TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
SINH THÁI HỌC CỦA CÁC LOÀI TRONG HỌ NẤM
GANODERMATACEAS Ở VƯỜN QUỐC GIA CHƯ YANG SIN;
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ KHAI THÁC BỀN VỮNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
SINH THÁI HỌC CỦA CÁC LOÀI TRONG HỌ NẤM
GANODERMATACEAS Ở VƯỜN QUỐC GIA CHƯ YANG SIN;
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ KHAI THÁC BỀN VỮNG
GVHD:
TS. Đỗ Hữu Thư
Học viên thực hiện: Nguyễn Thị Quỳnh Anh
MỤC LỤC
Nấm là những sinh vật sống hoại sinh trong môi trường sinh thái. Nấm có khả
năng tiết ra các enzim vào môi trường để phân giải các phân tử phức tạp thành các chất
3
chúng.
Vườn quốc gia Chư Yang Sinh nằm trong khu vực Tây Nguyên và là nơi có sự đa
dạng cao của các loài nấm lớn trong đó có các loài thuộc họ Nấm Ganodermataceae. Các
công trình nghiên cứu về sự đa dạng của thành phần loài của họ Nấm Ganodermataceae ở
đây còn ít và hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào về đặc điểm sinh học và sinh
thái học của các loài thuộc họ Nấm Ganodermataceae ở đây. Chính vì vậy chúng tôi đề
xuất đề tài luận văn là “Nghiên cứu thành phần loài và một số đặc điểm sinh thái học
của các loài trong họ Nấm Ganodermataceae ở Vườn quốc gia Chư Yang Sin; đề xuất
giải pháp bảo tồn và khai thác bền vững” nhằm góp phần làm rõ sự đa dạng về thành
phần loài của họ Nấm Ganodermataceae ở VQG CYS để đề xuất các giải pháp bảo tồn và
khai thác bền vững chúng như là một nguồn tài nguyên sinh vật quý, có giá trị ở vùng
này.
2. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
- Điều tra thu thập, định danh và xác định vị trí phân bố của các loài nấm họ
Ganodermataceae ở khu vực Vườn quốc gia Chư Yang Sin (VQG CYS).
- Tìm hiểu một số đặc điểm sinh thái học của các loài thuộc họ họ nấm
Ganodermataceae ở VQG CYS.
- Đề xuất các giải pháp bảo tồn và sử dụng hợp lý các loài nấm thuộc họ
Ganodermataceae ở VQG CYS
2.2. Nội dung nghiên cứu
- Điều tra thu thập mẫu vật và xác định thành phần loài của họ Nấm
Ganodermataceae ở VQG CYS
- Xây dựng Danh lục các loài thuộc họ Nấm Ganodermataceae ở VQG CYS
- Tìm hiểu đặc trưng nơi sống của các loài thuộc họ Nấm Ganodermataceae ở
VQG CYS
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái của các loài thuộc họ Nấm
thái của nấm, màu sắc (tránh hiện tượng nấm bị chuyển màu khi bị tiếp xúc hoặc để lâu
trong thời gian dài), tọa độ điểm lấy mẫu, đặc điểm xung quanh nấm mọc, …
Sau khi đã hoàn tất công đoạn ghi chép, dùng dao nhọn nhẹ nhàng tách nấm ra
khỏi giá thể, khi tách cần lấy cả một mẩu gỗ nhỏ mà nấm sống trên đó (nếu là nấm phân
hủy gỗ)
Mỗi mẫu nấm sau khi thu sẽ được cho vào hộp đựng mẫu riêng hoặc gói riêng
trong tờ giấy bạc (không để chung mẫu để tránh các bào tử nấm lẫn lộn vào nhau) và
được đánh số thứ tự. Những mẫu nấm nhỏ sẽ được bảo quản trong hộp nhựa hoặc lọ thủy
tinh để tránh bị dập, gãy.
5
3.1.2.2. Phương pháp xử lý mẫu
Mẫu nấm sau khi thu thập sẽ được bảo quản ở nơi thoáng mát, phơi khô và được
bảo quản trong tủ lạnh hoặc sấy bằng máy sấy hoa quả ở nhiệt độ khoảng 400 oC- 450oC.
Khi mẫu khô, được chuyển sang bảo quản cùng gói hút ẩm
3.1.2.3. Phương pháp xử lý và phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm
Mẫu vật phân tích tốt nhất là mẫu tươi vừa được thu thập. Mẫu vật sẽ được phân
tích dựa trên đặc điểm hình thái, và chụp ảnh hoặc bẽ lại hình dáng, đặc điểm của mẫu
vật.
