Nghiên cứu điều kiện phát triển du lịch sinh thái dải ven biển tỉnh Quảng Trị - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
__________________
TRẦN THỊ KIM BẢO

NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
DẢI VEN BIỂN TỈNH QUẢNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH HỌC

Hà nội, 2009

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
__________________ TRẦN THỊ KIM BẢO


CHƢƠNG1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH
SINH THÁI Ở DẢI VEN BIỂN
1.1. Cơ sở lý luận về du lịch và du lịch sinh thái
1.1.1. Khái niệm chung và các đặc trƣng cơ bản về du lịch
1.1.2. Khái niệm chung về du lịch sinh thái
1.1.3. Đặc trƣng của du lịch sinh thái
1.1.4. Các nguyên tắc của du lịch sinh thái
1.1.5. Khái niệm về tài nguyên du lịch và tài nguyên du lịch sinh thái
1.1.6. Vai trò của du lịch sinh thái trong quá trình phát triển kinh tế xã
hội
1.2. Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên cho mục đích du lịch sinh
thái
1.2.1. Khái niệm chung
1.2.2. Đánh giá các yếu tố tự nhiên cho mục đích du lịch và du lịch sinh
thái
1.3. Các vấn đề lý luận cơ bản về dải ven biển
1.3.1. Khái niệm dải ven biển( Đới bờ)
1.3.2. Các tiêu chí để xác định không gian đới bờ và ranh giới khu vực
CHƢƠNG 2: KHÁI QUÁT CÁC ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH
SINH THÁI DẢI VEN BIỂN TỈNH QUẢNG TRỊ
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên
2.1.1. Vị trí địa lý khu vực nghiên cứu
2.1.2 . Đặc điểm Địa chất
2.1.3 Đặc điểm Địa mạo
2.1.4. Đặc điểm khí hậu
1
1
2
2
3

2. 2. 3. Một số vấn đề về môi trƣờng
2. 2. 4. Chính sách phát triển kinh tế xã hội và môi trƣờng ở Quảng Trị
2.3. Đặc điểm tài nguyên du lịch
2.3.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
2.3.2 Đặc điểm tài nguyên du lịch nhân văn
CHƢƠNG 3. ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH
SINH THÁI DẢI VEN BIỂN TỈNH QUẢNG TRỊ
3.1. Hiện trạng phát triển du lịch dải ven biển Quảng trị
3.1.1 Khách du lịch
3.1.2. Doanh thu du lịch
3.1.3 Vị trí ngành du lịch trong cơ cấu GDP của tỉnh
3.1.4. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch
3.1.5. Hệ thống quản lý và lao động trong ngành du lịch
3.2. Định hƣớng phát triển du lịch sinh thái dải ven biển
3.2.1. Những căn cứ phát triển du lịch sinh thái dải ven biển tỉnh Quảng
Trị
3.2.2 Định hƣớng quy hoạch và phát triển du lịch sinh thái
A. Cơ sở định hƣớng phát triển du lịch sinh thái
B. Định hƣớng quy hoạch phát triển du lịch sinh thái một số cụm và khu
du lịch
a. Định hƣớng quy hoạch khu ƣu tiên phát triển du lịch sinh thái Cửa
Tùng - Vịnh Mốc - Rú Lịnh
b. Quy hoạch định hƣớng khu du lịch sinh thái Mỹ Thủy- trằm Trà Lộc
và lân cận
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
A. Kết luận
B. Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
35
35


DANH MỤC HÌNH
trang
Hình 1. Sơ đồ khu vực nghiên cứu
Hình 1.1. Sơ đồ 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách-
Michael Coltman.1998
Hình 1.2. Mô hình cấu trúc du lịch sinh thái (theo Phạm Trung Lƣơng,
2001)
Hình 1.3. Sơ đồ đới bờ
Hình 1.4. Mối quan hệ giữa đới bờ và hệ thống tài nguyên đới bờ (Chua,
1993)
Hình 2.1 Bản đồ mạng lƣới thuỷ văn khu vực nghiên cứu
Hình 2.2 Bản đồ thảm thực vật khu vực nghiên cứu
Hình 2.3. Bản đồ tài nguyên du lịch khu vực dải ven biển tỉnh Quảng Trị
Hình 3.1 Biểu đồ khách du lịch đến Quảng Trị và dải ven biển qua các
năm
Hình 3.2. Biểu đồ biến động lƣợt khách quốc tế đến Quảng Trị
Hình 3.3. Biểu đồ biến động lƣợng khách nội địa đến Quảng Trị
Hình 3.4. Biểu đồ biến động doanh thu du lịch
Hình 3.5.Sơ đồ quy hoạch định hƣớng khu du lịch sinh thái Cửa Tùng-
Vịnh Mốc-Rú Lịnh
Hình 3.6. Bản đồ quy hoạch định hƣớng khu du lịch sinh thái Trà Lộc-
Bãi biển Mỹ Thuỷ và lân cận
4
5

6
18
20


0
C)
Bảng 2.2. Ngày chuyển nhiệt độ qua các cấp 18
0
C và 20
0
C
Bảng 2.3. Độ ẩm tƣơng đối trung bình tháng
Bảng 2.4. Tần suất các hƣớng gió và lặng gió các tháng tại Đông Hà
Bảng 2.5. Một số đặc điểm khí hậu, hải văn tại Cửa Tùng
Bảng 2.6. Một số hồ chứa có dung tích trên 1 triệu m
3
Bảng 2.7. Công suất khai thác thiết kế trong tầng chứa nƣớc Pleistocen-
Neogen
Bảng 2.8. Kết quả phân tích mẫu nƣớc tại dải ven biển Quảng Trị năm
13

14

14

15

16
17

26
26
27
28


71
71

72
74
74
75

75
86

DANH MỤC ẢNH
trang
Ảnh 1.1, 1.2. Hình thái độc đáo do phong hóa bóc vỏ trên đá bazan
Ảnh 1.3. Trầm tích biển tuổi Pleistocen muộn phủ trên bazan tại bờ biển
Vĩnh Thái - nơi có thể trở thành điểm du lịch khoa học
Ảnh 1.4. Bãi biển rộng, thoải, phía trong là các vách biển trên đá bazan,
tạo nên tính đa dạng của cảnh quan bờ biển
Ảnh 1.5. Trằm Trà Lộc
Ảnh 1.6. Dòng suối Klu
Ảnh 2.1. Bãi biển Cửa Tùng
Ảnh 2.2. Bãi biển Bắc Cửa Việt
Ảnh 2.3. Bãi biển Vĩnh Thái
Ảnh 2.4. Dòng nƣớc ngọt chảy từ cồn cát ra biển( Vĩnh Thái)
Ảnh 2.5. Bãi biển Mỹ Thuỷ
Ảnh 2.6. Bãi biển phía Nam Vịnh Mốc

54
54
54
54
56

56
56
57
Ảnh 2.22 . Khu di tích Hiền Lƣơng
Ảnh 2.23, 2.24. Hồ chứa nƣớc Trúc Kinh - nơi có thể trở thành khu du
lịch sinh thái
Ảnh 2.25, 2.26. Di tích Thành cổ Quảng Trị
Ảnh 2.27, 2.28. Địa đạo Vịnh Mốc - di tích lịch sử cách mạng,
công trình ngầm độc đáo trong đá bazan
Ảnh 2.29, 2.30. Bãi biển Cửa Tùng đẹp, song quá hẹp, hiện không đƣợc
quy hoạch hợp lý. Hình ảnh năm 2003 (ảnh trái) và năm 2005 (ảnh phải)
Ảnh 2.31, 2.32. Bãi biển từ mũi Hàu đến mũi Si - nơi có thể mở rộng
phạm vi của bãi tắm Cửa Tùng
Ảnh 2.33. Bãi biển giữa mũi Rồng và mũi Lay, nơi có thể quy hoạch bãi
tắm hạn chế
Ảnh 2.34. Khai thác ilmenit trên bãi biển - cần đƣợc quy hoạch để có thể
trở thành điểm tham quan
Ảnh 2.35. Rừng cao su trên đất đỏ bazan Vĩnh Linh
Ảnh 2.36. Đầm nƣớc ngọt và lớp phủ rừng tại trằm Trà Lộc
Ảnh 2.37. Vƣờn thú trong trằm Trà Lộc
57
57

59

Bảo và trong tương lai gần là trục đường xuyên Á (Myanma - Thái Lan - Lào - Việt
Nam). Đó là những điều kiện hết sức thuận lợi cho Quảng Trị trong giao lưu phát triển
kinh tế, thương mại, các tuyến, điểm du lịch.
Khu vực dải ven biển tỉnh Quảng Trị sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân
văn rất có giá trị. Các bãi tắm Cửa Tùng, Cửa Việt, trằm Trà Lộc, Rú Lịnh, sông Bến Hải
- cầu Hiền Lương, thành cổ Quảng Trị, địa đạo Vịnh Mốc, căn cứ Dốc Miếu, thánh địa
La Vang, cùng với khí hậu thuận lợi, bãi cát trắng, mịn, làn nước trong xanh vô cùng
hấp dẫn, hứa hẹn tạo nên những điều kiện có tiềm năng to lớn cho phát triển du lịch sinh
thái trong một tương lai gần.
Trên cơ sở thấy được tiềm năng phát triển du lịch sinh thái của tỉnh Quảng Trị nói
chung và khu vực dải ven biển nói riêng, đề tài nghiên cứu đã được lựa chọn là: “Nghiên
cứu điều kiện phát triển du lịch sinh thái dải ven biển tỉnh Quảng Trị”
1. Mục tiêu nghiên cứu:
Đánh giá hiện trạng tài nguyên tự nhiên và nhân văn góp phần định hướng phát triển
du lịch sinh thái dải ven biển tỉnh Quảng Trị theo hướng bền vững.
2. Nội dung nghiên cứu:
1) Điều tra khảo sát, kiểm kê, đánh giá tổng hợp về hiện trạng, tiềm năng các nguồn tài
nguyên tự nhiên cho phát triển du lịch sinh thái dải ven biển tỉnh Quảng Trị.
2) Nghiên cứu, đánh giá các điều kiện về tài nguyên du lịch nhân văn nhằm phát triển du
lịch.
3) Đánh giá hiện trạng phát triển du lịch và du lịch sinh thái
4) Xác lập cơ sở khoa học cho việc định hướng phát triển du lịch sinh thái dải ven biển
5) Nghiên cứu đề xuất giải pháp cho phát triển du lịch sinh thái dải ven biển tỉnh Quảng
Trị.
3. Cơ sở dữ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
a- Các tài liệu sử dụng: Các số liệu điều tra khảo sát thực địa, kết quả nghiên cứu các đề
tài cấp nhà nước đã nghiên cứu khu vực này, số liệu thống kê của các Sở, Ban ngành tỉnh
Quảng Trị, số liệu, tài liệu, bản đồ, sơ đồ
b- Các phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật chính được sử dụng
+ Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: thu thập các tài liệu, văn bản, công trình

Chương 3: Đánh giá điều kiện phát triển du lịch sinh thái dải ven biển tỉnh Quảng Trị.
Hình
1: Sơ đồ khu vực nghiên cứu
CHƢƠNG1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ DU LỊCH SINH THÁI
Ở DẢI VEN BIỂN
1.1. Cơ sở lý luận về Du lịch và Du lịch sinh thái
1.1.1. Khái niệm chung và các đặc trưng cơ bản về du lịch
Khái niệm về du lịch được đề cập theo nhiều khía cạnh khác nhau:
- Theo định nghĩa của hai nhà kinh tế Hunsker và Kraff: "Du lịch là tập hợp các mối
quan hệ và hiện tượng phát sinh trong những cuộc hành trình và lưu trú của những người
ngoài địa phương, nếu như việc lưu trú đó không trở thành lưu trú thường xuyên và
không có hoạt động kiếm lời"[28].
- Định nghĩa của Michael Coltman (Mỹ): "Du lịch là sự kết hợp với tương tác của 4
nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách” [13]. Hình 1.1. Sơ đồ 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách
(Michael Coltman,1991)
1.1.2. Khái niệm chung về du lịch sinh thái
"Du lịch sinh thái"(Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới. Trên thế giới và Việt
Nam có nhiều cách hiểu và những khái niệm khác nhau về loại hình du lịch này, tuy
nhiên các khái niệm đều hướng tới bản chất là “Chỉ có du lịch dựa vào tự nhiên, được
quản lý bền vững, hỗ trợ bảo tồn và có giáo dục môi trường”[10].

tồn, có giáo dục môi trường và hỗ trợ cộng đồng.
DU LỊCH
DU LỊCH
SINH THÁI
Du lịch ủng hộ
bảo tồn
Du lịch thiên nhiên
văn hóa bản địa
Du lịch có giáo
dục môi trường
Du lịch hỗ trợ
cộng đồng địa
phương

Hình 1.2. Mô hình cấu trúc du lịch sinh thái (Phạm Trung Lương, 2001)
1.1.3. Đặc trưng của du lịch sinh thái
- Du lịch sinh thái phát triển trên địa bàn phong phú về tự nhiên và các yếu tố văn hóa
bản địa. Đối tượng của du lịch sinh thái là những khu vực hấp dẫn về tự nhiên còn hoang
sơ và những nét văn hóa bản địa đặc sắc. Sự phong phú về cảnh quan tự nhiên sẽ giúp du
khách có cơ hội được khám phá, thưởng thức thiên nhiên đồng thời lại có dịp được tìm
hiểu về nét văn hoá của người dân địa phương.

các hoạt động du lịch sinh thái khi được khuyến khích.
- Các chiến dịch thị trường cần tôn trọng môi trường, du lịch không nên làm tổn hại đến
nền văn hóa và xã hội địa phương. Khi xảy ra sự tổn hại này thì bản thân nội dung của
các hoạt động trong du lịch sinh thái cũng sẽ bị ảnh hưởng, làm giảm tính hấp dẫn và có
thể gây ra một số hậu quả xấu về môi trường.
- Có khả năng hấp dẫn số lượng khách du lịch ngày càng tăng và thường xuyên đáp ứng
cho du khách những kinh nghiệm du lịch lý thú. Chính nét đặc trưng của du lịch sinh thái
đã hấp dẫn du khách, kích thích sự tìm hiểu, khám phá của du khách.
- Khách du lịch cần được cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác về khu vực đến thăm,
đảm bảo tính giáo dục cao. Đây là nguyên tắc rất quan trọng đảm bảo quyền lợi và nghĩa
vụ của du khách. Khi bất kỳ du khách nào định đi đến đâu thì họ đều được quyền tìm
hiểu và được cung cấp các thông tin về tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng đó. Từ đó họ ý
thức được nhứng việc được làm và không được làm khi tới thăm quan khu vực đó.
1.1.5. Khái niệm về tài nguyên du lịch và tài nguyên du lịch sinh thái
Tài nguyên du lịch là một dạng trong toàn bộ tài nguyên được con người sử dụng.
Theo Pirôginoic (1985): "Tài nguyên du lịch là các thành phần và thể cảnh quan tự nhiên
và nhân sinh có thể dùng để tạo ra sản phẩm du lịch, thoả mãn nhu cầu về chữa bệnh, thể
thao, nghỉ ngơi hay tham quan, du lịch"[51].
Trong Luật du lịch Việt Nam(1999), tài nguyên du lịch được hiểu là:“cảnh quan thiên
nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo
của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch, các yếu tố cơ bản để
hình thành các điểm du lịch, khu du lịch, nhằm tạo sự hấp dẫn du lịch” [11].
Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm các thành phần của tự nhiên, các thể tổng hợp tự
nhiên và các hiện tượng đặc sắc của thiên nhiên. Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm
các di tích lịch sử văn hoá, lễ hội, làng nghề, phong tục tập quán, ẩm thực, các sự kiện
Tài nguyên du lịch sinh thái là một bộ phận quan trọng của tài nguyên du lịch bao
gồm các giá trị tự nhiên thể hiện trong một hệ sinh thái cụ thể và các giá trị văn hoá bản
địa tồn tại và phát triển không tách rời khỏi hệ sinh thái tự nhiên đó.
1.1.6. Vai trò của du lịch sinh thái trong quá trình phát triển kinh tế xã hội
*. Vai trò của du lịch sinh thái trong phát triển kinh tế xã hội.

đánh giá các sản phẩm do con người hay cộng đồng tạo nên xem chúng có khả năng thu
hút khách hay có khả năng khai thác phục vụ phát triển một loại hình du lịch nào đó nói
riêng và phát triển du lịch nói chung hay không. Khi đánh giá tài nguyên cho mục đích du
lịch thường sử dụng các kiểu đánh giá như:
- Đánh giá tâm lý - thẩm mỹ: là đánh giá mức độ cảm xúc và phản ứng về tâm lý, thẩm
mỹ của khách du lịch đối với các dạng tài nguyên du lịch.
- Đánh giá sinh học: là đánh giá các điều kiện môi trường (khí hậu, không khí, nước
khoáng ) thích hợp với sức khoẻ con người hoặc với một hoạt động du lịch nào đó.
- Đánh giá kỹ thuật: nhằm xác định giá trị của tài nguyên du lịch đối với một loại hình du
lịch hoặc một loại công trình phục vụ du lịch.
- Đánh giá kinh tế: là xác định giá trị của khu vực có các tài nguyên du lịch có thể khai
thác.
- Đánh giá độ hấp dẫn của điểm du lịch: là xem xét khả năng thu hút khách của điểm du
lịch đó để từ đó có kế hoạch khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên du lịch.
Trên thực tế việc đánh giá tài nguyên du lịch theo từng dạng riêng biệt như địa hình,
khí hậu, nguồn nước, sinh vật là cần thiết, tuy nhiên, do tính chất tổng hợp của tài
nguyên, của các tổng thể tự nhiên, đòi hỏi phải tiến hành đánh giá tổng hợp các dạng tài
nguyên trên một lãnh thổ.
Một tài nguyên du lịch không chỉ đánh giá đơn thuần về mức độ hấp dẫn mà còn phải
nhiều yếu tố cần quan tâm như: sức chứa du lịch, thời gian khai thác, vị trí và khả năng
tiếp cận, độ bền vững, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, hiệu quả kinh tế
và còn nhiều yếu tố khác. Kết quả đánh giá sẽ là cơ sở ban đầu cho việc lựa chọn các
phương án quy hoạch lãnh thổ phục vụ phát triển du lịch.
Đánh giá lãnh thổ cho mục đích du lịch - nghỉ dưỡng là một hướng thuộc lĩnh vực
đánh giá các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên cho mục đích kinh tế. Hướng
này đã được nhiều nhà địa lý đề cập đến trong các công trình của mình. Trước hết, phải
kể đến công trình của các nhà địa lý Xô Viết như V.Xtauxkat, 1969, nghiên cứu các chỉ
tiêu đánh giá cảnh quan phục vụ mục đích quy hoạch du lịch[36}. Ông đã đề cập đến cả
những yếu tố tự nhiên cũng như kinh tế (rừng, sông, địa hình, đường sá ) khi đánh giá
cho mục đích du lịch. M.G.Bôjcơ, đánh giá các điều kiện cho việc phát triển du lịch nghỉ

