Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái học của loài râu hùm hoa tía (tacca chantrieri andre, 1901) ở trạm đa dạng sinh học mê linh - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ QUỲNH MAI

NGHIÊN CỨU M ỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI HỌC
CỦA LO ÀI RÂU HÙM HOA TÍA (TACCA C H A N TR IER I
A N D R E, 1901) Ở TRẠM ĐA DẠNG SINH HỌC M Ê LINH
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã sổ: 60 42 01 20

LUẬN VĂN THẠC s ĩ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Hà Minh Tâm

HÀ NỘI, 2015


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận đuợc sự chỉ bảo giúp đỡ
nhiệt tình, quý báu của các thầy cô, gia đình và bạn bè.
Qua đây tôi xin trân trọng bày tỏ lòng kính trọng, biết ơn sâu sắc tới
Ts.Hà Minh Tâm nguời đã huớng dẫn nhiệt tình, cung cấp kiến thức và
phuơng pháp, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình thực hiện
luận văn.
Đặc biệt xin chân thành cảm ơn ban Lãnh đạo, cán bộ và các anh chị
em tại Trạm Đa Dạng Sinh Học Mê Linh, đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá
trình điều tra thu thập số liệu, tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn một
cách tốt nhất,...
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các cán bộ phòng sau đại
học của Truờng ĐH su phạm Hà Nội 2 đã nhiệt tình giảng dạy và quan tâm

1.1. Ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái tới khả năng sinh trưởng và phát
triển của thực vật................................................................................................3
1.1.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ..........................................................................3
1.1.2. Ảnh hưởng của ánh sáng.........................................................................5
1.1.3. Ảnh hưởng của nước và độ ẩm .............................................................. 6
1.1.4. Ảnh hưởng của đất..................................................................................9
1.1.5. Ảnh hưởng của phân bón.......................................................................11
1.2. Các công trình nghiên cứu về loài Râu hùm hoa tía (Tacca chantrieri
Andre, 1901) trên thế giới và ở Việt N am ..................................................... 13
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u ............. 16
2.1. Đối tượng nghiên cứu...............................................................................16
2. 2. Phạm vi nghiên cứu.................................................................................16
2. 3. Thời gian nghiên cứ u..............................................................................21
2. 4. Nội dung nghiên cứu...............................................................................21
2. 5. Phương pháp nghiên cứu.........................................................................21
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u VÀ THẢO LUẬN........................... 24
3.1. Đặc điểm phân loại loài Râu hùm hoa tía ở Việt Nam........................... 24
3.1.1 Danh pháp và vị trí phân loại............................................................... 24
3.1.2. Đặc điểm hình thái.................................................................................24
3.1.3 Phân bố và sinh thái...............................................................................28
3.1.4 Giá trị tài nguyên.....................................................................................29


3.2. Ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến khả năng sinh trưởng và phát
triển................................................................................................................... 30
3.2.1. Khả năng sinh trưởng và phát triển của các cá thể hoang dại.............. 30
3.2.2. Ảnh hưởng của phân bón đến các cá thể được trồng............................31
3.2.2.1 Ảnh hưởng của phân bón đến tỉ lệ sống của cá thể............................ 31
3.2.2.2 Ảnh hưởng của phân bón đến khối lượng củ...................................... 33
3.2.2.3 Ảnh hưởng của phân bón đến thời gian ra hoa...................................35

Ảnh 3.4. Cụm q u ả............................................................................................27
Ảnh 3.5. Quả và hạt........................................................................................ 28


