện tích trồng trọt thì
khoai tây là cao nhất, hơn lúa mỳ 3,04 lần, lúa nước 1,33 lần, ngô 2,2 lần [42].
Bên cạnh giá trị làm lương thực, thực phẩm cho con người và thức ăn
10
Châu Á có nền sản xuất khoai tây lớn thứ 2 sau châu Âu, tập trung ở các
nước như: Trung Quốc, Nhật Bản, Cộng hoà Dân chủ nhân dân Triều Tiên, Hàn
Quốc, Mông Cổ…Hiện nay, Trung Quốc là quốc gia trồng nhiều khoai tây nhất
thế giới và đứng đầu châu Á cả về diện tích, năng suất và sản lượng.
Bảng 1.3. Diện tích, năng suất, sản lượng khoai tây của châu Á
Năm
Diện tích
(Triệu ha)
Năng suất
(Tấn/ha)
Sản lượng
(Triệu tấn)
2000 7,96 15,20 120,99
2001 7,84 15,10 118,38
2002 7,75 15,60 120,90
2003 7,80 15,76 122,93
2004 7,98 16,53 131,91
2005 7,86 16,38 128,75
(Nguồn FAO, 2005) [43]
Sản xuất khoai tây của châu Á khá ổn định, năm 2000 có 7,96 triệu ha,
năm 2002 diện tích trồng khoai tây thấp nhất 7,75 triệu ha, giảm 0,21 triệu ha,
đến 2005 cả châu lục trồng được 7,86 triệu ha, gần bằng diện tích khoai tây
của châu Âu. Năng suất khoai tây bình quân được tăng lên hàng năm và thấp
hơn năng suất bình quân của châu Âu không đáng kể.
1.2.2. Tình hình sản xuất khoai tây ở Việt Nam
Cây khoai tây được du nhập vào Việt Nam từ năm 1890 và chủ yếu
trồng ở vùng đồng bằng sông Hồng [46]. Hiện nay khoai tây được coi là một
trong những loại “thực phẩm sạch”, là một loại nông sản hàng hoá được lưu
thông rộng rãi [11].
các cây trồng vụ đông khác như ngô, lạc, đậu tương… thì diện tích khoai tây
chỉ chiếm phần nhỏ.
Yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến năng suất khoai tây ở Việt Nam
là chất lượng giống. Củ giống kém chất lượng không có khả năng cho năng
suất cao đồng thời bị hao hụt lớn trong quá trình bảo quản làm cho giá thành
củ giống tăng, tăng chi phí đầu tư lên rất nhiều vì đầu tư giống chiếm tỉ lệ cao
nhất trong tổng chi phí tiền mặt cho việc sản xuất khoai tây.
Giống khoai tây người nông dân sử dụng chủ yếu theo phương thức tự
để, duy trì từ vụ này sang vụ khác, nhiều loại giống đang trồng phổ biến đã bị
thoái hoá. Kết quả điều tra cơ cấu giống ở một số vùng thuộc đồng bằng sông
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
Hồng cho thấy, hầu hết các nơi còn duy trì giống Thường tín và các giống nhập nội
đã bị thoái hoá nghiêm trọng, năng suất thấp (8-9 tấn/ha) [5], [18].
Trong thời gian gần đây, xuất hiện một tỉ lệ đáng kể khoai tây giống từ
Trung Quốc do bà con nông dân tự nhập về với giá rất rẻ. Đây là nguồn giống
không được kiểm tra, kiểm dịch. Qua số liệu điều tra cho thấy, khoai tây
Trung Quốc mọc yếu, tỉ lệ không mọc được và thối cao, chiếm tới 20-30%.
Theo báo cáo của chương trình kinh tế Việt- Đức (2003), tỉ lệ khoai giống
nhập từ Trung Quốc để sản xuất tại Việt Nam lên tới gần 70% [5].
1.3. Những nghiên cứu về giống
1.3.1. Hiện tƣợng thoái hoá giống và biện pháp khắc phục
1.3.1.1. Hiện tƣợng thoái hoá giống khoai tây
Sự thoái hoá giống khoai tây là hiện tượng chung xảy ra ở tất cả các
nước trồng khoai tây trên thế giới. Khi trồng khoai tây được sử dụng tại chỗ và
trồng liên tiếp thì cây sẽ có những biểu hiện sinh trưởng phát triển thân lá
kém, cây thấp, lá xoăn, thân lá có vết loang lổ, dị dạng, củ nhỏ dẫn đến giảm
năng suất. Đó là sự thoái hoá giống [19], [36].
Có hai nguyên nhân gây nên hiện tượng thoái hoá củ giống khoai tây, đó
là thoái hoá do bệnh lí (nhiễm virus) và thoái hoá do sinh lí (củ giống bị già
AND…để xây dựng hệ thống sản xuất giống khoai tây chống virus một cách
rất hoàn chỉnh. Do đó, các củ giống khoai tây được sản xuất tại các trạm nhân
giống đầu dòng và sau đó qua kiểm tra độ sạch virus rất nghiêm ngặt mới cung
cấp cho sản xuất.
