Nghiên cứu đề xuất phát triển du lịch sinh thái nhằm hỗ trợ cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học vườn Quốc gia Vũ Quang, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh - Pdf 26

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
PHẠM VĂN BẢO NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
NHẰM HỖ TRỢ CHO CÔNG TÁC BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC
VƯỜN QUỐC GIA VŨ QUANG, HUYỆN VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG Hà Nội - 2010

2.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 23
2.1.1. Đối tƣợng nghiên cứu 23
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu, thời gian nghiên cứu 23
2.2. Nội dung nghiên cứu 24
2.3. Quan điểm nghiên cứu 24
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu 25
2.4.1. Phƣơng pháp luận 25
2.4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 30
CHƢƠNG 3. TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DLST
Ở VQG VŨ QUANG 34
3.1. Điều kiện tự nhiên VQG Vũ Quang 34
3.1.1. Vị trí địa lí 34
3.1.2. Đặc điểm địa chất, khí hậu thủy văn 36
3.1.3 Tài nguyên đa dạng sinh học 44
3.2. Điều kiện kinh tế xã hội và tài nguyên nhân văn phục vụ DLST. 51
3.2.1. Dân cƣ, nguồn lao động và điều kiện kinh tế 51
3.2.2. Các yếu tố lịch sử - nhân văn 52
3.3. Hiện trạng cơ sở phục vụ DLST tại VQG Vũ Quang 57
3.4. Cơ cấu tổ chức bộ máy của VQG Vũ Quang 59
3.5. Cơ chế chính sách hiện hành phát triển DLST 59
3.6. Tình hình phát triển Du lịch ở tỉnh Hà Tĩnh và cơ hội của VQG Vũ Quang 61
3.7. Sự cần thiết về việc đề xuất phát triển DLST ở VQG Vũ Quang 63
CHƢƠNG 4: ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN DLST
v

VQG VŨ QUANG 66
4.1. Nguyên tắc chung phát triển DLST ở VQG Vũ Quang 66
4.2. Định hƣớng phát triển DLST ở VQG Vũ Quang 67
4.2.1. Định hƣớng phát triển các sản phẩm DLST 68
4.2.2. Định hƣớng về thị trƣờng 68

Bảng 3.1
Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con ngƣời.
42
Bảng 3.2
Một số trung tâm đa dạng sinh học ở Việt Nam
47
Bảng 3.3
Tổng hợp thành phần loài động thực vật ở VQG
Vũ Quang
50
Bảng 3.4
Lƣợng khách đến Hà Tĩnh
61
Bảng 3.5
Phân tích điểm mạnh - yếu - cơ hội - thách thức
63

DANH MỤC HÌNH
Stt
Tên hình
Trang
Hình 1.1
Sơ đồ cấu trúc Du lịch Sinh thái
9
Hình 3.1
Biểu đồ độ ẩm và nhiệt độ
41
Hình 3.2
Biểu đồ lƣợng mƣa hàng tháng và độ bốc hơi
44

HTS Hệ sinh thái
IUCN Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
JICA Tổ chức Hợp tác Phát triển Quốc tế Nhật Bản
KBTTN Khu Bảo tồn Thiên nhiên
NGO Tổ chức phi chính phủ
SWOT Điểm mạnh – Điểm yếu – Cơ hội – Thách thức
UBND Ủy ban Nhân dân
VCF Quỹ Bảo tồn Việt Nam
VQG Vƣờn Quốc gia
WWF Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên
1

MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Giá trị Đa dạng sinh học là không thể thay thế đƣợc đối với sự tồn tại và phát
triển của Thế giới sinh học trong đó đặc biệt là con ngƣời. Bảo tồn đa dạng sinh học
đang ngày càng trở nên cấp thiết và đã trở thành một trong những vấn đề quan tâm
của toàn xã hội và đặc biệt đối với các VQG và KBTTN.
Việt Nam là một quốc gia đƣợc các nhà khoa học đánh giá có tính đa dạng
sinh học cao. Nhƣng hiện nay với tốc độ phát triển của mọi ngành nghề, cùng với
nền kinh tế thị trƣờng đang làm cho đất nƣớc ngày một giàu mạnh, mức sống ngày
đƣợc nâng cao và nhu cầu của con ngƣời ngày càng cao. Tuy nhiên, các hoạt động
phát triển này đã ảnh hƣởng không nhỏ đến tính đa dạng sinh học của Việt Nam nói
chung và các vùng sinh thái trọng điểm nói riêng.
Du lịch sinh thái đƣợc xem là một trong những cách thức vừa hỗ trợ bảo tồn
đồng thời phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững. Tại đại hội các Vƣờn Quốc
gia thế giới lần thứ V do IUCN tổ chức năm 2002 đã khẳng định “Du lịch Sinh thái

số ngƣời đƣợc hỏi). Xếp thứ 2 là du lịch hƣớng tới thiên nhiên (45,7%). Nhận thức
về du lịch sinh thái của ngƣời dân cũng cải thiện rõ rệt trong những năm gần đây
[14].
Tại Úc và Newzeland, phần lớn các hoạt động du lịch đều có thể xếp vào
hạng DLST. Đây là ngành công nghiệp đƣợc xếp hạng cao trong nền kinh tế của cả
hai nƣớc nằm ở khu vực Đông Nam Á, nơi có các hoạt động du lịch sôi động. Việt
Nam có những lợi thế về vị trí địa lý, kinh tế và giao lƣu quốc tế cho sự phát triển
du lịch phù hợp với xu thế của thế giới và khu vực. Tại Việt Nam, du lịch đang dần
dần trở thành ngành kinh tế quan trọng và trong tƣơng lai gần hoạt động du lịch
đƣợc coi nhƣ là con đƣờng hiệu quả nhất để thu ngoại tệ và tăng thu nhập cho đất
nƣớc. Việt Nam là đất nƣớc có nhiều tiềm năng về nguồn lực du lịch cả về tự nhiên
lẫn nhân văn. Khách nƣớc ngoài đến Việt Nam đều đánh giá cao vẻ đẹp đất nƣớc ta.
Hàng loạt các địa danh có thể sử dụng phục vụ khách du lịch nhƣ Hạ long, Sa pa,
Bạch Mã, Bà Nà, Lang Bieng, Cố Đô Huế, Mỹ Sơn, Cát Tiên, Đồng Tháp Mƣời
3

bên cạnh đó nhiều điểm vẫn còn chƣa đƣợc khai thác. Cùng với sự phát triển của du
lịch nói chung, trong những năm gần đây DLST Việt Nam cũng đã phát triển nhanh
chóng. Bên cạnh những tiềm năng và triển vọng, sự phát triển của du lịch sinh thái ở
Việt Nam cũng đang đứng trƣớc những thách thức to lớn.
Vƣờn Quốc gia Vũ Quang đƣợc thành lập vào năm 2002, với diện tích 55058
ha và đƣợc các nhà khoa học đánh giá là có tính đa dạng sinh học cao, với thành
phần loài nhƣ sau: Thực vật 1023 loài, động vật 575 loài trong đó: Lớp thú 87 loài
bò sát ếch nhái 65 loài, cá 88 loài, chim 311 loài, bƣớm 316 loài Đặc biệt ở đây
vào những năm 1992, 1993 đã phát hiện ra hai loài thú mới cho khoa học thế giới
là; Sao la, Mang lớn và ngoài ra ở đây còn có rất nhiều loài đƣợc xếp vào sách đỏ
Việt Nam và thể giới nhƣ; Bò tót, Voi, Hổ, về Thực vật có các loài nhƣ; Pơ mu,
Du sam, Hoàng đàn, Lim xanh, Dổi Mặt khác, cũng theo các nhà khoa học lão
luyện trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học thì ở đây còn có nhiều tiềm năng hấp
dẫn chƣa đƣợc nghiên cứu đến và tính đa dạng sinh học của Vƣờn Quốc gia Vũ

- Xác định đƣợc một số ảnh hƣởng qua lại giữa DLST, bảo tồn đa dạng sinh
học và cộng đồng ở VQG Vũ Quang, từ đó nêu lên các vấn đề cần quan tâm khi
phát triển DLST ở VQG Vũ Quang.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học:
+ Đây là nghiên cứu đầu tiên về DLST ở VQG Vũ Quang.
+ Kết quả của đề tài là đƣa ra đƣợc đề xuất về phát triển DLST ở VQG Vũ
Quang.
5

+ Đƣa ra giải pháp, kiến nghị dung hòa giữa nhu cầu phát triển kinh tế - xã
hôi của cộng đồng và công tác bảo tồn.
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài là một sản phẩm có giá trị thực tiễn có khả năng
áp dụng triển khai phát triển du lịch sinh thái và bảo tồn ĐDSH ở VQG Vũ Quang.
Cấu trúc luận văn
Luận văn đƣợc trình bày gồm có các phần; Mở đầu, 4 chƣơng chính, kết luận
- kiến nghị và phần phụ lục, cụ thể nhƣ sau:
Mở đầu.
Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu.
Chƣơng 2: Đối tƣợng, phạm vi, cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu.
Chƣơng 3: Tiềm năng và hiên trạng phát triển DLST ở VQG Vũ Quang.
Chƣơng 4: Đề xuất định hƣớng phát triển DLST ở Vƣờn Quốc gia Vũ
Quang.
Kết luận - Kiến nghị.
Phụ lục.
quy mô nhỏ nhất. Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trƣờng, nó trực
tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho ngƣời dân địa phƣơng và nó
khuyến khích tôn trọng các giá trị về văn hóa và quyền con ngƣời” [5].
7

Ở Việt Nam vào năm 1999, trong khuôn khổ hội thảo xây dựng chiến lƣợc
quốc gia về phát triển du lịch sinh thái đã đƣa ra định nghĩa nhƣ sau: “Du lịch sinh
thái là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi
trƣờng có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trƣờng và văn hóa, đảm bảo mang
lại các lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phƣơng và có đóng góp cho các nỗ lực
bảo tồn” [5].
Năm 2000, Lê Huy Bá cũng đƣa ra khái niệm “DLST là một loại hình du lịch
lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tƣợng để phục vụ cho những khách du
lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thƣởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các
hệ sinh thái. Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế
du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng nhƣ giáo dục tuyên
truyền và bảo vệ, phát triền môi trƣờng và tài nguyên thiên nhiên một cách bền
vững” [11].
Trong luật du lịch năm 2005, có một định nghĩa khá ngắn gọn “Du lịch sinh
thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phƣơng
với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” [14]. Theo quy chế quản
lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các vƣờn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, do
bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành năm 2007, thì Du lịch Sinh thái đƣợc hiểu là
“Là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phƣơng với
sự tham gia của cộng đồng dân cƣ ở địa phƣơng nhằm phát triển bền vững” [18].
Theo Hiệp hội Du lịch Sinh Thái (The Internatonal Ecotourism society) thì
“DLST là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trƣờng
và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phƣơng” [5].
Qua tìm hiểu các khái niệm trên ta có thể thấy rằng các khu bảo tồn và vƣờn
quốc gia là nơi phù hợp nhất, bởi đây chính là nơi có nhiều yếu tố hấp dẫn khách du

9

- Góp phần quan trọng nhằm thuyết phục mọi ngƣời chấp nhận bảo tồn thiên
nhiên là một kết quả gián tiếp của các tác động kinh tế.
Phát triển du lịch sinh thái là một trong những cách tốt nhất nhằm giúp cả
cộng đồng địa phƣơng và các khu BTTN & VQG. Đó cũng là một hợp phần lý
tƣởng của chiến lƣợc phát triển bền vững trong đó tài nguyên thiên nhiên đƣợc sử
dụng nhƣ một yếu tố thu hút khách du lịch mà không gây tác hại tới thiên nhiên của
khu vực; là một công cụ quan trọng trong quản lý các khu BTTN & VQG. Tuy vậy
phát triển DLST phải đảm bảo đƣợc phát triển phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của
các Khu BTTN và VQG.
DLST đƣợc biểu diễn bằng sơ đồ sau:

Hình 1.1: Sơ đồ cấu trúc du lịch sinh thái [23].
Nhƣ vậy, DLST là loại hình du lịch dựa vào tài nguyên thiên nhiên và văn hóa
của cộng đồng địa phƣơng, đƣợc thiết kế mang tính giáo dục môi trƣờng cao. DLST
nhằm mang lại nguồn lợi kinh tế cho cộng đồng địa phƣơng và công tác bảo tồn,
trong đó phát huy sự tham gia của cộng đồng địa phƣơng.
DLST
DU LỊCH
DU LỊCH

nguyên ở các vƣờn quốc gia, khu bảo tồn nói chung. Cụ thể là DLST phải
đƣợc tổ chức có tính khoa học, có tính giáo dục môi trƣờng cao, đồng thời
đem lại lợi nhuận tái phục vụ cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học.
- Hỗ trợ kinh tế địa phƣơng, tạo thêm những lợi ích kinh tế lâu dài cho
cộng đồng dân địa phƣơng, những ngƣời có quyền làm chủ cho sự phát triển
và trong công tác hoạch định du lịch.
Xuất phát từ những khái niệm về DLST ở trên chúng ta có thể thấy để
phát triển DLST cần phải đảm bảo những nguyên tắc cơ bản trên. Nếu các
hoạt động du lịch mà không đáp ứng đƣợc các tiêu chí trên thì không thể
đƣợc xem là DLST.
1.3. Đặc trƣng cơ bản của du lịch sinh thái
Các hoạt động DLST khác với các loại hình du lịch khác ở các đặc
trƣng chủ yếu sau [21, 23]:
- Dựa trên địa bàn hấp dẫn về tự nhiên: Đối tƣợng của DLST là những khu
vực hấp dẫn với các đặc điểm phong phú về tự nhiên, đa dạng về sinh học và kể cả
những nét văn hoá bản địa đặc sắc. Đặc biệt, những khu tự nhiên còn tƣơng đối
nguyên sơ, ít bị tác động lớn bởi các hoạt động của con ngƣời. Chính vì vậy, hoạt
động DLST thƣờng diễn ra và thích hợp tại lãnh thổ các vƣờn quốc gia và các khu
bảo tồn thiên nhiên.
11

- Hỗ trợ bảo tồn, đảm bảo bền vững về sinh thái: Thách thức đối với DLST
trong bất kỳ một quốc gia hay một khu vực nào là khai thác hợp lý tiềm năng cho
du lịch, đảm bảo chất lƣợng sản phẩm mà lại không gây tác động có hại ngƣợc trở
lại môi trƣờng. DLST có thể tạo ra nguồn thu cho việc quản lý bảo tồn nguồn tài
nguyên ngoài những lợi ích về văn hoá-xã hội. Sự đóng góp về tài chính với một
phần chi phí trong chuyến đi của du khách có thể giúp chi trả cho các dự án bảo tồn
đa dạng sinh học.
- DLST gắn liền với giáo dục môi trƣờng: Đặc điểm GDMT trong DLST là
một yếu tố cơ bản thứ hai phân biệt nó với loại du lịch tự nhiên khác. Giải thích và

1.5. Phát triển du lịch sinh thái ở các Vƣờn Quốc gia
Khái niệm Vƣờn Quốc gia
Vƣờn quốc gia là một khái niệm đã rất phổ biến trong hoạt động bảo tồn đa
dạng sinh học, hiện nay đang có nhiều khái niện khác nhau: Tổ chức IUCN đã đƣa
ra một định nghĩa về VQG nhƣ là một lãnh thổ tƣơng đối rộng trên đất liền hay trên
biển mà [25]:
- Ở đó có một hay nhiều hệ sinh thái không bị thay đổi lớn do sự khai khác
hay chiến lĩnh của con ngƣời. Các loài thực vật, động vật, các đặc điểm sinh thái,
địa mạo và nơi cƣ trú của các loài, hoặc các cảnh quan thiên nhiên đẹp trong đó là
mối quan tâm cho nghiên cứu khoa học, giáo dục và giải trí.
- Ở đó ban quản lý thực hiện các biện pháp ngăn chặn hoặc loại bỏ càng
nhanh càng tốt sự khai thác hoặc chiếm lĩnh và tăng cƣờng sự tôn trọng những đặc
trƣng về sinh thái, hình thái học và cảnh quan.
13

- Ở đó cho phép các hoạt động khách du lịch đến thăm, dƣới những điều kiện
đặc biệt, cho các mục đích nghiên cứu, giáo dục, giải trí và lòng ngƣỡng mộ.
Ở Việt Nam vƣờn quốc gia đƣợc hiểu theo khoản 1 điều 13 quy chế quản lý
rừng ban hành theo quyết định 186/2006 của thủ tƣớng chính phủ [7].
Vƣờn quốc gia là khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc ở vùng đất ngập nƣớc,
hải đảo, có diện tích đủ lớn đƣợc xác lập để bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc
trƣng hoặc đại diện không bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít từ bên ngoài; bảo
tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc đang nguy cấp.
Vƣờn quốc gia đƣợc quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho việc bảo tồn rừng
và hệ sinh thái rừng, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trƣờng và du lịch sinh thái.
Các vƣờn quốc gia chính là những đối tƣợng lý tƣởng cho các hoạt động du lịch
sinh thái phát triển, đồng thời DLST cũng là một trong những cách thức phát triển nhằm
bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế cho cộng đồng địa phƣơng.
1.6. Thực trạng phát triển Du lịch sinh thái
1.6.1 Thực trạng phát triển du lịch sinh thái thế giới

đƣợc thiết kế sẵn.
Sau mƣời năm đầu kể từ khi đón khách, chiến lƣợc quản lý và hỗ trợ quản lý
đầu tiên của VQG đƣợc thực hiện tƣơng đối suôn sẻ với một số lƣợng nhỏ du khách
và phát triển liên tục trong nhƣng năm 1970. Từ ban đầu có 7000 khách tham quan
đến năm 1973 là 12000 khách, năm 1981 là 25000 khách và năm 1989 đã thu hút
gần 42000 khách. Sau đó, sự sa sút của nền kinh tế khu vực đã dẫn đến việc giảm
ngân sách của dịch vụ DLST ở VQG Galapagos. Nhƣng với những biện pháp hữu
hiệu cộng với sự hỗ trợ nỗ lực của các tổ chức quốc tế nhƣ Ngân hàng thế giới, Quỹ
môi trƣờng toàn cầu đã làm vực dậy sự phát triển DLST ở đây.
15

Chuyến du lịch truyền thống ở đây là một chuyến đi chơi biển bằng tàu thủy
kéo dài một tuần đến các điểm du lịch khác nhau. Những năm gần đây, Galapagos
phải tiếp ngày càng tăng lƣợng khách tới thăm, Các nhà điều hành đã rất linh hoạt
ngoài tour du lịch truyền thồng thì họ đã tổ chức các tour ngắn ngày hơn, thậm chí
là 1 ngày, để nhằm phù hợp hơn với các đối tƣợng khách khác nhau. Nhìn chung
các hoạt động ở đây đã đem lại lợi nhuận cao cho VQG Galapagos và cộng đồng
ngƣời dân ở đây. Hiện có 6 du thuyền, bốn tàu thủy (chở đƣợc từ 34 ngƣời đến 90
ngƣời), 75 thuyền máy lớn và 10 thuyên buồn những năm gần đây nhu cầu cấp
phép hoạt động thuyền du lịch ở đây là rất lớn, đã có nhiều bất cập xảy ra trong hoạt
động này song Ban quản lý VQG và chính phủ Equador đã có những điều chỉnh kịp
thời nhằm hạn chế phù hợp số lƣợng thuyền hoạt động. Với nguồn thu 40 $ lệ phí
vào VQG và nguồn phí từ các hoạt động của các nhà điều hành du lịch đƣợc dùng
để phục vụ cho các hoạt động của Vƣờn và hỗ trợ các hoạt động bảo tồn ở các khu
bảo tồn khác ở Equador, đây là những đóng góp đáng kể mà không phải các VQG
khác trên thế giới làm đƣợc. Hiện nay thì Galapagos đang đƣợc coi là mỏ vàng của
Equador .
Một số kinh nghiệm của việc phát triển DLST ở VQG Galapagos:
- Các hoạt động dịch vụ VQG đã đƣợc tổ chức tập huấn cẩn thận và đƣợc
cấp chứng nhận cho các hƣớng dẫn viên. Các hƣớng dẫn viên này sẽ đi cùng với tất

xử lý rác yếu đã làm rác lan tràn trên các tuyến đƣờng và các khu có hoạt động du
lịch, cộng thêm sự gia tăng dân số nhanh.
Hoạt động du lịch sinh thái là một trong những nguồn thu nhập ngoại tệ
chính của Nê Pan, nhƣng lại không đếm xỉa đến những ngƣời dân địa phƣơng.
Chính vì thế những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch lại càng trở nên trầm
17