Sau đó đem mẫu đi soi kính hiển vi để nghiên cứu đặc điểm bảo tư của mẫu. Khi
đó kích thước các cấu trúc hiển vi quan sát được, cần phải chụp ảnh hoặc vẽ lại thông qua
kính hiển vi điện tử.
3.2. Phân chia sinh cảnh sống của các loài nấm lớn tại VQG CYS theo hệ thống phân
loại thảm thực vật của UNESCO 1973
Dựa trên ngoại mạo và cấu trúc thảm thực vật làm tiêu chuẩn.
3.3. Phương pháp xây dựng danh lục
Danh lục được định danh theo các tài liệu của Furtado (1962,1965), Teng (1964),
Steyaert (1972, 1980), Ryvanrden (1991, 2000), Trịnh Tam Kiệt (2011, 2012), Campac
Thiago Silva et al. (2009), Bhosle (2010), Pegler-Young (2012).
cấu tạo bằng kitin, Gluxit dự trữ dưới dạng Glucogen.
Với hệ thống phân loại nấm hiện nay cũng còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục thảo
luận. Theo Carl Vol Linne (1707 - 1778) chia nấm thành 10 chi gồm 86 loài. Sau đó tác
giả Elias Fries (1794 – 1878) chia nấm thành 4 lớp. Một trong những vấn đề mà các tác
giả quan tâm hiện nay là sự có mặt của ngành nấm nhầy trong hệ thống nấm. Vì ngành
nấm nhầy có những đặc điểm khá riêng biệt, chính vì thế một số tác giả hoặc là tách nó ra
khỏi hệ thống hoặc để nó trong hệ thống. Về các nhóm nấm còn lại có nhiều đề nghị phân
loại khác nhau cụ thể như sau :
Hệ thống của tác giả JA Vou Arx (1968) đề nghị chia giới nấm thành bảy lớp:
Chytridiomycetes,
Oomycetes,
Zygomycetes,
Endomycetes,
Ascomycetes,
Basidiomycetes, Deuteromycetes
Shaffer (1975) lại đưa ra một hệ thống giới nấm gồm ba ngành: Chytridiomycota,
Zygomycota và Dicarymycota (hai lớp Ascomycetes và Basidiomycete)
Bùi Xuân Đồng (1977) đưa ra hệ thống phân loại gồm hai ngành với các lớp phụ
như sau:
- Ngành nấm nhầy (Myxomycota):gồm bốn lớp.
-Ngành nấm (Mocota, Eumycota):gồm 5 lớp: Lớp nấm roi (Matisgomycetes):có ba
lớp phụ; Lớp nấm tiếp hợp (Zygomycetes): có hai lớp phụ; Lớp nấm túi (Ascomycetes):
có 5 lớp phụ; Lớp nấm đảm (Basdiomycetes): có 3 lớp phụ; Lớp bất toàn
(Deuteromycetes):có 3 lớp phụ.
Đường Hồng Dật (1979) dựa trên cơ sở phân loại nấm của các tác giả Liên Xô đã
7
chia nấm thành 5 lớp: Fungiimperjecti; Basidiomycetae (Gồm hai phân lớp);
Ascomycetae (Gồm hai phân lớp); Phycomycetae (Gồm hai phân lớp) và Archimycetae
vào nhánh còn một nhân ở lại gốc, còn hai nhân khác tính ở phần đầu của sợi. Sau đó
khuỷu cong xuống, hòa tan màng nhân đổ nội chất và nhân vào tế bào gốc đồng thời xuất
hiện vách ngăn với tế bào đỉnh. Kết quả là hình thành nên một tế bào song hạch mới. Như
vậy tế bào dưới tế bào đỉnh lại trở nên song hạch và vết tích còn lại như chiếc cầu của ổ
khoá nên được gọi là cầu nối, móc nối hay khoá. Sợi song hạch được tạo thành có khả
năng sinh trưởng vô hạn và hầu như chiếm toàn bộ đời sống của nấm. Trong những điều
kiện xác định thì các sợi song hạch này sẽ bện kết lại để tạo nên quả thể nấm với những
hình dạng, kích thước và cấu trúc rất đa dạng. Sau đó trên quả thể hình thành nên lớp sinh
sản, lớp này phần lớn bao gồm các tế bào song hạch hữu thụ (là tế bào mẹ của đảm về
sau). Các đảm có thể được sắp xếp thành dạng bờ dậu trên mặt giá thể (trường hợp các
nấm đảm không hình thành thể sinh sản trong chu trình sống) hay tập trung thành lớp sinh
sản – quả thể.
