ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
==================
VŨ THỊ HẢI BÌNH
NGHIÊN CỨU CÁC ĐIỀU KIỆN PHÁT
TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. TRẦN ĐỨC THANH
Hà Nội - 2013
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Lịch sử nghiên cứu 7
3. Mục đích nghiên cứu 8
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 8
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
6. Phương pháp nghiên cứu 9
7. Kết cấu của đề tài 10
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH
SINH THÁI 11
1.1. Những khái niệm cơ bản 11
1.1.1. Du lịch sinh thái 11
1.1.2. Khách du lịch sinh thái 13
1.1.3. Phát triển du lịch sinh thái 13
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của du lịch sinh thái 14
2.3. Điều kiện cung du lịch sinh thái Hà Giang 42
2.3.1. Điều kiện tài nguyên du lịch sinh thái 42
2.3.2. Điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật 55
2.3.3. Điều kiện nhân lực 58
2.3.4. Các tuyến du lịch và sản phẩm du lịch 59
2.3.5. Nhận xét điều kiện cung 63
2.4. Điều kiện cầu du lịch sinh thái Hà Giang 64
2.4.1.Thời gian rỗi 64
2.4.2.Cầu về sản phẩm 64
2.4.3. Các điều kiện khác 70
2.4.4. Nhận xét điều kiện cầu 71
2.5. Phân tích SWOT cho các điều kiện phát triển du lịch sinh thái
Hà Giang 72
2.5.1. Những điểm mạnh 72
2.5.2. Những điểm yếu 73
3
2.5.3. Cơ hội để phát triển các điều kiện 74
2.5.4. Những thách thức 75
Tiểu kết chƣơng 2 76
Chƣơng 3. GIẢI PHÁP PHÁT HUY CÁC ĐIỀU KIỆN NHẰM PHÁT
TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI HÀ GIANG 77
3.1. Cơ sở đề xuất giải pháp 77
3.1.1. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh 77
3.1.2.Căn cứ vào điều kiện cung 79
3.1.3.Căn cứ vào xu thế cầu 79
3.2. Các giải pháp 80
3.2.1. Giải pháp thu hút đầu tư 82
3.2.2. Giải pháp về quy hoạch 87
3.2.3. Giải pháp phát triển sản phẩm 82
5
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động du lịch Hà Giang từ năm 2007 - 2011 39
Bảng 2.2: Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm (Trạm Hà Giang) 44
Bảng 2.3: Lượng mưa các tháng trong năm (Trạm Hà Giang) 45
Bảng 2.4: Giờ nắng các tháng trong năm (Trạm Hà Giang) 46
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Du lịch nói chung và du lịch sinh thái (DLST) nói riêng ngày nay đã và
đang phát triển nhanh chóng như một trào lưu tại nhiều quốc gia trên thế giới.
DLST ngày càng thu hút được sự quan tâm rộng rãi của các tầng lớp dân cư trong
xã hội. Đặc biệt trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra nhanh
chóng của Việt Nam kể từ khi sau thời kỳ đổi mới năm 1986, khi mà các khu
công nghiệp, chế xuất, khu kinh tế được phát triển ồ ạt, dân số không ngừng gia
tăng, đô thị hóa và tập trung dân cư với mật độ dân cư cao, tình trạng ô nhiễm
môi trường diễn ra ngày càng nghiêm trọng thì việc tìm về với tự nhiên, thăm
quan tại những khu du lịch đã trở thành nhu cầu tất yếu của con người. Những
địa phương nào còn giữ nhiều khu thiên nhiên, khu bảo tồn, ít bị xâm hại bởi quá
trình phát triển các dự án công nghiệp và còn có được sự cân bằng sinh thái thì
nơi đó sẽ có tiềm năng phát triển tốt về DLST và thu hút được nguồn du khách
lớn, lâu dài và ổn định, từ đó có thể mang lại những lợi ích kinh tế to lớn góp
phần làm tăng thu nhập quốc dân.
