LỜI NÓI ĐẦU
Dân số vừa là chủ thể, vừa là khách thể. Dân số vừa là lực lượng sản
xuất, vừa là lực lượng tiêu dùng, là yếu tố chủ yếu của quá trình sản xuất.
Vì vậy qui mô, cơ cấu và chất lượng dân số có ảnh hưởng rất lớn tới qui
mô, cơ cấu sản xuất, đến quá trình phát triển kinh tế xã hội. Nghiên cứu
dân số cũng có nghĩa là nghiên cứu nguồn lực con người, mà con người
không ai khác là chủ thể của quá trình sản xuất. Vì vậy nghiên cứu dân số
có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đặc biệt là trong công cuộc công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước trong thời đại mới, thời đại thông tin thời đại
cách mạng, khoa học và công nghệ.
Từ lâu, loài người đã bắt đầu thấy lo ngại trước sự phát triển số lượng
của mình. Sự lo ngại này càng tăng cùng với tốc độ tăng của dân số. Khi
mà khoảng thời gian để dân số thế giới tăng gấp đôi rút ngắn lại rất nhanh.
Dân số tăng nhanh đã và đang gây sức ép rất lớn về kinh tế xã hội, môi
trường sống ... Tiến sĩ Nafic Sadik đã chỉ rõ : "Cố gắng cung cấp đầy đủ
các nhu cầu cần thiết cho số dân tăng thêm quá nhanh cũng giống như cố
gắng chạy trên một chiếc băng truyền ngược chiều : người chạy cố gắng
thật nhanh để duy trì cảm giác đi lên, từ đó có thể thấy rằng mọi cố gắng
trong các chương trình xã hội đều chưa thật đầy đủ để phát triển về mặt số
lượng. Quyền lợi của con người thực sự sẽ bị tước đoạt ngày càng nhiều và
tương lai sẽ chẳng hứa hẹn được điều gì tốt đẹp nếu như chương trình kế
hoạch hoá gia đình và các tổ chức xã hội khác không có sự bổ sung một
cách đáng kể về chất lượng".
Dân số tăng nhanh cùng với những hậu quả của nó sẽ trở thành vấn
đề toàn cầu đòi hỏi các chính phủ không chỉ giải quyết các vấn đề trong
phạm vi quốc gia mình mà còn phải có những quan hệ song phương, đa
phương hợp tác chặt chẽ cùng nhau giải quyết vấn đề dân số trên phạm vi
toàn cầu và toàn khu vực.
Trong giai đoạn cách mạng nước ta hiện nay, việc nghiên cứu, luận cứ
một cách khoa học cho việc đề ra và tổ chức thực hiện các giải pháp nhằm
phát huy nhân tố con người có ý nghĩa vừa cấp bách, vừa cơ bản. Những
Thái Bình Dương và đứng hàng thứ 13 trong số những nước đông dân nhất
thế giới (sau các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Inđônêxia, Nga, Brazin,
Nhật, Nigiêria, Pakistan, Băngladet, Mêhicô và CHLB Đức). Cụ thể: Trung
Quốc: 1,2 tỷ, ấn độ gần 1 tỷ, Mỹ: 261 triệu, Inđônêxia: 195 triệu, Brazil:
159 triệu, Nga: 147 triệu... Nếu đầu kỷ nguyên này, dân số Việt Nam chỉ
bằng 0,6% dân số thế giới thì đến nay đã chiếm gần 1,3%.
Với những số liệu trên cho thấy quy mô dân số nước ta là rất lớn và
gia tăng nhanh chóng, vượt xa tốc độ gia tăng dân số thế giới.
3
Mặc dù trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã sớm đề ra chủ
trương chính sách nhằm làm giảm mức sinh, hạn chế việc gia tăng dân số.
Nhưng thực tế tốc độ gia tăng dân số ở nước ta hàng năm tuy có giảm
nhưng giảm chậm và vẫn còn cao so với nhiều nước trên thế giới. Điều này
được thể hiện ở bảng sau:
Bảng1: Tỷ lệ thay đổi hàng năm, chia theo từng nước (%)
Tên nước 1965 - 1970 1985 - 1990 2000 - 2005
Trung Quốc 2,61 1,49 0,78
Inđônêxia 2,33 1,93 1,28
Nam Triều Tiên 2,25 1,22 0,59
Ấn Độ 2,28 1,97 1,64
Việt nam 2,17 2,15 1,85
Nguồn: Would population prospects the 1992, United Nations
Nhìn vào bảng trên ta thấy. Trong giai đoạn 1965 - 1970 tỉ lệ gia tăng
ddân số của nước ta thấp hơn Trung Quốc và Inđônêsia. Nhưng đến giai
đoạn 1985 -1990 khi Trung Quốc và Inđônêsia đã đạt được mức tăng dân
số dưới mức 2% thì Việt Nam vẫn ở tốc độ tăng dân số trên 2%. Riêng
Nam Triều Tiên đạt được mức giảm tốc độ gia tăng dân số đáng kể nhất,
đã ở "điểm dừng dân số" với tốc độ tăng dân số thấp hơn 1%.
Như vậy dân số nước ta vẫn ở mức tỷ lệ gia tăng dân số cao mà
"nguyên nhân chủ yếu của tình trạng tăng dân số quá nhanh trước hết là do
tế, xã hội, văn hoá và dân số học khác nhau có ý nghĩa rất quan trọng nhằm
phân bố và phân bố lại lực lượng sản xuất, lao động và dân cư ở nước ta,
do điều kiện lịch sử nên việc phân bố dân cư theo các vùng lãnh thổ khác
nhau không hợp lý, được thể hiện qua tỉ trọng đất đai và tỉ trọng dân số
của từng vùng cũng như mật độ dân số (xem bảng 2).
Bảng 2: Sự phân bố dân cư giữa các vùng năm 1993.
Các vùng Đất đai(%) Dân số(%) Mật độ dân cư (ng/km
2
)
- Cả nước 100 100 214
1. Miền núi Trung 31,1 17,3 120
5
du Bắc bộ
2. Đồng bằng Sông
Hồng
3,76 19,77 1105
3. Bắc Trung Bộ 15,46 13,61 185
4. Duyên Hải miền
Trung
13,84 10,55 160
5. Tây nguyên 16,79 4,14 52
6. Đông Nam bộ 7,09 12,43 370
7. Đồng bằng Sông
Cửu Long
11,96 22,2 391
Nguồn : The population of Việt Nam
Một trong những chỉ báo chủ yếu phản ánh sức ép dân số đối với đất
đai tài nguyên là " Mật độ dân số" . Qua bảng trên cho thấy, trong 7 vùng
chủ yếu, dân số tập trung đông nhất ở vùng Đồng Bằng Sông Hồng (1105
ng/km
cơ cấu dân số theo độ tuổi và giới tính phục vụ cho nhiều mục đích phân
tích các vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị...
Cơ cấu dân số hợp lý sẽ tạo điều kiện thúc đẩy quá trình phát triển
kinh tế - xã hội, đồng thời nó còn tác động trực tiếp đến quá trình biến
động tự nhiên và biến động cơ học dân số.
Giới tính có vai trò quyết định để cân bằng sinh thái của cộng đồng
trong những mối liên hệ xã hội và kinh tế. Vì vậy đặc trưng về giới tính có
vị trí quan trọng trong việc lập kế hoạch huy động nghĩa vụ quân sự, nghĩa
vụ lao động, hệ thống dịch vụ y tế ...
Bảng sau cho thấy sự thay đổi cơ cấu giới tính ở Việt Nam
1979 - 1989
Các chỉ tiêu Nam Nữ Chênh lệch
Dân số 1/10/79 25880 27167 - 1581
Dân số 1/4/89 31230 33145 - 1915
Thay đổi trong
10 năm
5650 5894 - 334
Ở các nước khác nhau trong các thời kỳ khác nhau thì cơ cấu dân số
theo giới tính cũng có khác nhau, nó liên quan đến nhiều vấn đề kinh tế,
chính trị xã hội khác. Ví dụ như ở nước ta, trước ngày thống nhất đất nước
7
(1975) thì cơ cấu giới nữ cao hơn so với nam bởi lẽ trong chiến tranh, một
lực lượng nam giới đông phải đi làm nghