1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
______________ TRẦN TUẤN KHA
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI
HỌC CÁC LOÀI THUỘC BỘ NẤM LỖ POLYPORALES) LÀM CƠ
SỞ CHO CÔNG TÁC BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC NẤM LỚN Ở
VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ
Chuyên ngành: Lâm sinh
Mã số:62.62.0205 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ LÂM NGHIỆP
Phản biện 3: Luận án được bảo vệ tại Hội đồng đánh giá luận án
cấp Trường
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
Vào hồi ngày tháng năm 2015 Có thể tìm hiểu luận án tại
-Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Trường Đại học Lâm nghiệp.
1
luỹ và hút các chất độc trong không khí và đất như Hg, Cd, As, Ag, Ni, Cr còn mạnh
hơn cả thực vật (Zhou Qixing, 2008)
Hầu hết các nhà nấm học đều cho rằng muốn phát hiện các loài mới, muốn tìm
các giá trị của nấm Lớn nói chung, nấm Lỗ nói riệng chỉ có thể nghiên cứu ở các nước
Nhiệt đới, trong đó có Việt Nam (He Shanghui, 2010 )
Về nghiên cứu thành phần loài, những năm gần đây nhiều nhà nấm học đều ủng
hộ quan điểm phân loại của Hibbett và M.C. Aime (2006) trong cuốn "Kingdom Fungi"
mà Paul M. Kirk, Paul F. Cannon, J.A. Stalpers biên soạn trong cuốn " Từ điển Nấm"
(Dictionary of the Fungi) xuất bản lần thứ 10 năm 2008 và đã được Trung tâm Thông tin
công nghệ sinh học Quốc tế (NCBI, National Center for Biotechnical Information ) công
bố năm 2012 .
Hiện nay ở nước ta chưa một nhà nghiên cứu nào đề cập đến việc xác định thành
phần loài và đặc điểm sinh thái nhằm bảo tồn đa dạng sinh học các loài nấm Lớn nói
chung, nấm Lỗ nói riệng theo hệ thống phân loại mới.
Xuất phát từ những lý do trên tác giả thực hiện đề tài: " Nghiên cứu thành phần
loài và đặc điểm sinh thái học các loài thuộc bộ nấm Lỗ (Polyporales) làm cơ sở cho
công tác bảo tồn đa dạng sinh học nấm Lớn ở vườn Quốc gia Ba Vì."
2 2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Thông qua điều tra và xác định các loài nấm Lỗ hiện có cung cấp các thông tin
cần thiết liên quan đến thành phần loài, đặc điểm sinh thái học nhằm đề xuất một số giải
pháp bảo tồn đa dạng sinh học nấm Lớn tại khu vực nghiên cứu nói riêng và các khu bảo
tồn ở Việt Nam nói chung.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Xác định các loài nấm Lỗ tại khu vực nghiên cứu
- Xác đinh thành phần loài nấm Lỗ theo hệ thống phân loại của Kirk P.M,Cannon
PF, Minter DW,Stalpers JA trong "Từ điển Nấm học" Xuất bản lần thứ 10,2008 (Kirk
các lớp, ngành và giới nấm.
- Luận án cũng đã thống kê tác dụng đa dạng của các loài nấm hiện có tại khu vực
nghiên cứu như những loài ăn được, những loài làm thuốc chữa bệnh, những loài kháng
ung thư và những loài phân giải gỗ mạnh. Đặc biệt ở khu vực nghiên cứu có những loài
nấm diệt tuyến trùng hại thông và phân giải dioxin nhằm cung cấp thông tin cho những
nghiên cứu tiếp theo.
3 - Lập được danh sách 33 loài nấm cần được ưu tiên bảo tồn.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của luận án sẽ cung cấp cho người nông dân biết chăm sóc, bảo vệ rừng,
tạo môi trường cho nấm có ích phát triển phát huy được chức năng bảo vệ rừng, làm giàu
rừng và phát triển bền vững rừng trên cơ sở sinh thái học nấm Lớn nói chung và nấm Lỗ
nói riêng
Giúp người nông dân, các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu bảo tồn, nuôi trồng, phát
triển các loài nấm có ích, làm tăng thu nhập, góp phần bảo vệ môi trường, nâng cao sức
khoẻ công đồng .
4.3. Những đóng góp mới của luận án
-Luận án là công trình đầu tiên được công bố về số loài nấm Lỗ tại một vườn Quốc
gia trên miền Bắc Việt Nam. Trong đó có 15 loài được công bố đầu tiên ở khu vực
nghiên cứu.
-Luận án lần đầu tiên xây dựng danh lục theo hệ thống phân loại mới công bố trên thế giới:
"Từ điển Nấm, The Dictionary of Fungi" xuất bản lần thứ 10 công bố năm 2008 .
- Luận án đã cung cấp nhiều dẫn liệu khoa học mới về đặc điểm sinh thái học của
một số loài nấm Lỗ hiện có trên khu vực nghiên cứu nói riêng và một số vườn Quốc gia
có các loài nấm phân bố nói chung.
- Luận án đã lần đầu tiên ở Việt Nam sử dụng các công thức toán học về sai dị, chỉ
số phong phú, chỉ số đồng đếu, chỉ số đa dạng để xác định sự đa dạng sinh học nấm Lỗ .
-Luận án đã lần đầu tiên cung cấp thông tin về một số loài nấm Lỗ hiện có ở Ba Vì
Theo Mao Xiaolan (2000) Trung Quốc có khoảng 6000 loài, số loài đã biết có gần
2000 loài. Phần lớn chúng thuộc các loài nấm Lỗ. Tại Ấn Độ, nhiều nhà nấm học đã
nghiên cứu về nấm Lỗ ở một số vùng khác nhau như Radariv et al đã nghiên cứu phát
hiện 256 loài nấm Lỗ ở Tây Ghats bang Maharashtra Trong danh lục nấm Lỗ Israel,
Daniel Tura (2010) và cộng sự đã ghi chép được 242 loài thuộc 11 chi. Trong rừng mưa
nhiệt đới Brazil năm 2002, Tatiana B. Gibertoni cũng thông báo về số loài nấm Lỗ mọc
trong rừng trên các dạng khác nhau như trên gỗ, trên cây sống, trên đất Tại Litva một
số tác giả đã nghiên cứu thành phần loài nấm Lớn và nấm Nhầy, năm 2013 công bố 326
loài nấm Lớn tại vườn Asveja Regional (Lithuania).