phát triển DLST ở Việt Nam giúp nâng cao hiểu biết của xã hội về DLST và
cung cấp những thông tin bổ ích về DLST. Ngoài ra Phạm Trung Lương cũng có
rất nhiều đề tài nghiên cứu liên quan như: Cơ sở khoa học phát triển Du lịch sinh
thái ở Việt Nam (1996), Xây dựng hướng dẫn phát triển Du lịch sinh thái góp
phần bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam (2003), Cơ sở khoa học và giải pháp
phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam (2002)
Bên cạnh đó những vấn đề về phát triền DSLT được thể hiện trong các công
trình nghiên cứu phát triển du lịch bền vững đó là những tác giả Nguyễn Đình Hòe,
Vũ Văn Hiếu (2001), Phạm Trương Hoàng (2008), Vũ Văn Đông (2010).
Một số công trình tuy không nói cụ thể về DLST, song cũng cung cấp cho người
đọc những tiếp cận có tính sinh thái như kiến thức về văn hóa ứng xử trong du lịch
của Trần Thúy Anh (2004), kiến thức về kinh tế du lịch của Trần Thị Minh Hòa
8
(2004) và Vũ Mạnh Hà (2006), kiến thức về thị trường du lịch của Nguyễn Văn Lưu
(2002) nhằm khai thác hợp lý các tài nguyên du lịch.
Nghiên cứu về Hà Giang cũng có một số tài liệu như:
- “Di sản lịch sử - Văn hóa với phát triển du lịch Hà Giang - Nhận thức và
vấn đề của” của Lâm Bá Nam (2011).
- “Giải pháp đột phá một số ngành – lĩnh vực vì Hà Giang phát triển” của
Mai Trọng Nhuận, Vũ Minh Khang (2011).
- Đề tài khoa học cấp quốc gia “Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát
huy giá trị Công viên Địa chất Toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn” của tác giả
Vũ Văn Tích (2011)
- Hợp đồng khoa học “Đánh giá điều kiện địa lí phục vụ định hướng phát
triển kinh tế xã hội Hà Giang” do các cán bộ giảng dạy khoa Địa lý Địa chất Đại
học Tổng hợp Hà Nội thực hiện.
Như vậy đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về DLST và những công
trình nghiên cứu đề cập đến những vấn đề liên quan đến tiềm năng phát triển du
lịch ở Hà Giang, tuy nhiên chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể thể nào về
Phương pháp này có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu nhu cầu
của du khách, nắm bắt được sở thích, thị hiếu của du khách qua hình thức phỏng
vấn hoặc phiếu điều tra. Đồng thời giúp nắm bắt được thị trường tiềm năng, thị
trường mục tiêu.
Luận văn đã tiến hành điều tra nhu cầu về DLST tại Hà Giang của 50
khách quốc tế và 50 khách nội địa, dựa trên kết quả điều tra, nghiên cứu đưa ra
thực trạng của điều kiện cầu đối với DLST Hà Giang, từ đó nêu ra các giải pháp
nhằm phát triển các điều kiện DLST ở Hà Giang.
Về mặt lý thuyết số lượng phiếu điều tra trên chưa đủ, song do điều kiện
thời gian, kinh phí có hạn nên luận văn chỉ có điều kiện điều tra với số lượng như
trên. Tuy nhiên kết quả điều tra cũng đã giúp cho thấy những thông số cơ bản về
điều kiện cầu sản phẩm DLST ở Hà Giang.
- Phương pháp khảo sát thực địa
10
Trong quá trình nghiên cứu đề tài tác giả đã đi đến UBND tỉnh Hà Giang,
Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch Hà Giang, Ban Quản lý CVĐCTC cao
nguyên đá Đồng Văn xin số liệu, khảo sát cũng như chụp ảnh để bổ sung vào bài
làm của mình, giúp cho bài làm thêm chi tiết và tăng sức thuyết phục. Lượng
thông tin thu thập được đảm bảo sát với thực tế, có độ tin cậy cao, tạo cơ sở để đề
xuất các giải pháp phát triển DLST Hà Giang.
- Phương pháp phân tích SWOT
Trong đề tài tác giả đã tiến hành phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ
hội, thách thức đối với các điều kiện phát triển DLST Hà Giang nhằm đưa ra các
giải pháp phát triển các điều kiện.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm ba chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận về điều kiện phát triển DLST
Chương 2: Thực trạng điều kiện phát triển DLST tỉnh Hà Giang
- Định nghĩa của Nêpal: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch đề cao sự tham
gia của nhân dân vào việc hoạch định và quản lý các tài nguyên du lịch để tăng
cường phát triển cộng đồng, liên kết giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển du
12
lịch, đồng thời sử dụng thu nhập từ du lịch để bảo vệ các nguồn lực mà ngành du
lịch phụ thuộc vào” (trang 9)
- Định nghĩa của Ôxtrâylia:“Du lịch sinh thái là du lịch dựa vào thiên nhiên,
có liên quan đến sự giáo dục và diễn giải về môi trường thiên nhiên, được quản
lý bền vững về mặt sinh thái” (trang 10)
- Định nghĩa của Hiệp hội DLST quốc tế: “Du lịch sinh thái là việc đi lại có
trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện
phúc lợi cho người dân địa phương” (trang 10)
- Ở Việt Nam, có khá nhiều nhà khoa học đã đưa ra định nghĩa về DLST, tiêu
biểu là Phạm Trung Lương (Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch); Lê Văn Lanh
(Hội các Vườn Quốc gia Việt Nam); Lê Huy Bá (Đại học Công nghiệp Thành
phố Hồ Chí Minh) cũng theo Phạm Trung Lương (2002) để có được sự thống
nhất về khái niệm cơ sở cho công tác nghiên cứu và hoạt động thực tiễn phát
triển DLST, Tổng cục Du lịch Việt Nam đã phối hợp với nhiều tổ chức trong
nước và quốc tế tổ chức Hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển
Du lịch sinh thái ở Việt Nam” năm 1999. Một trong những kết quả quan trọng
của hội thảo là lần đầu tiên đã đưa định nghĩa về DLST ở Việt Nam, theo đó:
“Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn
với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững,
với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”. Đây được coi là sự mở đầu
thuận lợi cho các bước tiếp theo trong quá trình phát triển của DLST ở Việt Nam
(trang 11).
Nhìn chung, các định nghĩa về DSLT có thể khác nhau về cách thể hiện, cách
diễn đạt nhưng trong các định nghĩa đều có sự thống nhất ở 4 điếm sau:
- DLST phải được thực hiện trong môi trường tự nhiên còn hoang sơ hoặc
lai phát triển lâu dài của hệ sinh thái với tư cách là một ngành kinh tế. Bên cạnh xu
thế phát triển DLST do nhu cầu khách quan, xu thế này còn không nằm ngoài xu
thế chung về phát triển xã hội của loài người khi các giá trị tài nguyên ngày càng
bị suy thoái, bị khai thác cạn kiệt.
14
Cùng với việc nỗ lực bảo tồn, khai thác phát huy các giá trị tài nguyên thiên
nhiên và văn hóa phục vụ phát triển kinh tế thông qua DLST. Với tư cách là một
ngành kinh tế mũi nhọn - Du lịch trong đó có DLST ngày càng khẳng định vị thế
của mình đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Như vậy, có thể hiểu phát triển DLST là một quá trình hoạt động sao cho:
- Môi trường tự nhiên cũng như văn hóa bản địa không bị xâm hại.
- Các đặc tính tự nhiên, văn hóa, xã hội của khu vực ngày càng được hỗ
trợ nhiều hơn.
- Hoạt động du lịch mang lại cho cộng đồng cư dân ngày một gia tăng.
Người dân địa phương ngày càng tham gia nhiều về số lượng và tăng về chất
lượng hoạt động DLST.
- Hiệu quả công tác giáo dục môi trường ngày cang lan tỏa.
Trong đề tài này nghiên cứu các điều kiện phát triển DSLT ở Hà Giang
được hiểu là nghiên cứu các điều kiện chung, điều kiện cung và điều kiện cầu.
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của du lịch sinh thái
DLST là loại hình du lịch phát triển nhanh nhất hiện nay bởi xu hướng khách
ngày càng quan tâm đến các vấn đề môi trường và phát triển bền vững. Nguồn
gốc của DLST giống như sự tiến hóa hơn là cuộc cách mạng.
DLST bắt nguồn từ thiên nhiên và du lịch ngoài trời. Theo nhiều tài liệu khác
nhau thì quốc gia phát triển loại hình DLST đầu tiên là Nepal và hoạt động
DLST xuất hiện sớm nhất có lẽ là ở các nước Châu Âu, sau đó lan rộng ra toàn
thế giới.
Vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, khi cuộc cách mạng công nghiệp bùng
nổ ở các nước Châu Âu thì thế giới bắt đầu phát triển với tốc độ rất nhanh kéo
- Khách chụp ảnh có thể là những xâm nhập phiền toái đối với thiên nhiên. Sử
dụng máy ảnh máy quay có ống kính điều chỉnh cự li, càng dài càng tốt, tránh sử
dụng đèn nháy đối với hầu hết các con thú, không bao giờ được bẫy động vật
bằng thức ăn.
- Quan sát động vật từ một khoảng cách an toàn đối với chúng; luôn giữ
khoảng cách. Tất cả động vật có một “khoảng cách chạy trốn”, có nghĩa là chúng
16
cho phép bạn tiến lại trong một khoảng cách nhất định trước khi chúng chạy trốn.
Những người quan sát không nên vi phạm khoảng cách chạy trốn này. Khoảng
cách này thay đổi tùy theo loài cá thể, và hoàn cảnh xung quanh và phụ thuộc
vào phương thức di chuyển của khách.
- Làm quen với các luật lệ địa phương. Luôn luôn tôn trọng vùng đệm và
danh giới nếu chúng được quy định trên một khu vực quản lý. Không được vượt
ra khỏi giới hạn này. Không được vào các phân khu dành riêng cho bảo tồn được
gắn bảng hiệu. Nếu có các quy định hay chính sách địa phưong nơi du khách đến
thắm thì hãy thực hiện theo chúng.
- Hãy đứng ngoại vi của nhóm động vật tập trung. Không được bao quanh
một nhóm. Không bao giờ len vào giữa bố mẹ và con cái. Không cô lập các cá
thể trong nhóm. Nhường đường cho động vật. Không chạm vào các con vật.
- Nên gia nhập các tổ chức môi trường. Tham gia nỗ lực bảo tồn. Bù lại càng
nhiều càng tốt cho địa phương mình tới thăm những gì mà bạn nhận được từ địa
phương
Thứ 3, du khách tham gia hoạt động DLST sẽ được giáo dục và diễn giải để nâng
cao hiểu biết về môi trường qua đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn.
- Du khách khi rời khỏi nơi mình đến tham quan sẽ phải được sự hiểu biết
cao hơn về các giá trị của môi trường tự nhiên, về những đặc điểm sinh thái khu
vực và văn hóa bản địa. Với những hiểu biết đó, thái độ cư xử của du khách sẽ
thay đổi, được thể hiện bằng những nỗ lực tích cực hơn trong hoạt động bảo tồn
và phát triển những giá trị về tự nhiên, sinh thái và văn hóa khu vực.
cho cán bộ nhân viên trong cơ quan lưu trú.
- Bảo đảm các điều kiện vệ sinh môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm khi
cung cấp cho khách các dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ khác trong cơ sở
lưu trú.
- Đặt các thùng thu gom rác hợp vệ sinh, đảm bảo mỹ quan trong khuôn viên
cơ sở lưu trú; thu gom toàn bộ rác trong cơ sở lưu trú và phân loại rác để xử lý tại
chỗ hoặc vận chuyển đến nơi quy định; các chất thải nguy hại phải được phân
loại riêng để xử lý theo quy định của pháp luật về xử lý chất thải nguy hại.
18
- Xử lý nước thải trong cơ sở lưu trú phù hợp với tiêu chuẩn về môi trường.
- Thực hiện các biện pháp chống ồn và ô nhiễm không khí do hoạt động của
cơ sở lưu trú.
- Xây dựng nội quy bảo vệ môi trường của cơ sở lưu trú DLST phổ biến cho cán
bộ nhân viên của cơ sở lưu trú và khách lưu trú biết và thực hiện.
- Bố trí cán bộ có kiến thức, nghiệp vụ về bảo vệ môi trường du lịch theo dõi
công tác bảo vệ môi trường trong cơ sở lưu trú.
- Tham gia tích cực vào việc khắc phục ô nhiễm môi trường, suy thoái môi
trường và các phong trào bảo vệ môi trường do địa phương và ngành du lịch phát
động.
- Thực hiện quản lý, theo dõi, đánh giá định kỳ về tỉnh hình môi trường tại cơ
sở lưu trú và các số liệu về tiêu thụ năng lượng, nước, về rác thải; thu thập thông
tin phản hồi của khách về môi trường tại cơ sở lưu trú để không ngường cải thiện
và nâng cao chất lượng môi trường.
Thứ hai, việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ DLST trong vườn quốc gia,
khu bảo tổn thiên nhiên phải tuân theo các nguyên tắc sau:
- Phải lập báo các đánh giá tác động môi trường theo quy định của Luật Bảo
vệ môi trường trước khi tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ DLST.
- Không làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái tự nhiên, không làm thay đổi sinh
cảnh thực vật rừng, động vật hoang dã, dòng chảy sông suối, cảnh quan thiên
thế mà chúng ta bỏ qua vấn đề an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, cần chú
ý tạo thêm việc làm, tăng thêm thu nhập và góp phần ổn định kinh tế, xã hội và
bảo vệ an tinh quốc phòng cho khu vực.
Đa số du khách đều có mong muốn đi du lịch để tái hồi sức khỏe, mở mang
nhận thức, tìm kiếm những ấn tượng khó quên ở điểm đến. Họ không bao giờ
đến những nơi không đảm bảo an ninh và an toàn cho tính mạng của mình,
những nơi có hại đến sức khỏe, tạo ra những bực bội không đáng có.
1.4.1.2. Điều kiện kinh tế
Các điều kiện kinh tế của một vùng hay một quốc gia có khả năng phát triển
DLST là các nguồn vốn để duy trì và phát triển hoạt động DLST, các mối quan
20
hệ kinh tế với khách hàng; khả năng cung ứng vật tư hàng hóa, lương thực thực
phẩm cho tổ chức du lịch phải đảm bảo chất lượng tốt và thường xuyên.
Mục tiêu kinh tế đạt được của DLST thôi thúc sự phát triển kinh tế của những
vùng có khu DLST.
1.4.1.2. Chính sách phát triển du lịch
Chiến lược và chính sách phát triển DLST của một quốc gia, vùng có một ý
nghĩa cực kỳ quan trọng, nó tạo động lực thúc đẩy sự phát triển DLST.
Chiến lược phát triển DLST xác định những phương hướng phát triển du lịch
dài hạn, đề cập đến những vấn đề tổng thể của phát triển DLST như chiến lược
sản phẩm du lịch, chiến lược nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, chiến lược giữ
gìn tôn tạo và phát triển tài nguyên du lịch, môi trường, chiến lược đầu tư du lịch,
chiến lược giáo dục và đào tạo du lịch, chiến lược thị trường du lịch.
Hiện nay trên thế giới hầu như không có một nơi nào không tồn tại một bộ máy
quản lý xã hội. Rõ ràng rằng bộ máy quản lý này có vai trò quyết định đến hoạt
động của cộng đồng đó. Hoạt động du lịch không nằm ngoài quy luật chung ấy.
Một đất nước, một khu vực có tài nguyên du lịch phong phú, mức sống của người
dân không thấp nhưng chính quyền địa phương không yểm trợ cho các hoạt động du
lịch thì hoạt động này cũng không thể phát triển được.
phản, khác lạ giữa điểm du lịch và điểm nguồn khách.
Địa hình
Địa hình là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên phong cảnh
và sự đa dạng của phong cảnh ở nơi đó. Đối với du lịch, địa hình càng đa dạng,
tương phản và độc đáo càng có sức hấp dẫn du khách. Khách du lịch thường ưa
thích những nơi nhiều đồi núi và đối với nhiều người, địa hình đồng bằng thường
không hấp dẫn họ vì tính đơn điệu của nó. Trong các kiểu địa hình, kiểu địa hình
Karst (núi và hang động) và địa hình bờ nước là những tài nguyên du lịch rất có
giá trị.
Khí hậu
Những nơi có khí hậu ôn hòa thường được du khách ưa thích. Nhiều cuộc
thăm dò đã cho kết quả là du khách du lịch thường tránh những nơi quá lạnh, quá
22
ẩm hoặc quá nóng, quá khô. Những nơi có nhiều gió cũng không thích hợp cho
sự phát triển của du lịch. Mỗi loại hình du lịch đòi hỏi những điều kiện khí hậu
khác nhau. Ví dụ du khách đi nghỉ biển mùa hè thường chọn những dịp không
mưa, nắng nhiều nhưng không gắt, nước mát, gió vừa phải.
Số ngày mưa phải tương đối ít vào thời vụ du lịch biển. Điều đó có nghĩa là
địa điểm, vùng hoặc đất nước du lịch cần có mùa du lịch tương đối khô. Mỗi một
ngày mưa đối với du khách là một ngày hao phí cho mục đích của chuyến đi du
lịch và như vậy làm giảm hiệu quả của chuyến đi nghỉ biển.
Khách du lịch thường chuộng những nơi có nhiều ánh nắng mặt trời, do vậy
họ đổ đến những nước phía nam có khí hậu điều hòa và có biển. Những nơi có số
giờ nắng trung bình trong ngày cao thường được ưa thích và có sức hút hơn đối
với du khách.
Nhiệt độ cao khiến con người có cảm giác khó chịu. Nhiệt độ không khí phải ở
mức cho phép khách du lịch phơi mình được ở ngoài trời nắng là nhiệt độ thích hợp.
Trong các yếu tố của khí hậu, nhiệt độ và độ ẩm có liên quan chặt chẽ với nhau
và có ảnh hưởng chính đến cảm giác của con người. Qua quan trắc và nghiên cứu,
Tài nguyên nhân văn (văn hóa bản địa)
Bên cạnh những tiềm năng DLST tự nhiên – đối tượng chủ đạo của hoạt động
DLST, thì tài nguyên du lịch nhân văn (văn hóa bản địa) là một cấu thành không
thể tách rời. Phát triển DLST mang tính bền vững có mục tiêu giáo dục, duy trì,
bảo tồn và phát triển môi trường sinh thái tự nhiên, đồng thời cũng có trách
nhiệm bảo tồn và phát triển môi trường văn hóa, nhân văn trong khu vực. Nguồn
tài nguyên du lịch nhân văn trong các khu sinh thái tự nhiên hay là văn hóa bản
địa được hiểu bao gồm cộng đồng dân cư với vốn văn hóa truyển thống của họ
như: các di tích lịch sử văn hóa, các lễ hội, nghề và làng nghề thủ công truyền
thống
Các di tích lịch sử văn hóa
Là tài sản văn hóa quý giá của mỗi địa phương, mỗi đất nước và của cả nhân
loại. Di tích được hiểu theo nghĩa chung nhất là những tàn tích, dấu vết còn sót
lại của quá khứ, là tài sản của các thế hệ trước để lại cho các thế hệ kế tiếp. Theo
khoản 3 (Điều 4, chương 1) của Luật Di sản văn hóa (2011) thì di tích lịch sử văn
hóa được quy định như sau: “di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa