LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay du lịch là một ngành kinh tế đã, đang và sẽ phát triển. Điều kiện phát
triển du lịch đã trở thành một đề tài nghiên cứu hấp dẫn, lôi cuốn nhiều nhà nghiên
cứu trên toàn thế giới. Việc nghiên cứu về điều kiện phát triển du lịch của từng
nước là một công việc hết sức quan trọng tạo tiền đề cho sự phát triển du lịch của
mỗi nước. Chính vì thế mà không chỉ các nhà nghiên cứu du lịch quốc tế mà các
nhà du lịch Việt Nam đều rất quan tâm đến vấn đề này.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm tất cả các điều kiện liên quan đến
sự phát triển du lịch: Những điều kiện chung (điều kiện an ninh chính trị và an toàn
xã hội; điều kiện kinh tế; chính sách phát triển du lịch) và các điều kiện tự thân làm
nảy sinh nhu cầu du lịch (thời gian rỗi, khả năng tài chính của du khách tiềm năng;
trình độ dân trí); khả năng cung ứng nhu cầu du lịch (điều kiện tự nhiên và tài
nguyên du lịch thiên nhiên; điều kiện kinh tế và tài nguyên du lịch nhân văn; tình
hình và sự kiện đặc biệt; sự sẵn sàng đón tiếp) và sự hình thành điểm du lịch.
Mục đích nghiên cứu nhằm tìm ra các điều kiện thuận lợi cho sự phát triển
du lịch của đất nước. Từ việc nghiên cứu rõ ràng, tỉ mỉ, ta sẽ tìm ra cách đầu tư
thích đáng, hướng qui hoạch đúng đắn để phát triển du lịch nước nhà.
1
I. NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHUNG
1.1. Điều kiện an ninh chính trị và an toàn xã hội
An ninh chính trị phải đảm bảo hòa bình, ổn định để mở rộng cho các mối
quan hệ kinh tế, chính trị văn hóa giữa các dân tộc. Du lịch chỉ được phát triển
trong một bầu không khí hòa bình, trong tình hữu nghị giữa các dân tộc. Không khí
hòa bình trên thế giới ngày càng được cải thiện.
Về phương diện quốc gia có thể dẽ dàng nhận thấy, những đất nước ít xảy ra
các biến cố chính trị, quân sự như: Thụy Sỹ, Áo, Thụy Điển… đều là nơi hấp dẫn
và thu hút được một lượng đông đảo du khách. Khi có tình hình chính trị ổn định
và hòa bình thì sẽ cho du khách cảm giác an toàn và tính mạng được coi trọng. Tại
những nơi này du khách có thể đi lại tự do trong đất nước mà không lo sợ và không
cần sự chú ý đặc biệt nào. Những điểm du lịch mà tại đó không có sự phân biệt
Trong các ngành kinh tế, sự phát triển của nông nghiệp và công nghiệp thực
phẩm có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch. Ngành du lịch hàng năm tiêu thụ một
khối lượng rất lớn lương thực và thực phẩm. Thực phẩm tươi sống (thịt lợn, gà,
bò…; lúa, mì, ngô, khoai…) của nông nghiệp cũng như đã qua chế biến sẵn của
công nghiệp (đường, bơ, sữa,…; đồ hộp, rượu, bia, thuốc lá…) là mặt hàng không
thể thiếu của trong việc phục vụ cung ứng các bữa ăn cho du khách.
b.Công nghiệp nhẹ
3
Nếu như ngành nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm phục vụ nhu cầu ăn,
uống hàng ngày của du khách thì công nghiệp nhẹ đảm bảo những tiện nghi sinh
hoạt hàng ngày đối với hoạt động lưu trú của du khách. Với nhiệm vụ chính cung
cấp vật tư cho du lịch, các ngành công nghiệp nhẹ khác nhau như: dệt, thủy tinh,
sành sứ, đồ gỗ và mỹ nghệ… mỗi năm cung cấp hàng trăm ngàn sản phẩm phục vụ
trang trí, sử dụng trong các khách sạn, nhà hàng, cơ sở lưu trú …(khăn trải, ga
giường, thảm, tủ,…) cũng như làm quà lưu niệm (nón, tranh, đồ gốm…) dành cho
du khách. Do vậy muốn phát triển du lịch, các ngành sản xuất có quan hệ mật thiết
đến du lịch không chỉ đáp ứng yêu cầu tối thiểu về khối lượng hàng hóa, mà phải
đảm bảo cung cấp vật tư hàng hóa có chất lượng cao, đảm bảo có thẩm mỹ và
chủng loại phong phú, đa dạng.
Như vậy, căn cứ vào điều kiện nông nghiệp và công nghiệp vốn có của địa
phương ta có thể thấy một đất nước chỉ phát triển một cách vững vàng khi và chỉ
khi nước đó tự sản xuất ra được phần lớn số của cải vật chất cần thiết cho du lịch.
1.2.2.Giao thông vận tải
Giao thông vận tải là một yếu tố không thể thiếu trong nền kinh tế của một
đất nước. Đứng trên lĩnh vực du lịch, giao thông vận tải là cầu nối giữa nhà cung
cấp dịch vụ, điểm đến du lịch và du khách. Từ khi ra đời tới nay cùng sự phát triển
của nền kinh tế, giao thông vận tải đã có nhiều bước tiến quan trọng về chất cũng
như lượng. Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của du lịch:
Về mặt số lượng:
- Số lượng các phương tiện vận chuyển tăng chứng tỏ khả năng vận chuyển
1.3.Chính sách phát triển du lịch
Bất cứ một nơi nào trên thế giới dưới hình thức này hay hình thức khác đều
tồn tại một bộ máy quản lý xã hội nhất định. Có thể nói bộ máy này có vai trò
quyết định đến các hoạt động của cả cộng đồng và hoạt động du lịch cũng không
nằm ngoài quy luật chung đó. Một đất nước, một khu vực có tài nguyên du lịch
phong phú, mức sống của người dân không thấp nhưng chính quyền địa phương
không hỗ trợ cho các hoạt động du lịch thì hoạt động này cũng không thể phát triển
được.
Những điều kiện chung để phát triển du lịch nếu trên tác động một cách độc
lập trên sự phát triển của du lịch. Các điều kiện ảnh hưởng đến du lịch tách rời
nhau, do vậy nếu thiếu một trong những điều kiện ấy sự phát triển của du lịch có thể
bị trì trệ, giảm sút hoặc hoàn toàn bị ngừng hẳn. Sự có mặt của tất cả những điều
kiện ấy đảm bảo cho sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch.
II. CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ THÂN LÀM NẢY SINH NHU CẦU DU
LỊCH
Các nhân tố tự thân chính làm cho nhu cầu du lịch tăng trưởng là thời gian
rỗi, thu nhập, trình độ dân trí.
2.1.Thời gian rỗi
6
2.1.1. Vai trò của thời gian rỗi trong việc phát triển du lịch
-Thời gian dỗi có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển du lịch.
Công chúng chỉ bắt đầu đi du lịch khi họ được hưởng nhiều ngày nghỉ lễ và những
ngày nghỉ ăn lương.
Cụ thể: Ở Hoa Kì (1968) đã thông qua pháp luật ấn định 4 dịp lễ toàn Liên
bang hàng năm. Mỗi dịp nghỉ được định vào một ngày thứ Hai để có một kì nghỉ
cuối tuần 3 ngày. Tại Tây Ban Nha và Pháp có rất nhiều kỳ nghỉ, khoảng 12- 13 dịp
nghỉ mỗi năm. Ở nước ta từ 02/10/1999 mọi viên chức nhà nước bắt đầu được
hưởng chế độ nghỉ cuối tuần 2 ngày.
- Khi người lao động càng có nhiều thời gian rỗi, ngành du lịch càng có
nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Mọi người sử dụng thời gian rỗi để thư
Nói đến các nhân tố tự thân làm cho nhu cầu du lịch tăng trưởng thì ngoài
thời gian rỗi, thu nhập của người dân cũng rất quan trọng. Ngày nay, kinh tế ngày
một phát triển, năng suất lao động ngày càng cao và mức sống của con người ngày
càng được cải thiện. Do vậy họ có khả năng thanh toán cho nhu cầu về du lịch
8
trong và ngoài nước. Có tài nguyên du lịch nhiều chưa hẳn đã phát triển du lịch
nếu nền kinh tế của của đất nước còn lạc hậu và du khách nước ấy không có khả
năng du lịch ra nước ngoài.
Khi rời nơi lưu trú thường xuyên để đi du lịch, khách du lịch luôn là người
tiêu dùng nhiều loại dịch vụ và hàng hóa. Để có thể đi du lịch và tiêu dùng du lịch,
họ phải có phương tiện vật chất đầy đủ. Đó là điều kiện cần thiết để biến nhu cầu
du lịch nói chung thành nhu cầu có khả năng thanh toán, vì đi du lịch họ phải trả
thêm tiền tàu xe, trả thêm tiền nhà và xu hướng con người đi du lịch là tiêu nhiều
tiền. Khác với khi ở nhà, họ chỉ cần chi tiêu cho những khoản cần thiết: như ăn
uống, mua sắm đơn thuần… Tuy nhiên, khi đi du lịch họ thường phải chi tiêu cho
nhiều khoản nảy sinh dẫn đến mức tiêu dùng tăng vọt. Thu nhập của người dân là
chỉ tiêu quan trọng và là điều kiện vật chất để họ có thể tham gia hoạt động du lịch.
Và khi thu nhập của người dân tăng thì sự tiêu dùng du lịch cũng tăng theo, đồng
thời có sự theo đổi về cơ cấu của tiêu dùng du lịch.
Theo con số thống kê tương đối của Tập đoàn Visa khu vực Châu Á- Thái
Bình Dương về chi tiêu của khách du lịch đến Việt Nam qua thẻ Visa cho thấy,
những tháng cuối năm 2005 là 1,4 nghìn tỷ đồng (khoảng 90,6 triệu USD) đã tăng
28% so với cùng kỳ năm trước đó. Trong đó, chi tiêu nhiều nhất là các du khách
đến từ Mỹ, Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc và Pháp, chiếm 58% tổng lượng chi tiêu qua
thẻ. Du khách đến Việt Nam sử dụng thẻ Visa chủ yếu để chi tiêu cho chỗ ở 29%,
mua sắm 16%, đi lại 11%, ăn uống 7% và các hoạt động thể thao giải trí 4%.
Theo một số liệu của Bộ thương mại, trung bình một khách du lịch quốc tế
thuộc diện giàu có đến Việt Nam mức chi tiêu cũng chỉ khoảng 300- 700USD,
mức chi tiêu bình quân cho tất cả khách du lịch là 100 - 150 USD/người/ngày lưu
9
400 nghìn đồng là Nghệ An, Đak Lak và An Giang; Điện Biên, Thanh Hoá, Quảng
Trị, Gia Lai, và Tây Ninh.
Thái Nguyên là địa phương có mức chi tiêu bình quân một ngày - khách thấp
nhất, chỉ 179,6 nghìn đồng.
Như vậy thu nhập của người dân là một vấn đề rất quan trọng để du khách có
một chuyến đi du lịch thật vui vẻ và có nhiều thú vị.
2.3.Trình độ dân trí
Sự phát triển của ngành du lịch cũng phụ thuộc rất nhiều vào trình độ văn
hóa chung của nhân dân ở một nước. Cụ thể, nếu trình độ văn hóa của cộng đồng
cao thì nhu cầu đi du lịch của nhân dân ở đó tăng lên rõ rệt; số người đi du lịch
nhiều, lòng ham muốn làm quen với các nước xa gần cũng tăng và trong nhân dân
thói quen du lịch sẽ hình thành ngày càng rõ. Hơn nữa trình độ văn hóa của nhân
dân nước đó cao , thì khi phát triển du lịch sẽ dễ đảm bảo phục vụ khách du lịch
một cách văn minh và làm hài lòng khách khi đến đó.
Trình độ dân trí thể hiện bằng hành động, cách ứng xử cụ thể với môi trường
xung quanh, bằng thái độ đối với du khách của người địa phương, bằng cách cư xử
của du khách tại nơi du lịch….
Ví dụ: Ngày nay, Sầm Sơn đang dần trở thành một đô thị du lịch văn minh,
giàu đẹp, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày một nâng cao. Hàng năm,
có hàng vạn lượt khách du lịch trong và ngoài nước đến với Sầm Sơn, góp phần tạo
11
nên sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội trên địa bàn thị xã nói riêng và tỉnh
Thanh Hóa nói chung.
Và trong những năm qua, Sầm Sơn luôn là địa điểm có sức hút mạnh mẽ đối
với khách du lịch trong và ngoài nước, song thực trạng dịch vụ du lịch trên địa bàn
còn tồn tại một số vấn đề ở các lĩnh vực: Công tác quản lý, điều hành, tổ chức kinh
doanh dịch vụ, trật tự đô thị, văn minh du lịch, vệ sinh môi trường, sự xuống cấp
của cơ sở hạ tầng... Để khắc phục những tồn tại đó, yêu cầu đặt ra đối với Sầm Sơn
là phải tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng du lịch, dịch vụ, nâng cao
nhận thức và trách nhiệm của các ngành, các cấp và cộng đồng dân cư trong tổ