trọng. Trƣớc những nhu cầu đó mà năm 1986 đã xuất hiện dự án xây dựng khu bảo
tồn Annapurna. Dự án đề cập đồng thời 3 khía cạnh chính là: bảo tồn thiên nhiên,
phát triển nhân lực và quản lý du lịch.
Mục tiêu của dự án là bải vệ môi trƣờng tự nhiên và văn hóa vùng
Annapurna vì lợ ích của 40.000 dân cƣ trong vùng cũng nhƣ du khách quốc tế, song
song với hoạt động nâng cao nhân thức của họ về sự mong manh của môi trƣờng.
Các hoạt động đã chia ra làm 8 nhóm bao gồm: bảo tồn rừng, các nguồn
năng lƣợng thay thế, giáo dục bảo tồn, quản lý du lịch, phát triển cộng đồng, sức
khỏe và vệ sinh công đồng, các ủy ban quản lý cộng đồng, nghiên cứu.
Kết quả dự án sau 5 năm thực hiện, khắp nơi trên vùng Annapurna đã chứng
kiến sự thay đổi theo chiều hƣớng tốt trong việc bảo vệ môi trƣờng, văn hóa bản
địa, mức sống của ngƣời dân đƣợc nâng lên, khách du lịch có đƣợc cảm giác tốt hơn
khi các dịch vụ đƣợc nâng lên, mặt khác họ hiểu đƣợc rằng du lịch sinh thái không
chỉ là những trải nghiệm mà còn giúp cho đời sống ngƣời dân ở đây, giúp ích cho
hoạt động bảo tồn, bảo vệ môi trƣờng.
Dự án Annapurna cho thấy đƣợc sự cần thiết phải giử các lợi ích kinh tế lại
trong vùng, thu hút dân địa phƣơng than gia vào các hoạt động du lịch, tăng cƣờng
liên kết các lợi ích bảo tồn với lợi ích phát triển càng nhiều càng nhiều càng tốt.
1.6.2. Các bài học kinh nghiệm đƣợc rút ra từ những mô hình DLST ở các
VQG trên thế giới
Qua việc tìm hiểu hoạt động DLST ở các VQG trên thế giới, chúng ta có thể
rút ra một số bài học kinh nghiệm khi tiến hành hoạt động DLST ở VQG của Việt
Nam nói chung và VQG Vũ Quang nói riêng nhƣ sau:

là ở các VQG và KBTTN - là nơi đƣợc coi là có môi trƣờng phù hợp cho phát triển
DLST [20, 29].
Các hoạt động DLST thƣờng bao gồm: nghiên cứu, tìm hiểu các hệ sinh thái;
tham quan, tìm hiểu đời sống động thực vật hoang dã, và văn hóa bản địa. Tuy
19

nhiên, du khách đến các VQG mới chỉ tiếp cận đƣợc các hệ sinh thái rừng, các loài
thực vật, và một số loài côn trùng. Rất hiếm khi du khách bắt gặp thú trong rừng.
Chỉ ở VQG Cát Tiên du khách có thể quan sát đƣợc một số thú lớn nhƣ Hƣơu, Nai,
Lợn rừng, Cầy, Chồn, Nhím vào ban đêm. Tại Cúc Phƣơng và Tam Đảo đã xây
dựng khu nuôi thú bán hoang dã để bảo tồn và phục vụ khách tham quan. Khu cứu
hộ các loài linh trƣởng, trạm cứu hộ Rùa và Cầy vằn tại VQG Cúc Phƣơng cũng là
điểm dừng chân thú vị cho khách du lịch.
Các hệ sinh thái đất ngập nƣớc với nhiều loài chim nƣớc và các loài thuỷ
sinh cũng đang thu hút nhiều khách du lịch. VQG Xuân Thuỷ (Nam Định), với hệ
sinh thái rừng ngập mặn bãi bồi ven biển là nơi cƣ trú của hàng trăm loài chim, nổi
tiếng nhất là loài Cò thìa và Choi choi mỏ thìa. KBTTN Vân Long (Ninh Bình) bao
gồm cả hệ sinh thái đất ngập nƣớc và hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi. Tại đây du
khách có thể ngắm nhìn từng bầy Voọc mông trắng và quan sát nhiều loài sinh vật
thuỷ sinh và các loài chim nƣớc nhƣ Sâm cầm. VQG Tràm chim là nơi bảo tồn hệ
sinh thái tự nhiên Đồng Tháp Mƣời với loài đặc hữu là Sếu đầu đỏ đã thu hút hàng
nghìn khách du lịch mỗi năm [24].
Các khu DLST biển nổi tiếng nhƣ Cát Bà, Hòn Mun, Côn Đảo, Phú Quốc đã
và đang có kế hoạch sử dụng tài nguyên sinh vật biển để phát triển nhiều dịch vụ du
lịch hấp dẫn nhƣ xem rùa đẻ, khám phá các rạn san hô và cỏ biển…
Hầu nhƣ khách đi DLST đều muốn trải nghiệm thực tế bằng cách khám phá
các VQG và khu BTTN, hệ sinh thái nông nghiệp, và trải nghiệm cuộc sống đời
thƣờng của ngƣời dân Việt Nam ở các vùng miền cùng với nhiều lễ hội truyền
thống và nền văn hóa bản địa đặc sắc.
Tuy có nhiều tiềm năng phát triển DLST, song lƣợng khách đến các VQG-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status