1

MỞ ĐẦU
Lí do chon đề tài:
*

Việt Nam là nước có hệ thực vật rất phong phú và đa dạng, số lượng
các loài được dùng làm thuốc tuy lớn nhưng chủ yếu là cây hoang dại, phân
bố rải rác và trữ lượng nhỏ, khả năng khai thác ngoài tự nhiên ngày một ít.
Trong khi đó, nhu cầu sử dụng dược liệu thực vật ngày càng tăng, vượt quá
khả năng tự tái sinh, cho nên, nếu không chủ động trồng trọt thì nguy cơ
tuyệt chủng các loài này là rất lớn.
Râu hùm hoa tía Ợacca chantrieri Andre, 1901) là cây thân thảo sống
lâu năm. Do có chứa một số hoạt chất sinh học có tác dụng thanh nhiệt, chống
viêm, chỉ thống, lương huyết, tán ứ... Cho nên loài này được thu hái nhiều ở
các tỉnh miền núi để làm thuốc trong dân gian. Cho đến nay, ở nước ta chưa
có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về các đặc điểm sinh
học, sinh thái, trữ lượng cũng như nhân giống, gây trồng loài này ở Việt Nam.
Từ thực tế nêu trên, tôi đã chọn đề tài: Nghiên cứu một số đặc điểm
sinh thái học của loài Râu hùm hoa tía (Tacca chantrieri Andre, 1901) ở
Trạm Đa dạng sinh học Mê Lỉnh.
Mục tiêu của đề tài: Đánh giá ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái
đến khả năng sinh trưởng và phát triển của loài Râu hùm hoa tía trong điều
kiện trồng tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh, nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu
cho việc bảo tồn và phát triển nguồn nguyên liệu cây thuốc ở Việt Nam.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:

sinh trưởng, ở nhiệt độ đó sự sinh trưởng của cây xảy ra thuận lợi nhất, trên
dưới nhiệt độ tối thích thì tốc độ sinh trưởng sẽ giảm. Nhiệt độ tối thấp và
nhiệt độ tối cao cho sự sinh trưởng của cây đó là điểm nhiệt độ mà ở đó cây
ngừng sinh trưởng. Giới hạn nhiệt độ sinh trưởng thay đổi theo sự thích nghi
của cây trồng ở những vùng sinh thái khác nhau.
Sinh trưởng của các cơ quan khác nhau của cây cũng nằm trong khoảng
nhiệt độ khác nhau. Những cơ quan ở trên mặt đất thích nghi với nhiệt độ
không khí cao hơn so với những cơ quan ở dưới mặt đất, vì vậy ở nhiệt độ cao
sự sinh trưởng của rễ kém hơn thân và cành. Nhiệt độ của đất cao làm tăng
tốc độ hút nước của rễ và làm tăng áp lực của rễ [15].
Sự chênh lệch nhiệt độ giữa ban ngày và ban đêm có ảnh hưởng rất lớn
đến sự sinh trưởng của cây. Ban ngày nhiệt độ cao thuận lợi cho cây quang
hợp và tích lũy chất hữu cơ, ban đêm nhiệt độ hạ thấp sẽ hạn chế hô hấp và
tiêu phí chất hữu cơ, giảm sự thoát hơi nước nên sinh trưởng nhanh hơn.
Nhiệt độ còn ảnh hưởng tói sự phát tán của hạt [15].
Nhiệt độ ảnh hưởng đến hình thái giải phẫu, đến sinh lý và từng giai đoạn
phát triển cá thể thực vật:
- Nhiệt độ ảnh hưởng tới hình thái giải phẫu của lá, sự biến đổi mầu của


4

rễ, độ dày vỏ thân, lóp cutin ở lá, sự rụng lá, tán lá...Tùy theo nơi sống có
nhiệt độ cao hay thấp mà cây hình thành nên những bộ phận bảo vệ. Ở những
nơi đất trống trải, cường độ ánh sáng mạnh và nhiệt dộ cao cây thích nghi
theo hướng chống nóng và chống thoát hơi nước.
- Nhiệt độ ảnh hưởng đến hoạt động sinh lý của thực vật gồm quang
họp, hô hấp, thoát hơi nước, sự hình thành và hoạt động của diệp lục.
- Nhiệt độ ảnh hưởng tới các giai đoạn phát triển của cá thể thực vật
như thời kì hạt nảy mầm, ra hoa, quả chín. Khả năng chịu đựng nhiệt độ bất

vật. Cường độ ánh sáng cao thích họp cho nhiều loại cây ưa sáng trồng hàng
năm, thân cây không cao, nhiều cành, nhánh, lá, hoa và quả. Cường độ ánh
sáng cao làm tăng sự thoat hơi nước, cây hấp thụ nhiều chất vô cơ, quang họp
mạnh, tích lũy vật chất nhanh. Cường độ ánh sáng ở trong nước giảm theo cấp
số nhân 2, 4,8 trong khi độ sâu tăng 1, 2, 3 lần [16].
Ánh sáng ảnh hưởng đến sự nảy mầm của hạt, có loại cần ánh sáng khi
nảy mầm (phi lao,thuốc lá, lúa...) và loại không cần ánh sáng (cà độc dược).
Ánh sáng còn ảnh hưởng đến hình thái cây, thể hiện ở tính hướng sáng,
khả năng tăng trưởng chiều cao, hình thái loại cây, vỏ thân, sự phân cành, tán
lá, số cành, góc tạo bởi giữa thân và cành...
Với lá cây ánh sáng ảnh hưởng tới sự sắp xếp lá, để tiếp nhận được ánh
sáng nhiều nhất. Cây sinh trưởng trong điều kiện ánh sáng yếu thì lượng diệp
lục trong lá cao hơn cây ở nơi có ánh sáng mạnh để tăng cường tiếp nhận ánh
sáng, quang họp, tạo chất hữu cơ [18].
Tùy theo nhu cầu ánh sáng đối với sự sinh trưởng của cây mà người ta
chia thực vật thành hai nhóm là cây ưa sáng và cây ưa bóng. Cây ưa sáng sinh
trưởng mạnh trong điều kiện ánh sáng đầy đủ, còn cây ưa bóng sinh trưởng


6

tốt trong điều kiện bóng râm thích họp. Đại bộ phận cây trồng ở nước ta là
cây ưa sáng như lúa, ngô, khoai, sắn, mía, bông.... Còn những cây ưa bóng
thường phân bố dưới tán cây rừng, dưới tán cây ăn quả lâu năm, chúng sử
dụng chủ yếu ánh sáng tán xạ để quang họp [18].
Đối vói các loài hoa, nếu thiếu ánh sáng cây sẽ chậm lớn, lá xanh nhạt,
mềm yếu, nếu trong điều kiện thừa sáng lá cây chuyển màu xanh vàng, cây
kém phát triển [16].
Ánh sáng tác động trực tiếp đến sự sinh trưởng của tế bào. Cường độ
ánh sáng mạnh ức chế pha giãn của tế bào làm cho giai đoạn này kết thúc sớm

dẫn đến làm giảm sự sinh trưởng của cây. Hạt giống phơi khô là một ví dụ
điển hình khi hàm lượng nước chỉ còn 10-12% trọng lượng khô của hạt thì hạt
chuyển sang trạng thái ngừng sinh trưởng. Nếu hạt giống hút nước và lượng
nước đạt 50-60% lượng nước bão hòa thì sự sinh trưởng lại phục hồi và hạt
nảy mầm. Trong quá trình sinh trưởng của cây, ở giai đoạn giãn của tế bào
nước đóng vai trò vô cùng quan trọng. Trong đòi sống của cây, thiếu nước ở
giai đoạn nào cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng, nhưng trong pha lớn lên của tế
bào nếu thiếu nước thì sự sinh trưởng bị kìm hãm mạnh [15].
Nước là dung môi: Rất nhiều chất trong môi trường phải tan trong nước
mới xâm nhập được vào cây tất cả các phản ứng hoá học trong cây đều phải
tiến hành ở trạng thái tan trong nước. Khi cây hút nước ít thì đạm, kim... hút
vào cũng giảm. Đại bộ phận nước trong cây được thoát ra ngoài qua lá, sự lưu
thông này của nước càng nhiều thì hoạt động sinh lý càng mạnh [16],
Ẩm độ của không khí và ẩm độ đất ảnh hưởng nhiều đến sự sinh trưởng và
phát triển của cây. Ẩm độ thích hợp thì cây hoa sinh trưởng, phát triển tốt, ít
sâu bệnh, ra hoa đẹp, chất lượng cao [16],
Nước điều tiết nhiệt trong cây khi cây thoát hơi nước làm mất nhiệt
lượng trong cây do đó nước điều hoà nhiệt lượng cho cây khi trời nắng nóng.


8

Nước đóng vai trò rất quan trọng trong cơ thể thực vật, trong phân chia tếbào,
trong duy trì và phát triển của tế bào. Khi có đầy đủ nước và môi trường thích
hợp, tế bào phân chia và phát triển thuận lợi, cây sinh trưởng nhanh. Khi thiếu
nước, các quá trình sinh lý, sinh hoá trong cây hoa giảm, các họp chất hữu cơ
được tạo thành ít, cây còi cọc, chậm phát triển. Nếu quá trình thiếu nước kéo
dài cây hoa sẽ bị héo, khô và chết [16].
Sự phân bố nước không đồng đều trên cạn đã tạo ra các nhóm thực vật có
những đặc điểm thích nghi khác nhau với chế độ nước. Tính chất giới hạn của

chua... [18].
Đặc tính lý hóa học của đất được coi là các yếu tố thổ nhưỡng và nó
tác động rất đa dạng đối với sinh vật đất, đặc biệt đối vớí thực vật có hệ
rễ ở trong đất. Ảnh hưởng có tính quyết định của đất là sự phân tầng, cấu
trúc và thành phần của đất.
Trong các thành phần đất, nước và cây trồng của hệ sinh thái nông
nghiệp, đất là thành phần khó thay đổi nhất, nước là thành phần có thể thay
đổi một phần và cây trồng thì con người có thể thay đổi dễ dàng. Sự lưu giữ
nước trong đất cho cây trồng tuỳ thuộc vào thành phần hạt đất, đất có độ rỗng
càng cao thì khả năng trữ nước càng kém do dễ dàng bị tiêu thoát như trường
hợp đất cát. Đất sét thường giữ nước tốt nhưng tiêu thoát kém. Đất thịt là loại
đất pha trộn giữa đất bùn và đất cát tỏ ra thích hợp cho nhiều loại cây trồng
nhờ khả năng cung cấp nước thuận lợi.
Các chất khoáng trong đất và độ pH ở dạng hòa tan hay liên kết, có
loại đa lượng, cây cần nhiều, như c , H, o , N, s, p, ...; có loại vi lượng, đó
là những loại mà cây cần ít, nhưng nếu thiếu chúng thì thực vật sinh
trưởng và phát triển sẽ không bình thường, gồm các nguyên tố Mn, Cu, Zn,


10

Bo, Mo,... Độ pH ảnh hưởng lên cấu trúc của đất, quá trình phong hoá, mùn
hoá và từ đó ảnh hưởng đến sinh vật.
Chế độ ẩm, độ thông khí và nhiệt độ cùng với cấu trúc của lớp đất
mặt đã ảnh hưởng đến sự phân bố các loại cây và hệ rễ của chúng. Hệ rễ của
những cây gỗ ở những vùng bị đóng băng phân bố nông và rộng. Những
nơi không có sự đóng băng thì hệ rễ vừa ăn sâu và phát triển nhiều rễ ở lớp
đất mặt để hút các chất. Ở vùng núi đá vôi, do thiếu chất dinh dưỡng và thể
nền rất cứng, nên rễ các cây gỗ đã len lỏi vào các khe hở, vách đá, hay ôm
chặt lấy các tảng đá lớn. Các rễ này tiết ra axit hòa tan đá vôi để lấy một phần

không thể trồng được cây thuốc. Ở đất chua cây mọc được nhưng thiếu vôi bộ
rễ phát triển kém. Đối với cây thuốc độ pH có vai trò nhất định, có loài cây ưa
axit, có loại ưa đất kiềm. [17].
1.1.5. Ảnh hưởng của phân bón
Năng suất cây trồng nói chung phụ thuộc vào tác dụng tổng họp của 4
yếu tố ánh sáng, nhiệt độ, nước và dinh dưỡng. Trong điều kiện sản xuất, việc
điều khiển các yếu tố nước và dinh dưỡng dễ hơn nhiều các yếu tố khác, trong
đó điều chỉnh dinh dưỡng là yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất, chất
lượng và sức chống chịu của cây trồng. Nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy
rằng: mức tăng năng suất cây trồng có mối quan hệ rất chặt chẽ với số lượng,
chủng loại và cách sử dụng các loại phân bón trong canh tác [16].
Đối với cây trồng phân bón cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho
cây trồng sinh trưởng phát triển. Nếu chỉ lấy từ đất thì cây trồng hoàn toàn
không đủ chất dinh dưỡng mà phải lấy thêm phần lớn từ phân bón. Phân bón
chính là thức ăn nuôi sống cây trồng. Điều tra tổng kết ở khắp nơi trên thế
giới đều cho thấy trong số các biện pháp kỹ thuật trồng trọt, bón phân luôn là
biện pháp có ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất cây trồng.


12

Đối với đất và môi trường: Bón phân làm tăng độ phì nhiêu cho đất, đất
tốt hon, cân đối hơn, đặc biệt phân hữu cơ và vôi là biện pháp cải tạo đất rất
hữu hiệu. Ở những đất có độ phì nhiêu tự nhiên ban đầu thấp, tức là đất xấu
thì việc bón phân càng có tác dụng rõ. Việc sử dụng các chất phế thải trong
các hoạt động đời sống vủa người và động vật, chất phế thải của công nghiệp
để làm phân bón góp phần hạn chế các tác nhân gây ô nhiễm môi trường.
Đối với hệ thống biện pháp kỹ thuật trồng trọt: Sử dụng phân bón có
liên quan đến hiệu lực của các biện pháp kỹ thuật khác. Ví dụ:sử dụng giống
mới cần kết họp với bón phân họp lý và đầy đủ. Ngược lại, các biện pháp kỹ

Malesiana; Ling Ping-Ping (1985) [33], z. Y. Wu & al. (2000) [31] xây dựng
bản mô tả, cung cấp thông tin về phân bố, sinh thái và giá trị sử dụng loài Râu
hùm hoa tía ở ở Trung Quốc; Chamlong Phengklai (1993) [27] xây dựng bản
mô tả, cung cấp thông tin về phân bố, sinh thái và giá trị sử dụng loài Râu
hùm hoa tía ở ở Thái Lan; Lemmens & Bunyapraphatsara (2003) [29] cung
cấp một số thông tin về phân bố, sinh thái và giá trị sử dụng ở khu vực Đông
Nam Á ...
Ở Việt Nam, các công trình đề cập đến đặc điểm sinh thái học cá thể
loài Râu hùm hoa tía chủ yếu là các công trình nghiên cứu về cây thuốc, nhu:
Chu Tiên biên soạn cuốn sách “Bản thảo cương mục toàn yếu ” là cuốn sách
đầu tiên, xuất bản năm 1429; Tuệ Tĩnh, tên thực là Nguyễn Bá Tĩnh (vào thế
kỷ XIV) đã biên soạn bộ “Nam dược thần hiệu ’’ gồm 11 quyển vói 496 vị
thuốc nam, trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc thực vật,...[19],
Năm 1980, Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chuông đã giói thiệu 519 loài cây
thuốc, trong đó có 150 loài mới phát hiện trong “Số tay cây thuốc Việt
Nam”,... [20],


14

Viện Dược liệu cùng với hệ thống trạm nghiên cứu dược liệu, điều tra ở
2.795 xã, phường, thuộc 351 huyện, thị xã của 47 tỉnh, thành phố trong cả
nước, đã có những đóng góp đáng kể trong các điều tra sưu tầm nguồn tài
nguyên cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc trong Y học cổ truyền
dân gian. Kết quả được đúc kết trong "Danh lục cây thuốc miền Bẳc Việt
Nam’’, “Danh lục cây thuốc Việt Nam’’, tập ‘‘Atlas (bản đồ) cây thuốc”,...
[ 21].

Năm 1976, trong luận văn PTS. khoa học của mình, Võ Văn Chi đã
thống kê 1.360 loài cây thuốc thuộc 192 họ trong ngành hạt kín ở miền Bắc.

trong đó có loài Râu hùm hoa tía; tương tự là công trình của Trịnh Xuân
Thành (2014) [18] nghiên cứu nhân giống một số loài tại Trạm Đa dạng sinh
học Mê Linh. Nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến cây
thuốc ở khu vực Xuân Hòa có công trình của Đặng Ngọc Diệp (2014) [5].
Các công trình nêu trên đã cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng cho việc nghiên
cứu về loài Râu hùm hoa tía và các hướng nghiên cứu có hên quan.
Như vậy, công trình Nghiên cứu một sổ đặc điểm sinh thái học của loài
Râu hùm hoa tía (Tacca chantrieri Andre, 1901) ở Trạm Đa dạng sinh học
Mê Linh của chúng tôi là công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về đặc điểm sinh
thái học loài này ở Việt Nam.


16

CHƯƠNG 2. ĐỔI TƯỢNG YÀPHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
2.1. Đốỉ tượng nghiên cứu
Tài liệu: Các tài liệu về loài Râu hùm hoa tía (Tacca chantrierì Andre,
1901), nhất là các chuyên khảo về sinh trưởng, phát triển và môi trường sống.
Mau vật: Các cá thể thuộc loài Râu hùm hoa tía được trồng tại Trạm Đa
dạng sinh học Mê Linh; các cá thể và quần thể thuộc loài Râu hùm hoa tía
trong quá trình điều tra thực địa.

Hình 2.1: Bản đồ thị xã Phúc Yên và vị trí Trạm ĐDSH Mê Lỉnh - Vĩnh Phúc
2.2. Phạm vỉ nghiên cứu
Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc và
các vùng phụ cận của Vườn quốc gia Tam Đảo, có Đặc điểm tự nhiên và xã
hội như sau: (theo Vũ Xuân Phương & al. 2001 [16])


17

- Nhiệt độ bình quân năm: 23,91 (trung bình mùa Hè 27-29°C, mùa
Đông 16-17°C)
- Nhiệt độ tối cao tương đối (cao nhất): 41,5°c
- Lượng mưa bình quân năm: 1358,7 mm. Mùa mưa từ tháng 4 đến
tháng 10, chiếm 90% lượng mưa cả năm. Mưa tập trung vào các
tháng 6-9 (cao nhất là vào tháng 8).
- Số ngày mưa: 142,5 ngày/năm
- Lượng mưa cực đại trong ngày: 284 mm
- Độ ẩm trung bình: 83 %
- Độ ẩm cực tiểu (thấp nhất): 14 %
Lượng bốc hơi: 1040,1 mm
Thuỷ văn: Khu vực nghiên cứu có một suối nhỏ nước chảy quanh năm
bắt nguồn từ điểm cực Bắc, chảy dọc biên giới phía Tây giáp với Vườn quốc
gia Tam Đảo và gặp suối Thanh Lộc đổ vào hồ Đại Lải. Ngoài ra còn có một
số suối cạn ngắn chỉ có nước sau những trận mưa.
Điều kiện kinh tế - xã hội: Khu vực nghiên cứu nằm trên địa bàn xã
Ngọc Thanh với diện tích đất lâm nghiệp chiếm 51,8% tổng diện tích tự nhiên
của toàn xã. Mật độ dân số của xã là 139 người/km2, dân tộc kinh chiếm 53%,
dân tộc thiểu số chiếm 47%. Thu nhập bình quân đầu người của xã là 3 triệu
đồng/người/năm.
Trong khu vực nghiên cứu không có người dân sinh sống, tuy nhiên do
tập quán của người dân quanh vùng nên rừng trong khu vực nghiên cứu vẫn
chịu những tác động tiêu cực như: Thả gia súc sau mùa vụ, lấy củi, lấy măng
và khai thác lâm sản ngoài gỗ.
Những năm gần đây do có sự đổi mới các chính sách về kinh tế, xã hội
của Nhà nước nên đã có những tác động tích cực đến đòi sống của nhân



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status