Năm 2013 Roy Halling, vườn Thực vật New York Mỹ đã phát hiện nhiều loài
nấm Nhiệt đới và Cận nhiệt đới ở Indonesia, Malaysia, Papua New Guinea và Thái lan.
Ông đã lần đầu tiên phát hiện ở Costa Rica, Brazil và Australia; nhà nấm học cây rừng
Nhật Bản Tiến sỹ Tsutomu Hattori đã nghiên cứu nấm Lỗ ở các nước Nhật Bản, Trung
Quốc, Malaysia và Thái lan; Nakason K.K đã công bố một số loài thuộc chi Epithele
( Polyporales) ở Thái Lan và một số nước khác như Côngô, Nam Phi và Đài Loan.Đăc
biệt những năm gần đây các nhà nấm học tập trung viêc phân loại nấm Linh chi
Ganoderma ở các nước nhiệt đới. Mabel Gisela Torres-Torres & Laura Guzmán-Dávalos
(2013) đã điếu tra phân loại nấm ở Thái Lan, Malaysia, Singapor và công bố 33 loài mới.
Về đặc điểm sinh thái bộ nấm Lỗ đã được nghiên cứu nhiều vào thập kỷ 90 của
thế kỷ 20. Zong Wu (2009) đã đề cập đến phân bố địa lí của nấm Lỗ mọc trên gỗ.Theo
tác giả vùng nhiệt đới có 66 loài, chiếm 66%; vùng Cận nhiệt đới (Á nhiệt đới)có 25 loài
chiếm 25%, vùng Ôn đới chỉ có 5 loài.Wei Yulian (2004) đã kết luận nấm mục gỗ có tác
dụng không thể thay thế được trong các khâu tuần hoàn vật chất của hệ sinh thái rừng,
làm tăng tính đa dạng của hệ sinh thái, làm giàu rừng.
Về mối quan hệ nấm Lỗ với các sinh vật khác, con người và môi trường nhiều tác
giả đề cập đến quan hệ với côn trùng, tác dụng diệt tuyến trùng của nấm Lỗ, tác dụng
chữa bệnh và kháng ung thư của nấm Lỗ.
Chất dioxin được nghiên cứu vào thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Đó là một chất độc
mạnh có thể chảy theo dòng sông, biển, không khí, đất, tác hại đối với người và ô nhiễm
môi trường rất nghiêm trọng.Theo thông báo của Xu Jingtai (2010) ngày nay đã bắt đầu
o
07 độ Vĩ
Bắc , 105o18-105
o
25 độ Kinh Đông. Tổng diện tích quản lý là 7.377ha, theo Quyết định
thành lập số 17-CT ngày 16/01/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính
phủ) và Quyết định số 407 – CT ngày 18/12/1991 về việc đổi tên thành Vườn quốc gia
Ba Vì và giao Bộ Lâm nghiệp quản lý.
b. Địa hình
Ba Vì là một vùng núi trung bình, núi thấp và đồi nối tiếp bán sơn địa.
c. Đặc điểm khí hậu thủy văn
+ Đặc điểm khí hậu
Khu vục Ba Vì 21
o
Vĩ Bắc, chịu tác động của cơ chế gió mùa. Tác động phối hợp
của vĩ độ và gió mùa tạo nên loại khí hậu nhiệt đới ẩm với một mùa đông khô lạnh.
0
50
100
150
200
250
300
350
400
450
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Tháng
Lượng mưa
2T(tb)
2.1. Nội dung nghiên cứu
Để đáp ứng mục tiêu đề ra, đề tài nghiên cứu bao gồm các nội dung sau:
2.1.1. Thành phần loài bộ nấm Lỗ ở khu vực nghiên cứu
- Điều tra, thu thập mẫu, xác định tên từng mẫu nấm thông qua đặc điểm hình thái,
kết cấu hiển vi và các tài liệu chuyên khảo về phân loại nấm Lớn trong và ngoài nước.
- Lập danh lục nấm theo hệ thống phân loại mới của Kirk "Từ điển Nấm học"
(2008) (Kirk PM, Cannon PF, Minter DW, Stalpers JA. . (2008) Dictionary of the Fungi.
10th. Wallingford: CABI.)
- Mô tả 15 loài mới phát hiện ở khu vực nghiên cứu
- Thống kê số loài theo các chi, họ thuộc bộ nấm Lỗ.
2.1.2.Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái nấm Lỗ theo các yếu tố phi sinh vật và
sinh vật
1) Các yếu tố phi sinh vật bao gồm phân bố địa lý, địa hình (độ cao so mặt biển)
số lần gặp, mùa mọc Các yếu tố sinh vật bao gồm : khả năng ký sinh của nấm Lỗ, khả
năng chọn lọc cây chủ của nấm Lỗ, mối quan hệ giữa nấm Lỗ với các loài cây chủ, kiểu
rừng, trạng thái rừng và các loài côn trùng
2) Bước đầu nghiên cứu diễn thế quần xã của nấm Lỗ
3) Nghiên cứu một số chức năng của nấm Lỗ nhằm đề xuất danh lục nấm Lõ cần
được bảo tồn
2.1.3. Đề xuất các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học nấm Lõ ở Vườn QGBV.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp kế thừa
Chủ yếu là thu thập và sử dụng các thông tin tư liệu trong và ngoài nước về các
vấn đề cần nghiên cứu bao gồm trên 30 tài liệu phân loại nấm Lớn nói chung và nấm Lỗ
nói riêng từ năm 2000 đến nay
2.2.2. Phương pháp điều tra
Tuân thủ phương pháp điều tra sâu bệnh hại cây rừng cũng như phương pháp điều
tra tài nguyên bao gồm công tác chuẩn bị, ngoại nghiệp và nội nghiệp.Mô tả đặc điểm
của các tuyến điều tra và ô tiêu chuẩn.
hành tính toán theo phương pháp so sánh các mẫu quan sát, tính toán sai dị
theo phương pháp thống kê toán học ứng dụng trong lâm nghiệp của Ngô Kim
Khôi và CS (2001) [13] :
- Điều kiện: + Tổng thể chuẩn (hoặc n 30)
+ Phương sai biết trước.
- Công thức tính tiêu chuẩn U:
2
2
2
1
2
1
21
nn
XX
U
2
2/1
2
2/1
S (01)
trong đó:
X
1
; X
)05,0(96,1
0
HU
Hai số trung bình có sự khác nhau rõ rệt
với mức độ tin cậy là 95%.
Trường hợp )05,0(96,1
0
HU Hai số trung bình không có sự khác
nhau với mức độ tin cậy là 95%.
8 1. Chỉ số phong phú Margalef d
d = (S-1)/lnN (02)
Trong đó, S là tổng số loài thu được, N tổng số cá thể thu được
2. Chỉ số đồng đều Pielous (J):
J = H′/ lnS.; (03)
3. Chỉ số đa dạng sinh học loài Shannon and Weiner (1963)
H′= - ∑S
i
; (i = 1 đến s) (04)
S
i
= (ni/ N) log2(ni/ N)
Polyporaceae
20
45
Ganodermataceae
2
39
Phanerochaetaceae
3
10
Fomitopsidaceae
8
9
Meruliac
eae
6
8
điểm như sau:
Nếu so sánh với kết quả điều tra khu hệ nấm Lớn khu bảo tồn thiên nhiên Nam
Lĩnh, Quảng Đông,Khu bảo tồn thiên nhiên Cửu Liên Sơn, Giang Tây (TQ, Khu bảo tồn
thiên nhiên Núi thông (Bắc Kinh) Tây Ghats bang Maharashtra Ấn Độ,danh lục nấm Lỗ
Israel và một số khu vực trong nước như:Thanh - Nghệ - Tỉnh,Tây Ninh, Thừa Thiên
Huế vườn Quốc gia Cúc Phương, chúng tôi nhận thấy nấm Lỗ ở Vườn Quốc gia Ba Vì
cũng rất phong phú và đa dạng.
Sơ đồ vị trí phân loại nấm Lỗ (POLYPORALES)
Giới nấm (Fungi)
Ngành nấm Đảm ( Basidiomycota)
Lớp nấm Tán ( Agaricomycetes)
Lớp phụ nấm Tán (Agaricomycetidae)
Bộ nấm Lỗ (Polyporales) [117] Polypolaceae [45] Fomitopsidaceae [9] Ganodermataceae [39]
Meruliaceae [8] Meripilaceae [6]Phanerochaetaceae [10]
Hình 3.1. Vị trí phân loại nấm Lỗ ở vườn QGBV
3.1.5. Phân bố cá thể loài theo hệ thống phân loại
Chứng được thể hiện ở bảng 3.2.
Bảng 3.2. Số thể quả các loài nấm thuộc bộ nấm Lỗ
Các h
ọ
S
39469
10,82
Meripilaceae
6
389
8,99
Fomitopsidaceae
9
154
3,54
Meruliaceae
8
127
Fomitopsidaceae thường phân bố ở trên đai núi vừa, các họ Meripilaceae, Meruliaceae,
Phanerochaetaceae lại thường phân bố ở trên đai độ cao núi thấp.
3.1.6. Đặc điể
m m
ộ
t só loài n
ấ
m m
ớ
i phát hi
ệ
n trong b
ộ
n
ấ
m L
ỗ
ở
khu v
ự
c nghiên c
ứ
u
Từ danh lục các loài nấm Lớn ở Việt Nam đã được Trịnh Tam Kiệt công bố năm
2014, có 13 loài nấm Lỗ chưa được đề cập đến và đã được mô tả trong luận án theo
những đặc điểm hình thái và kết câu hiển vi phân bố và công dụng.
3.1.7. Đặc điểm hình thái và kết cấu hiển vi của nấm Lỗ
Đặc điểm hình thái và kết cấu hiển vi của nấm Lỗ là căn cứ chủ yếu để phân loại.
Từ 117 loài trong danh lục nấm, có thể thống kê về đặc điểm hình thái và kết cấu hiển vi
Sống nhiều năm 13 11,11
Bảng trên chứng tỏ hầu hết nấm Lỗ vườn QGBV không cuống, hình bán nguyệt, chất
bần và sống 1 năm. Nguyên nhân của sự khác nhau đó là do đa số chúng là những loài
nấm hoại sinh thích nghi với cành khô và một ít cây đổ nhằm bảo tồn nòi giống.
3.1.7.2. Đặc điểm kết cấu hiển vi của nấm Lỗ
11 Thống kê số hệ sợi, sợi sinh sản có khoá, không khoá và hình thái bào tử của nấm
lỗ được thể hiện ở bảng 3-8 :
Bảng trên chứng tỏ: trong các loài nấm Lỗ, 3 hệ sợi nấm là nhiều nhất, 2 và 3 hệ sợi
chiếm tỷ lệ khá cao (82,90%). Điều này chứng tỏ hầu hết nấm Lỗ là những loài có mức
tiến hoá cao, so với các loài nấm khác. Tỷ lệ sợi nấm có khoá và không có khoá xấp xỉ
nhau. Các sợi nấm không có khoá đêu thuộc các chi thuộc họ Ganodermataceae, sợi nấm
có khoá thường thuộc họ Polyporaceae và một số họ khác. Về hình thái bào tử, đa số
chúng không màu, hình trụ, hình bầu dục và hình trứng, một số ít trong chi
Amauroderma có bào tử hình câu. Đặc biệt hình thái của bào tử nấm Linh chi có hai
vách tế bào, vách trong có gai, có màu là những loài rất dễ nhận biết.
Tóm lại, thành phần loài nấm Lỗ vườn QGBV không chỉ phong phú và đa dạng về
số loài, số cá thể mà còn phong phú và đa dạng về hình thái, kết cấu hiển vi.
3.2. Đặc điểm sinh thái bộ nấm Lỗ vườn QGBV
3.2.1.Sự phân bố nấm lỗ theo các nhân tố sinh thái
3.2.1.1. Sự phân bố nấm Lỗ theo các nhân tố phi sinh vật
1) Phân bố nấm Lỗ theo vị trí địa lý
Phân bố nấm Lỗ rất rộng, từ núi cao đến đồng bằng đều có nấm Lỗ mọc. Chúng đa
dạng không chỉ về mặt địa hình, loài cây mà những nơi nào có gỗ là có nấm Lỗ. Thông
thường nấm Lỗ được chia ra nấm mọc trên gỗ và nấm mọc dưới đất. Những loài mọc
trên gỗ phần lớn là những loài hoại sinh, một số ít kiêm hoại sinh. Số loài nấm Lỗ gây
bệnh cho cây gỗ rất ít. Sự biến đổi số loài nấm Lỗ thường phụ thuộc loài cây và điều
14
Ôn đ
ớ
i
5
C
ậ
n nhi
ệ
t d
ớ
i
16
Nhi
ệ
t đ
ớ
i
74 Bảng trên cho thấy hầu hết nấm Lỗ vườn QGBV có thành phần phân bố rộng ở
vùng Cận nhiệt đới và Nhiệt đới.có 90 loài, chiếm 76,92%. Một số loài phân bố Bắc bán
cầu và Thế giới, rất ít loài phân bố vùng Ôn đới.
Bảng trên chứng tỏ số loài nấm mọc ở đai độ cao núi vừa nhiều hơn núi thấp. Sở
dĩ có hiện tượng này là do tại những đai núi vừa là những khu rừng hỗn giao nhiều loài
cây lá rộng ít người tác động, sự biến đổi sinh cảnh vẫn theo quy luật tự nhiên, còn nhiều
cành khô lá rụng, nhiều cây đổ tự nhiên. Mặt khác những nấm chất da, chất bần có khả
năng phát tán nhiều nơi, trên các cành khô, các cây gỗ đã mục lâu. Còn các loài nấm chất
gỗ thường sống lâu năm, phân bố trên gốc chặt cây lá kim, cây gỗ cứng, hoặc gốc cây
còn sống nhưng sinh trưởng yếu ớt, bị ong, xén tóc, vòi voi, mọt đục. Những cây sống
đó nếu có nấm mọc ở gốc là cây bị côn trùng đục vào mang sợi nấm vào gốc hoặc thân
cây. Những loài nấm đó là Ganoderma applanatum, G. lucidum, Fomes fomentarius,
Fomitopsis officinalis, còn ở đai núi thấp hầu hét là rừng trồng có nhiều cành khô, gôc
chặt, có nhiều loài nấm nhỏ mọc thành cụm hoặc đám nên số lượng thể quả nhiều hơn
núi cao. Tuy nhiên sự sai khác nhau đso không lớn lắm. ực ra sự sai khác giữa các loài ở
các độ cao khác nhau là do sự thay đổi nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng. Cứ lên cao 100m
nhiệt độ giảm 0,6
o
C. Do vậy những điều kiện trên đã làm thay đổi thành phần loài và số
lượng loài nấm Lỗ. Sự khác nhau giữa các độ cao tại vườn QGBV cũng chỉ là tương đối,
bởi vì ngoài nhân tố độ cao, còn các nhân tố hướng dốc, độ dốc, thực bì và các tác động
khác của con người Nhận xét này cũng phù hợp với nhận định của Zhang Lixin (2010) .
Phân bố nấm Lỗ cũng như các sinh vật khác không chỉ khác nhau về số loài mà
phân bố cá thể (thể quả) cũng có sự khác nhau. Nếu xem xét phân bố số cá thể theo đai
độ cao chúng được thể hiện ở bảng 3-6:
Bảng 3.6. Phân bố số thể quả nấm Lỗ theo đai độ cao
Ch
ỉ
tiêu
S
ố
dĩ có hiện tượng trên là do ở đai núi thấp đã bị tác động của con người, do ở khu vực này
một số nơi đã biến thành khu du lịch.
Trên 30 ô tiêu chuẩn được xác lập, sau khi tính toán số loài và số thể quả trong
các ô, được trình bày ở phần phụ lục 6 , nếu dùng công thức Sorensen SI = 2C/ (A+B) để
tính mức độ đồng đều về loài của 2 đai độ cao, ta có kết quả 2x23/117 = 46/117= 0,39
<0,5. Chứng tỏ sự phân bố nấm trong khu vực nghiên cứu không đồng đều. Sự phân bố
của nấm Lỗ không chỉ phụ thuộc vào đai độ cao mà còn phụ thuộc vào trạng thái rừng,
loại hình rừng, hướng phơi Nhận xét này cũng phù hợp với một số tác giả sinh thái nấm
của Trung Quốc như Dai Y.C, (2012) .
Nếu dùng chỉ số đồng đều Pielous :
13 J = H′/ lnS.; H′= - ∑ s i; si = ( ni/ N) log2( ni/ N) để so sánh mức độ đồng đều ở 2 độ
cao, ta có : Đai núi thấp <700m : J = 0,04585
Đai núi vừa > 700m : J =0,02221
Kết quả trên chứng tỏ phân bố nấm ở đai núi thấp đồng đều hơn đai núi vừa, tuy
nhiên sự chênh lệch nhau không đáng kể.
b) Phân bố nấm Lỗ theo hướng phơi
Số loài và số thể quả được thể hiện ở bảng 3.7
Bảng 3.7. Số loài và số thể quả theo hướng phơi
Hư
ớ
ng phơi
S
ố
loài
nhau ta có:
d = (98-1) / ln 4526 ( hướng sườn Đông Nam) = 97/8,4175 =11,5236
d= (26-1) / ln 1502 ( hướng sườn Tây Bắc) = 25/ 7,3145= 3,4179
Rõ ràng sườn Đông Nam đa dạng hơn sườn Tây Bắc.
Nếu dùng công thức Sorensen SI = 2C/ (A+B) để tính mức độ đồng đều về loài của 2
hướng phơi ta có: SI = 2 x 7/117 =14/117 =0,06 <0,5.
Để so sánh mức độ đồng đều ở hai hướng phơi, ta dùng công thức Pielou:
J = H′/ lnS.; H′= - ∑ s i; si = ( ni/ N) log2( ni/ N)
Sau khi tính toán ta được kết quả như sau: hướng Đông nam: J = 0,03704 < 0,5,
chứng tỏ hướng này có số thể quả phân bố không đồng đều mặc dù chúng có số loài khá
lớn. Hướng Tây Bắc: J = 0,79402 > 0,5, chứng tỏ phân bố số thể quả đồng đều hơn
hướng Đông Nam. Điều này chứng minh hướng Đông Nam thể hiện tính đa dạng hơn
hướng Tây Bắc.
Tính đa dạng và sự không đồng đều này là do nhiều nhân tố phi sinh vật và sinh
vật tác động lên nấm Lỗ, trong đó có phân bố loài cây chủ, độ tàn che, khả năng phục
hồi rừng, tác động của con người và các sinh vật khác Nhận xét này phù hợp với Lin
Xiaomin (2007), Zhang Xinbo (2011) Wu Xingliang (2012).
3) Số lần gặp các loài nấm qua các dợt điều tra
Trải qua các đợt điều tra thu thập và xác định mẫu nấm, chúng tôi tiến hành thống
kê một số loài nấm có số lần gặp trên 5 lần (số liệu thống kê ở phần phụ lục 11, số lần
gặp các loài nấm Lỗ vườn QGBV ). Số lần gặp trên 5 lần được thể hiện ở bảng 3.8 trang
86 của luận văn
Bảng 3.8. chứng tỏ số lần gặp các loài nấm nhiều nhất là loài Mỉcoporus xanthopus,
sau đó là loài Trametes apiaria . Các loài trong chi Ganoderma có số lần gặp khá nhiều.
Điều này chứng tỏ, khu vực nghiên cứu có nhiều cành khô thích hợp cho các loài nấm
thuộc chi Microporus, Trametes sinh trưởng và phát triển. Mặt khác nhiều cây đổ và cây
sống lâu năm thích hợp cho các loài nấm thuộc chi Ganoderma phát sinh, phát triển.
14
S
ố
loài
6
7
12
24
36
46
48
78
86
28
8
5
lá rụng, nhiều cây đổ tự nhiên nên mọc rất nhiều loài nấm sống 1 năm thuộc các chi
Microporus, Trametes, và xuất hiện nhiều loài nấm Lỗ trải thuộc chi Ceriporia Đây là
sự thích nghi sinh thái của các loài nấm với điều kiện của kiểu rừng. Trên những cây
sống lâu năm ở rừng tự nhiên hỗn loài thường có các loài nấm sống lâu năm như các loài
thuộc các chi Fomes, Fomitopsis, Ganoderma, những loài đó thường có thể quả to, mô
nấm dày. Có những thể quả rộng tới 30-40cm. Còn những loài mọc trên cành khô
thường mọc những thể quả nhỏ, mỏng.
b) Rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng và cây lá kim cận nhiệt đới núi
thấp. không có nấm Lỗ mọc. Rải rác có một ít loài mọc trên mặt đất thuộc bộ nấm Tán
( Agaricales)
tháng
số loài
15 c) Rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp. Theo quan điểm phát
sinh trước đây ở đai khí hậu nhiệt đới này có rất nhiều loài cây trong các họ ưu thế như
Re, Dẻ, Dâu tằm, Mộc lan, Trám, Sến, Bồ đề. Nhưng trải qua quá trình chặt chọn những
cây gỗ tốt dùng làm vật liệu xây dựng của người dân địa phương hoặc chặt phá làm
nương rẫy, nên đai rừng này đã bị mất hoàn toàn quần thể rừng tự nhiên và được thay
thế bởi những kiểu phụ nhân tác, bao gồm các kiểu rừng thưa nhiệt đới, rừng tre nứa và
rừng phục hồi. Chúng thường phân bố ở độ cao 400-800m. Trong quá trình điều tra thu
thập mẫu nấm Lỗ, ta có thể phát hiện được nhiều loài nấm mọc trên các cây đổ, các bãi
gỗ, các cành khô thuộc các chi nấm chất da và chất bần như Coriolus, Xanthopus,
Pycnoporus, Trametes; ít thấy các loài chất gỗ. Tại rừng tre nứa xuất hiện nhiều loài nấm
Linh chi giả Amauroderma mọc từ các cành khô bị vùi lấp lâu năm.
2) Phân bố nấm Lỗ theo trạng thái rừng
Vườn QGBV có 3 trạng thái rừng là rừng IIIa1, IIIa2 và IIb. Tuỳ theo diện tích
rừng, số ô điều tra có sự khác nhau. Rừng IIIa1, được điều tra 5 ô, rừng IIIa2 điều tra 12
ô, rừng IIb điều tra 10 ô. Sau đó lấy trị số bình quân của các ô tiêu chuẩn . Diện tích ô
5,13 Qua bảng trên ta thấy các loài chủ yếu tập trung ở rừng giàu (IIIA1) chiếm tỷ lệ
cao nhất do ở đây có độ ẩm và độ tàn che cao nên số lượng loài tập trung nhiều, còn lại
trạng thái II B chỉ chiếm tỷ lệ 5,13% có độ che phủ và độ ẩm thấp hơn.Từ đó ảnh hưởng
đến sự xuất hiện các loài nấm Lỗ.Nhận xét này phù hợp với nghiên cứu của Lin Xiaomin
(2007) về sinh thái nấm Lớn. Ông cho rằng ở các vùng có rừng có độ tàn che lớn thường
có tính đa dạng loài nấm hơn các khu vực rừng có độ tàn che nhỏ. Những khu vực rừng
có độ tàn che trên 0,5 số lượng và mật độ nấm Lớn ít bị thay đổi, còn ở rừng có độ tàn
che dưới 0,5 số lượng loài thay đổi lớn, thậm chí không có nấm Lớn ở độ tàn che 0,2-0,3.
3) Phân bố nấm Lỗ trên các loài cây chủ khác nhau
Mỗi loài nấm khác nhau, khả năng thích nghi với mỗi loài cây chủ khác nhau.
Mức độ phá hoại nặng hay nhẹ phụ thuộc vào trạng thái cây, loài cây và phản ứng tự vệ
cây chủ. Sự tồn tại của nấm Lỗ trên các loài cây thể hiện ở bảng 3-11:
Bảng 3.11. Sự phân bố nấm Lỗ trên các loài cây chủ
TT
Loài cây ch
ủ
S
ố
loài
T
ỷ
l
16 Bảng trên cho thấy nấm mọc nhiều trên những cây gỗ mềm, dễ bị mục như Hoàng
mang, Phân mã.Thị rừng Trên một só loài cây gỗ cứng hoặc có chứa các chất tannin và
phytoxit như Dẻ, Nhội, Quế và Kim giao có ít loài hơn.
Hầu hết các loài nấm Lỗ ở Ba Vì đều mọc trên cây lá rộng, rất ít loài mọc trên cây
lá kim.Những loài mọc trên cây lá rộng thường là những loài gây mục trắng, một số ít
loài mọc trên cây lá kim thường gây mục nâu. Theo Zhao Jiding, 1998, vai trò của nấm
gây mục nâu có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ đất và nước trong nhiều năm.
Vì vậy, ta có thể thấy rằng việc trồng thông tại vườn QGBV là phù hợp với công
tác bảo vệ môi trường không chỉ làm sạch không khí mà còn có tác dụng bảo vệ môi
trường đất và nước. 4) Mối quan hệ nấm Lỗ với cây chủ
Mối quan hệ nấm Lỗ với cây chủ thể hiện nhiều mặt như khả năng ký sinh, khả
năng chọn lọc cây chủ, khả năng gây mục gỗ
a)Khả năng ký sinh của nấm Lỗ
Khả năng ký sinh của vật gây bệnh nói chung và nấm Lỗ nói riêng được chia ra 4
loại: chuyên ký sinh, kiêm hoại sinh, kiêm ký sinh và chuyên hoại sinh. Chuyên ký sinh
gồm những loài mọc trên cây còn sống, kiêm hoại sinh gồm những loài mọc trên cây
sinh trưởng yếu, kiêm ký sinh gồm những loài mọc trên cây bị thương và sinh trưởng
yếu còn loại chuyên hoại sinh chỉ gồm những loài mọc trên đất hoặc xác động thực vật
Quan sát qua các đợt điều tra cho thấy nấm Lỗ ở vườn QGBV đều là những loài
nấm hoại sinh mọc trên cây khô, cây đổ, gốc chặt, các cành khô rơi xuống đất hoặc một
số kiêm ký sinh, mọc trên cây sinh trưởng yếu ớt, tạo điều kiện cho các loài côn trùng
như các loài xén tóc, cát đinh, vòi voi, mối, mọt phá hoại.Trường hợp này chúng tôi đã
như các loài xén tóc, cát đinh, vòi voi, mối, mọt phá hoại.Trường hợp này chúng tôi đã
phát hiện được một số loài nấm Linh chi Ganoderma applanatum, Ganoderma fulvellum
mọc trên cây ở độ cao 1200m, nơi người qua lại du lịch gây ra vết thương ở thân và gốc
cây sống.
Về vị trí mục, thông thường người ta chia ra các loài nấm mọc trên thân, dưới gốc
cây, mục dác, mục lõi. Theo quan sát bước đầu, rất ít loài nấm mọc ở thân cây còn sống .
Một số loài nấm mọc ở gốc cây, gây mục lõi; nhiều loài mọc ở thân cây đổ và cành khô
nhánh rụng, gây mục dác.
Hiện tượng nấm gây mục lõi cũng là trường hợp hiếm thấy ở khu vực nghiên cứu,
bởi vì, theo giải thích của Wei Yulian (2004), môi trường nấm gây mục lõi có thể chịu
đựng được hợp chất phenol nồng độ cao mà nồng độ cao đó thường ức chế nhiều loài
nấm khác. Vả lại môi trường nhiều axit acetic đều có thể là môi trường cho sợi nấm loại
này sinh trường bình thường. Theo phân tích của các nhà nấm học, sợi nấm gây mục lõi
chứa nhiều axit acetic với pH < 3. Điều này cho thấy rằng, nếu có nấm gây mục lõi
thường chỉ mọc 1 loài trên cây sống và là những loài nấm gây mục nâu.
b) Khả năng chọn lọc cây chủ của nấm Lỗ
Khả năng chọn lọc cây chủ là sự thích nghi của vật gây bệnh với cây chủ. Đối với
nấm Lớn nói chung và nấm Lỗ nói riêng, khả năng thích nghi khá rộng, nghĩa là chúng
có thể sống trên nhiều loài cây chủ và trên 1 cây chủ có thể mọc khá nhiều loài nấm, như
các loài nấm thuộc các chi Microporus , Poria, Trametes thường cùng mọc chung trên
một cành mục.
c) Các kiểu mục của nấm Lỗ
Thông thường mục gỗ có 3 kiểu: mục trắng, mục nâu và mục mềm.
Mục trắng là do gỗ bị nấm phân giải lignin là chủ yếu. Mục trắng có hai hình thức:
cùng mục là các chất xenlulose, hemixenlulosse và lignin cùng bị phân giải. Chúng
thường phát sinh trên cây lá rộng, sau khi bị phân giải, gỗ bị giòn hình thành các dạng
mục phiến, xốp, tổ ong. Phân giải chọn lọc là trước hết phân giải hemixenlulose và
lignin, sau đó mới phân giải xenlulose. Loại này gỗ còn có tính chất đàn hồi. Thể hiện
các dạng mục chậm hơn.