Đối với những nước đang phát triển, chủ yếu là những nước thuộc châu
Á, châu Phi, châu Mỹ La Tinh, chưa có hệ thống sản xuất giống hoàn chỉnh thì
việc khắc phục sự thoái hoá giống khoai tây do virus được tiến hành theo
nhiều phương pháp khác nhau
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
- Giải pháp nhập nội củ giống sạch bệnh thay thế giống đã thoái hoá.
- Giải pháp sản xuất khoai tây bằng hạt (do virus không truyền qua hạt)
- Chọn lọc vệ sinh đồng ruộng: Nhổ bỏ cây bệnh, giữ cây sạch để làm giống.
Các biện pháp khắc phục hiện tượng thoái hoá giống khoai tây do già
hoá củ giống:
Để khắc phục hiện tượng này, các tác giả nghiên cứu đã đưa ra 2 giải pháp:
(1) Áp dụng biện pháp bảo quản lạnh để làm chậm sự già hoá
Perennec (1985) cho rằng, nếu thời gian bảo quản dài như ở các nước chỉ
trồng được một vụ khoai tây, thì nhất thiết phải bảo quản củ giống ở điều kiện
nhiệt độ thấp để làm chậm sự già hoá của củ giống [52]. Đối với những nước
trồng được nhiều vụ trong năm, có thể chọn ra củ giống có tuổi sinh lý tối
thích từ các vụ trồng khác nhau. Nếu không có đủ các điều kiện trên thì phải
nhập nội giống có tuổi sinh lý cần thiết.
(2) Trồng thêm vụ khoai tây muộn để rút ngắn thời gian bảo quản củ giống
Nghiên cứu việc trồng thêm vụ thứ hai để tạo ra củ giống trẻ sinh lý
cũng là hướng tích cực để rút ngắn thời gian bảo quản củ giống. Để có củ
giống trồng vụ thứ hai có thể từ hai nguồn: Nhập nội và áp dụng biện pháp
phá ngủ khoai tây vừa thu hoạch. Kỹ thuật phá ngủ khoai tây để tạo củ giống
trồng vụ thứ hai được áp dụng ở Liên Xô (cũ) đã làm tăng năng suất vụ sau
13%-20% so với trồng củ giống thông thường [44].
(1978), (1997), Đào Xuân Tùng (1983), Trương Văn Hộ (1990) tiến hành trên
tập đoàn giống khoai tây nhập nội tại Đà Lạt. Các nghiên cứu đều khẳng định
được độ sạch virus của khoai tây trồng từ hạt và đã rút ra những kết luận về
khả năng sử dụng ở Việt Nam. Nhưng để trở thành một giải pháp ổn định,
chắc chắn, đặc biệt là khả năng sản xuất hạt khoai tây tại Việt Nam thì việc
xác định được tổ hợp lai thích hợp có khả năng thương mại hoá cao là quan
trọng [13], [15].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
Các biện pháp khắc phục hiện tượng thoái hoá giống khoai tây do già
hoá củ giống:
Ở Việt Nam, củ giống phải bảo quản dài (9 tháng) trong điều kiện nhiệt
độ, độ ẩm cao của mùa hè nên tỉ lệ thoái hoá cao, năng suất giảm rõ rệt. Để
khắc phục hiện tượng này, nhiều tác giả trong nước đã nghiên cứu và đưa ra 2
giải pháp (1) Áp dụng biện pháp bảo quản lạnh để làm chậm sự già hoá: Đây
là biện pháp có hiệu quả cao ở những nước có nền kinh tế phát triển trên thế
giới. Tuy nhiên, nền kinh tế của Việt Nam còn khó khăn nên việc đầu tư vào
kho lạnh để bảo quản lượng củ giống lớn cho sản xuất là rất khó thực hiện, bảo
quản lạnh sẽ nâng cao giá thành sử dụng do đó người nông dân sẽ khó lòng
chấp nhận. Vì vậy, biện pháp này ở Việt Nam mới chỉ được áp dụng trong
phạm vi còn nhỏ, (2) Trồng vụ khoai tây muộn để rút ngắn thời gian bảo quản
củ giống: Nghiên cứu trồng khoai tây thêm vụ thứ hai tạo ra củ giống trẻ sinh
lý cũng là hướng tích cực nhằm rút ngắn thời gian bảo quản củ giống. Để có củ
giống trồng vụ thứ hai cần phải có biện pháp phá ngủ khoai tây vừa thu hoạch.
Nguyễn Quang Thạch, Hoàng Minh Tấn (1993), đã nghiên cứu và hoàn thiện quy
trình phá ngủ tổng hợp khoai tây một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất [26].
1.3.2. Các nghiên cứu về sản xuất củ nhỏ
1.3.2.1. Vai trò và tình hình sử dụng củ nhỏ trong hệ thống sản xuất giống
khoai tây sạch bệnh
Vai trò của củ nhỏ trong hệ thống sản xuất giống khoai tây sạch bệnh