này mới chỉ dừng lại ở mức khái quát, định tính và cũng chưa tiến hành xây dựng được
các hệ thống chỉ tiêu, cho điểm cụ thể.
Những công trình tiến hành đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên và tài nguyên
thiên nhiên phục vụ mục đích du lịch ở tỷ lệ lớn như: “Đánh giá và khai thác các điều
kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên huyện Ba Vì (Hà Tây) phục vụ mục đích du lịch”
(Đặng Duy Lợi, 1993)[42]. Trong công trình của mình, tác giả Đặng Duy Lợi đã đánh giá
tổng hợp các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của khu vực cho mục đích phát
triển du lịch nói chung. Căn cứ vào số điểm đánh giá của khu vực so với điểm tối đa để
kết luận xem khu vực thuận lợi tới mức nào cho việc phát triển du lịch, đây chính là
hướng đánh giá mức độ thuận lợi các tổng thể tự nhiên cho mục đích du lịch.
Tiếp theo là các công trình của Nguyễn Thế Chinh, (1995) “Cơ sở khoa học của việc
xác định các điểm, tuyến du lịch Nghệ An”[43], của Hồ Công Dũng, 1996 “Cơ sở khoa
học cho việc xây dựng các tuyến, điểm du lịch vùng Bắc Trung Bộ”[44], cũng theo
hướng đánh giá mức độ thuận lợi. Các tác giả đã xem việc đánh giá các điều kiện tự
nhiên và tài nguyên du lịch là cơ sở của việc xác định các điểm, tuyến du lịch. Vì vậy, họ
đã tiến hành đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên trong khu
vực cho việc phát triển du lịch. Gần đây, luận án của Lê Văn Tin, 1999, “Đánh giá tài
nguyên thiên nhiên tỉnh Thừa Thiên Huế phục vụ du lịch”[45] cũng theo hướng này.
Hầu hết các tác giả đều đánh giá cho mục đích du lịch nói chung chứ chưa đi vào
đánh giá cụ thể một loại hình du lịch nào (vị trí của điểm du lịch; độ hấp dẫn; cơ sở hạ
tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch; thời gian hoạt động du lịch; sức chứa khách du
lịch; độ bền vững của điểm du lịch và có thêm yếu tố hiệu quả kinh tế ở các công trình
của Nguyễn Thế Chinh và Hồ Công Dũng).
Trong cuốn “Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam” (Phạm Trung Lương,
2001)[9] tác giả đã đề cập đến các kiểu đánh giá, các phương pháp đánh giá theo từng
dạng tài nguyên du lịch và đánh giá tổng hợp các dạng tài nguyên du lịch. Đây là công
trình tổng quan phần lý luận về đánh giá tài nguyên du lịch đầu tiên ở nước ta.
1.2.2. Đánh giá các yếu tố tự nhiên cho mục đích du lịch và du lịch sinh thái
* Khả năng đi lại được của lãnh thổ quyết định khả năng sử dụng nó cho du lịch, mở
đường giao thông đi lại, đường điện, đường dây thông tin

5
6
7
8
9
2
Núi trung bình
2
-
2
3
4
5
6
7
3
Núi thấp
4
2
-
1
2
3
4
5
4
Cao nguyên
5
3
1

3
2
1
-
1
8
Đồng bằng thấp
9
7
5
4
3
2
1
-
Bảng 1.2. Đánh giá mức độ tương phản giữa các thể tổng hợp tự nhiên.
(theo Đặng Duy Lợi, 1991)
Thể tổng hợp tự nhiên
Cấp đánh giá
Rừng với hồ chứa nước
Cánh đồng với hồ chứa nước
Rừng với cánh đồng
Cây bụi với cánh đồng
Rừng với cây bụi
Cánh đồng với đồng cỏ
4
3
3
2
2

C)
Lượng mưa năm
(mm)
1
2
3
4
5
Thích nghi
Khó thích nghi
Nóng
Rất nóng
Không thích nghi
18 - 24
24 - 27
27 - 29
29 - 32
>32
24 - 27
27 - 29
29 - 32
32 - 35
>35
<6
6 - 8
8 - 14
14 - 19
>19
1250 - 1900
1900 - 2550

(Viện Địa Lý-Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô)
Chiều rộng của bãi nông (m)
Nền đáy của
bãi nông
Số ngày mùa hè có T
o
nước trung bình hàng
ngày = 18 - 20
o
C
Tốc độ dòng
chảy (m/s)
%DTTV
nước ở trên
bờ 100m cách
bờ
Đặc điểm
Bậc đánh
giá
Đặc
điểm
Bậc
đánh
giá
Đặc điểm
Bậc đánh giá
Đặc
điểm
Bậc
đánh

30
4
3
2
1
0
0
0 - 1
1 - 2
2 - 3
3
4
3
2
1
0
0
0 - 10
10 -
50
>50
4
3
2
1
0
Trong điều kiện xã hội phát triển, rất nhiều những những công trình khoa học đã tiến
hành nghiên cứu hàng loạt các loại hình du lịch nhằm mục đích phục vụ tối đa nhu cầu đi
du lịch của khách du lịch.
- Du lịch tham quan, nghiên cứu khoa học các hệ sinh thái ở vùng biển như cửa sông,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status