Mục nâu là do gỗ bị nấm phân giải xenlulose và hemixenlulose còn lignin không
l
ệ
(%)M
ụ
c nâu
9 7,69
M
ụ
c tr
ắ
ng
101 86,32
Bảng trên chứng tỏ nấm gây mục trắng chiếm tỷ lệ cao hơn mục nâu rất
nhiều.Nấm mục trắng có thể sinh ra một số loại enzym cần thiết cho việc oxy hoá chất
lignin để có thể gây ra mục trắng. Theo giải thích của nhiều tác giả, việc phân giải này
chỉ có thể xây ra ở xung quanh sợi nấm và hình thành các dạng mục xốp, mục phiến,
mục tổ ong, không có dạng khối. Còn nấm mục nâu có thể sinh ra enzym glucose
oxydasse thu được dihydrogen dioxide, sau đó mới oxy hoá xenlulose. Mục nâu chỉ có
thể dựa vào chất đó làm cho gỗ hình thành các khối nhỏ và không xẩy ra xung quanh sợi
nấm. Vì vậy mục nâu thường hình thành dạng khối.
Có thể nói hầu hết các loài gỗ cứng sau khi mục, hình thành loại mục khối nâu,
còn hầu hết chúng gây mục trắng xốp, trắng phiến và trắng tổ ong.
Từ các mô tả chúng tôi có một số nhận xét sau:
Nhiều nghiên cứu cũng chứng minh mọt thuộc họ Platypodidae đã tạo lỗ đục cho
các bào tử các loài nấm gây mục lõi nẩy mầm, xâm nhập. Hiện tượng mọt đục trong cây
rừng tự nhiên là hiện tượng thường gặp.
Về tác động của các sinh vật khác, thông thường nấm Lỗ mọc tăng diện tích về phía
ngoài và hai bên tán nấm. Một số loài nấm phía ngoài tán nấm có màu trắng hoặc vàng
thể hiện chúng đang tăng diện tích và thể tích thể quả. Khả năng sinh trưởng của nấm Lỗ
rất khoẻ. Khi gặp một cản trở nào đó, chúng có thể bao hết vật cản mọc ra phía ngoài.
Trong trường hợp bị thương do một nguyên nhân hay một tác động, chỗ bị thương sẽ
mọc lên một thể quả khác, có thể xếp ngang hàng hoặc xếp chồng lên nhau tạo nên một
thể quả có hình dạng khác thường. Nếu do một lý do nào đó, giá thể gỗ bị lật ngược, thể
quả có thể mọc đổi hướng cho phần tán nấm lên trên, lỗ nấm xuống dưới nhằm bảo tồn
sự sản sinh bào tử, bảo vệ sự phát triển nòi giống của nấm Lỗ. 3.2.2. Diễn thế quần xã
của nấm Lỗ
Quần xã sinh vật luôn luôn ở trạng thái biến đổi không ngừng, có sự thay đổi ngày
đêm , thay đổi theo mùa , thay đổi theo năm, nhưng sự thay dổi đó không gây ra sự biến
đổi bản chất quần xã, những đặc trưng cơ bản vẫn được giữ vững. Nhưng có khi trong
giới tự nhiên cũng thường thấy một hiện tượng khác, một quần xã phát triển thành một
quần xã khác . Hiện tượng đó gọi là diễn thế quần xã hoặc diễn thế sinh thái. Trong quá
trình diễn thế trải qua các giai đoạn, cuối cùng đạt được một quần xã tương đối ổn định ,
gọi là cực đỉnh.
Đối với các loài nấm Lỗ thường biến đổi theo loài cây chủ cho nên diễn thế của
cây chủ mặc dù chậm chạp, nhưng diễn thế quần thể của các loài nấm lại có thể rất
nhanh, tuỳ theo sự tác động của con người. Trong những quần thể cây rừng có độ tàn che
lớn sẽ tạo điều kiện cho nhiều loài nấm sinh trưởng phát triển, còn ở những nơi độ tàn
che nhỏ dưới 0,5 thường ít thấy hoặc không thấy nấm Lỗ. Hiện tượng này xuất hiện cách
đây 5 năm trên gốc chặt của rừng thông độ cao 400m có rất nhiều loài nấm chất gỗ thuộc
chi Ganoderma, Fomitopsis, nhưng 2-3 năm sau, do tác động chặt tỉa thưa rừng thông
làm đường phục vụ du lịch, không hề thấy một cá thể các loài nấm đó, thay vào đó là
những loài nấm chất da, chất thịt như Da trải hoặc Lỗ trải, rải rác có một vài loài nấm
Chân chim và một số loài nấm có kích thước rất nhỏ khác.
rừng. Một số loài nấm Lỗ mọc trên tầng mùn trên mặt đất thuộc chi Amauroderma,
Ganoderma còn không có nấm nào mọc ở tầng có độ sâu dưới 20cm. Nhận xét này cũng
phù hợp với công trình nghiên cứu của Wu Xingliang (2012)
Về kết cấu nằm ngang của quần xã nấm Lỗ, nhiều quần xã sinh vật không chỉ
phân hoá kết cấu thẳng đứng mà còn có kết cấu nằm ngang. Chúng biểu hiện mọc thành
đám phân bố không đều. Trên các đám không đều các loài cây, số lượng của chúng. độ
tàn che, sản lượng và các tính chất khác đều không như nhau. Tại khu vực nghiên cứu,
nấm Lỗ cũng phân bố không đều theo loài và các cá thể. Chúng thường mọc thành đám
và thành cụm theo loài cây chủ, các loại cành khô lá rụng của cây chủ. Nguyên nhân của
sự phân bố không đều đó chủ yếu là do độ chiếu sáng tạo nên phân bố cây chủ, sự hình
thành các loài sinh vật ký sinh, hoạt động của động vật và con người. Điều này khác với
sự phân bố ở các vùng hoang mạc và đồng cỏ.