Tế bào mẹ của đảm (hymenia) tăng kích thước chứa đầy chất nguyên sinh, thường
có dạng chùy chuyển thành đảm non và diễn ra sự giao phối giữa hai nhân khác tính. Sau
khi phân chia hai lần, trong đó có một lần phân chia giảm nhiễm để cho bốn nhân con.
9
Lúc này, ở phần đỉnh của đảm mọc ra bốn mấu lồi, nội chất cũng như nhân từng chiếc
một đi qua mấu lồi, hình thành nên bốn bào tử đảm ngoại sinh bằng cách nảy chồi phình
lên và thắt dần lại. Phần kết nối giữa các đảm và bào tử đảm gọi là tiểu bính (sterigma)
hay gọi là cuống bào tử. Khi bào tử chín sẽ được phát tán chủ động vào không gian và lặp
lại chu trình sống.
4.2.2. Đảm và bào tử đảm
Đảm là tế bào đỉnh phình to lên của một số sợi nấm song nhân mọc ở phiến nấm
trong quả thể. Tế bào này gọi là nguyên đảm. Đảm là nơi diễn ra quá trình giảm phân để
hình thành nên các bào tử của nấm đảm và bào tử của đảm sẽ phát triển tại đó. Cấu trúc
của đảm (khi đã trưởng thành) dường như là được bảo tồn qua quá trình tiến hoá. Chính vì
thế sự tương đồng về hình thái học của đảm trong các Taxon chính được xem như những
chỉ định cho các mức độ quan hệ giữa những Taxon đó. Các dẫn liệu về hoá thạch của
như là một trong những yếu tố cơ bản khi bàn về chủng loại phát sinh của các nhóm nấm
đảm .
Quá trình hình thành đảm và bào tử đảm xảy ra như sau: Khi tế bào đầu sợi nấm
bắt đầu xảy ra quá trình phân chia, thì phần gốc tế bào này hình thành một ống nhỏ và hai
nhân khác tính phân chia độc lập với nhau để tạo thành bốn nhân con. Một nhân con sẽ
chuyển vào ống, một nhân khác chuyển về gốc tế bào và hai nhân khác tính sẽ chuyển lên
đỉnh tế bào. Tiếp đó hình thành nên hai vách ngăn ngang tạo ra 3 tế bào: tế bào đỉnh có
hai nhân khác tính, tế bào gốc 1 nhân và tế bào ống một nhân. Sau đó tế bào gốc và tế bào
ống hoà tan màng vào nhau để tạo thành tế bào có hai nhân khác tính. Tế bào đỉnh tiếp tục
phát triển thành đảm. Nghĩa là hai nhân khác tính kết hợp với nhau để tạo thành nhân
lưỡng bội, sau đó nhân lưỡng bội này phân chia tiếp hai lần, lần đầu giảm nhiễm, lần sau
nguyên nhiễm để tạo thành bốn nhân đơn bội. Song song với quá trình trên tế bào mẹ lớn
lên và hình thành nên bốn mấu lồi nhỏ, sau đó các nhân này chuyển vào các mấu lồi đó và
tạo thành bào tử đảm.
4.3. Hệ thống nấm đảm theo Trịnh Tam Kiệt (1980,1981)
Ngành nấm đảm Basidiomycota gồm 900 chi (+925 syn), 12.000 loài. Chia làm
các lớp sau :
4.3.1. Lớp Phragmobasidiomycetes (Gaum)
Có đảm hình thành từ bào tử nghỉ (promycelium) hay từ sợi nấm với vách ngăn
ngang hay vách ngăn dọc, chia làm hai lớp phụ :
Lớp phụ nấm đảm trần Teliomycetidae
Có đảm sinh bào tử màng dày, đảm có vách ngăn ngang, không hình thành quả thể.
Gồm có nấm rỉ và nấm than. Tổng cộng có 174 chi (+193), 6.000 loài. Nấm thường ký
sinh trên thực vật, gây bệnh nghiêm trọng cho thực vật. Lớp này có 3 Bộ: Bộ
Sporidiobolales, Bộ nấm rỉ (Uredinales) và Bộ nấm than (Ustilaginales )
Lớp phụ Phragmobasidiomycetidae
Đảm thường sinh ra trên sợi nấm và phân chia bởi vách ngăn nguyên thuỷ theo
chiều dọc hay ngang. Đã có sự hình thành quả thể. Gồm những nấm hoại sinh trên gỗ,
một số cộng sinh hay ký sinh. Gồm 49 chi (47syn) 475 loài chia làm 3 bộ: Bộ
Septobaridiales, Bộ Ngân nhĩ Tremellales và Bộ Mộc nhĩ Auriculariales
Trong số rất nhiều tên gọi khác nhau như Chi linh, Mộc chi linh, Linh chi…thì tên
Linh chi có lẽ là tiêu biểu và mang tính lịch sử cần giữ lại hơn cả, trong sách “Thần nông
bản thảo” cách đây hơn 2000 năm, tên này đã chính thức được sử dụng.
Ở nước ta Linh chi ngoài tự nhiên từ hàng ngàn năm nay vẫn còn là hoang dại và
đang ngày càng bị xói mòn nguồn gen quí hiếm trong thời mở của và tình trạng phá rừng
như hiện nay.
Trên thực tế nấm Linh chi có khá đa dạng về màu sắc cứ mỗi loại màu phải tương
12
ứng với vài loài. Bên cạnh đó các vùng sinh thái nước ta trải dài từ Bắc xuống Nam và
đặc biệt hơn khu vực Tây Nguyên có điều kiện khí hậu khác nhau ở các tiểu vùng từ đó
tạo nên nhiều vùng sinh thái khác nhau từ đó đã tạo nên tính đa dạng sinh học phong phú
ở các loài nấm nói chung và họ Ganoermataceae nói riêng. Trên cơ sở đó nguồn tài
nguyên về nấm của nước ta cần phải được phát triển để có thể so sánh với các nước trong
khu vực.
Ở khu vực châu Á cũng có một số nhà Nấm học như Patouillard, Teng, Trịnh Tam
Kiệt, Lê Xuân Thám, Lê Bá Dũng và gần đây Lai et al., Silva et al., Cao Yun et al.... đã
khảo cứu về khu hệ nấm trong khu vực châu Á.
Lịch sử hệ thống Họ Ganodermataceae Donk
Họ nấm Ganodermataceae (Nấm Linh chi) trước đây được xếp trong nhóm nấm
Nhiều lỗ (Polypore), cho đến năm 1933 vẫn duy trì trong Họ Polyporacease sensu lato.
Cách đây khoảng gần 50 năm họ Linh chi Ganodermataceae Donk (1948) đã được thừa
nhận tồn tại tự nhiên theo luật danh pháp.
Lịch sử nghiên cứu hệ thống tự nhiên của Họ Linh chi có thể nói là lịch sử nghiên
cứu cấu trúc bào tử đảm của chúng.
Từ 120 năm trở về trước, Kersten (1881) nhà Nấm học Phần Lan đã tách và xây
dựng chi nấm Ganoderma Karst từ các Nấm thành một chi độc lập theo kiểu bào tử đảm
có lớp vỏ kép hình trứng cụt, bề mặt sần sùi mục cóc nhỏ. Đây là bước tiến quan trọng
trong việc nghiên cứu và phân loại họ nấm Ganodermataceae. Từ đó những nhà nghiên
ra trước đó năm 1933 chính tác giả Donk cũng đã đề xuất phân họ Ganodermataceae và
cho rằng chúng có thể đưa lên thành một họ độc lập và sau đó một tác giả khác sử dụng
công nghệ cao hơn đã khảo sát tinh vi trên kính hiển vi điện tử quét (SEM) đã xác lập nên
2 chi nữa thuộc họ Ganodermataceae đó là Humphreya Stey, với 4 loài và Haddowia Stey
với vẻn vẹn 2 loài. Tuy nhiên, đây cũng là một bước ngoặc cho lịch sử hệ thống họ
Ganodermataceae Donk. Công trình của Steyaert năm (1972) sau thời gian dài (8 năm)
nhà nấm học Ryvarden và Johansen (1980) cũng đã nghiên cứu và tán đồng với Steyaert
về 2 chi mới này.
Từ trước đến nay hầu như chưa có tác giả nào vạch ra các quan hệ chủng loại phát
sinh và tiến hóa của Họ Ganodermataceae Donk, đặt biệt là quá trình tiến hóa cấu trúc bào
tử đảm. Tuy vậy những dẫn liệu của các tác giả hầu như đã thể hiện đầy đủ chẳng hạn
Steyaert (1972, 1977) đã xác lập 04 kiểu bảo từ đặc trưng cho bốn chi của Họ
Ganodermataceae Donk.
Năm 1996 Lê Xuân Thám và cộng sự đã nghiên cứu cấu trúc bào tử của
Ganoderma pseudoferreum, có cấu trúc màng mỏng ngăn ngang rãnh khía giống hệt với
kiểu cấu trúc khe dọc ở Haddowia longipes. Điều đó có thể thấy được mối liên hệ về cấu
trúc bào tử đảm, của Ganodema Karst và Haddowia Stey. Trên cơ sở đó chúng ta có thể
nhận định rằng chi Haddowia Stey đã tiến hóa từ một nhóm Ganodema nào đó có kiểu tế
bào tử đảm kiểu như Ganoderma pseudoferreum nghĩa là vừa mang các đặc trưng của
kiểu Ganoderma lại vừa mang các đặc điểm của kiểu dẫn xuất Haddowia hay nói một
cách hác Ganoderma pseudoferreum được xem là giai đoạn trung gian của sự phát sinh
của 2 chi Ganodema Karst và Haddowia Stey tiếp đến theo tác giả Lê Bá Dũng (2003)
nghiên cứu về thành phần loài của họ nấm Ganodermataceae cho rằng thành phần loài của
họ nấm này khá đang dạng về cấu trúc bào tử, bào tầng và hình dạng quả thể tuy vậy cấu
14
trúc bào tử được ổn định nhất ít biến đổi so với các đặc điểm khác khi điều kiện môi
trường thay đổi đây là đặc điểm quang trọng để phân loại. Đây cũng là thành tựu nghiên
cứu quan trọng của các tác giả có thể giúp cho các nhà khoa học nghiên cứu sau này kế
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (2007), Sách
Đỏ Việt Nam, Phần I. Thực vật, NXB KHCN, Hà Nội.
2. Lê Bá Dũng (2003), Nấm lớn Tây Nguyên, NXB KHKT, Hà Nội
3. Trịnh Tam Kiệt (1981), Nấm lớn Việt Nam, Tập 1, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ
thuật, Hà Nội.
4. Trịnh Tam Kiệt (1996), Danh lục nấm lớn Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp,
Hà Nội.
5. Trịnh Tam Kiệt và các tác giả (2001), Danh lục các loài thực vật Việt Nam (phần
Nấm), Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.
6. Lê Xuân Thám (2005), Nấm Linh chi, NXB KHKT, Hà Nội
7. Đỗ Hữu Thư (2010), Nghiên cứu ảnh hưởng của chất độc hoá học trong chiến
tranh đến khu hệ Nấm lớn vùng ngã ba biên giới thuộc các tỉnh Quảng Nam và
Kon Tum. Báo cáo chuyên đề trong đề tài độc lập cấp Nhà nước giai đoạn 20082010 “Nghiên cứu ảnh hưởng lâu dài của chất độc hoá học trong chiến tranh đến
môi trường và đa dạng sinh vật vùng ngã ba biên giới thuộc các tỉnh Quảng Nam
và Kon Tum”. Tài liệu lưu trữ tại Viện STTNSV
8. Đỗ Hữu Thư (2013), Sự đa dạng và bảo tồn các loài Nấm lớn ở Tây Nguyên. Báo
cáo chuyên đề đề tài cấp Nhà nước trong Chương trình Tây Nguyên 3 “Nghiên cứu
hai hệ sinh thái đặc thù vùng Tây Nguyên: Rừng kín thường xanh và Rừng khoọc
và đề xuất các giải pháp bảo tồn”. Tài liệu lưu trữ ở Viện STTNSV và Chương
trình Tây Nguyên.
9. Đỗ Hữu Thư, Nguyễn Phương Đại Nguyên, Lê Bá Dũng (2013), Đặc điểm các yếu
tố sinh thái và phân bố của họ nấm Ganodermataceae ở khu vực Tây Nguyên. Tạp
chí Sinh học, Tập 35, số 2, trang 198-205 năm 2013
10.
Đỗ Hữu Thư, Nguyễn Phương Đại Nguyên, Lê Bá Dũng (2013), Ghi nhận
ba loài mới thuộc họ Ganodermataceae Donk. bổ sung vào Danh mục nấm lớn Việt
Nam. Báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ 5
In: Evolutionary Genetics of Fungi (ed. by Jianping Xu) Norfolk, U. K.: Horizon
Bioscience
18