Theo phân tích của các nhà sinh thái học, những vùng Ôn đới và Hàn đới có ít số
loài và phân bố cá thể thưa thớt , tính đa dạng rất thấp ; ở vùng Nhiệt đới số cá thể khá
đồng đều giữa mọi loài, giữa 2 cây gần nhau rất ít khi cùng loài ( Rừng mưa nhiệt đới),
tính đa dạng loài khá cao. Tính đa dạng loài quần xã quyết định bởi thời gian tiến hoá,
tính ổn đinh của môi trường và tinh có lợi của điều kiện sinh thái. Những cây to cổ xưa
vùng Nhiệt đới hình thành sự ổn định nhất về môi trường, khí hậu nhiệt độ cao, nhiều
mưa rất có lợi cho sinh trưởng các loài sinh vật nên tính đa dạng loài lớn nhất. (Wei
Yulian ,2004)
3.2.3. Công dụng của nấm Lỗ
Phải nói rằng mọi sinh vật trong hệ sinh thái đều có mặt có lợi và mặt có hại,
chúng ta cần khai thác mặt có lợi, tránh hoặc giảm bớt mặt có hại. Nấm nói chung, nấm
Lỗ nói riêng cũng không ngoài những mặt đó. Bên cạnh gây mục gỗ, chúng có tác dụng
phân giải gỗ làm giàu rừng, nhiều loài có thể làm nấm làm thực phẩm và làm dược liệu.
Công dụng của 117 loài nấm Lỗ đã được tổng hợp trên bảng 3-13:
Bảng 3.13. Công dụng của các loài nấm Lỗ
Công d
ụ
ng
24,79
Kháng u
24
20,51
Phân gi
ả
i g
ỗ
117
100
Khác
17
14,53
21 Bảng trên chứng tỏ nấm Lỗ có nhiều tác dụng. Trong 117 loài được thống kê chỉ
có 6,83% loài làm thực phẩm khi nấm còn non, 24,79% loài làm dược liệu, 20,51% loài
có tác dụng kháng ung thư, 100% loài phân giải gỗ mục làm giàu hệ sinh thái rừng,
14,73% loài có những tác dụng đặc biệt như ức chế tuyến trùng, phân giải kim loại nặng,
2 G. applanatum ■ ☻ ♥ ♦
3 Ganoderma australe ☻ ♥ ♦
4 G. formosanum ☻ ♥ ♦
5 Ganoderma lobatum ☻ ♥ ♦
6
Ganoderma lucidum☻
♥
♦7 G. mastoporum ☻ ♥ ♦
8
G. neo
-
japonicum ☻
♥
♦
16 Laetiporus sulphureus ■ ☻ ♥ ♦ *
17 Fomes fulvellus ☻ ♥ ♦
18 Fomes fomentarius ☻ ♥ ♦
19 Lenzites betulina ☻ ♥ ♦
20
Microporus xanthopus
☻
♥
♦21 Pycno. cinnabarinus ☻ ♥ ♦
22 P. sanguineus ☻ ♥ ♦
23 Trametes gibbosa ♥ ♦ *
24 Trametes palisotii ☻ ♦ *
25
Trametes suaveolens
☻
♥
♦31 Panus conchatus ♥ ♦ *
32
Grifola frondosa
■
☻
♥
♦33 Meripilus giganteus ■ ♦ *
Ghi chú: Theo các tài liệu tham khảo đã dẫn
Do tác dụng quan trọng của nấm Lỗ trong hệ sinh thái rừng, ở mức độ nhất định
phải bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ sức khoẻ của rừng, không chỉ phải bảo vệ tính
đa dạng cây rừng, động vật mà còn phải bảo vệ tính đa dạng các loài nấm Lớn. Hiện nay
nước ta chưa có cuốn sách đỏ nói về nấm, do nhiều loài nấm sống trên cây đổ, cây mục,
khi bảo vệ hệ sinh thái rừng phải giữ lại các cây đổ, cây mục trong rừng là một biện pháp
quan trọng để bảo vệ tính đa dạng các loài nấm Lỗ. Nhiều loài nấm ăn và nấm làm
thuốc quý hiếm cần nghiên cứu nuôi trồng theo phương pháp công nghệ sinh học, tạo
nên nguồn dược liệu hoặc thực phẩm cho nhân dân là điều cần thiết.
phân giải các chất kim loại nặng gây ô nhiễm môi trường, các chất độc trong đất và
không khí.
6) Nhà nước đã phê duyệt chính sách rừng đặc dụng ( Quyết định số 24/2012 /QĐ-
TTg) và thí điểm chính sách đồng quản lý rừng ( QĐ 126/2012/QĐ-TTg), chương trình
hành động quốc gia về REDD (góp phần giảm phát thải khí nhà kính và ứng phó với
biến đổi khí hậu toàn cầu do UN tài trợ) giai đoạn 2011-2020 tại Quyết định 799/QĐ-
TTg ngày 27 tháng 6 năm 2012. Những chính sách đó phải được thấm nhuần trong quần
chúng.
7) Tiến tới xây dựng sách đỏ cho các loài nấm Lớn như một số nước đã thực hiện
nhằm bảo tồn các loài có nguy cơ tuyệt chủng, loài bị uy hiếp và loài quý hiếm.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Từ những kết quả nghiên cứu trên, cho ta rút ra một số kết luận sau: 1.1. Nấm
Lỗ vườn QGBV có 117 loài thuộc 43 chi, 6 họ. Trong đó có 15 loài lần đầu tiên phát
hiện được ở khu vực nghiên cứu. Họ có số loài nhiều nhất là Polypolaceae,sau đó là
Ganodermataceae .Chi có số loài nhiều nhất là Ganoderma, sau đó là Amauroderma, rồi
đến Trametes, Polyporus. Có 23 chi chỉ có 1 loài, chiếm 53,8%, số chi có 3 loài trở lên
có 10 loài, chiếm 23,26%.
1.2. Số loài và số thể quả nấm lỗ chiếm số lượng nhiều nhất là Polyporaceae, sau
đó là Ganodermataceae, rồi đến Meripilaceae
1.3.Về đặc điểm hình thái, phần lớn chúng không có cuống (chiếm 49,57%), sống
1 năm (88,89%), hầu hết thuộc chất bần và chất da (90,60%).
Về đặc điểm hiển vi, hầu hết nấm Lỗ có 3 hệ sợi (57,26%) và 2 hệ sợi (25,64%); 1 hệ sợi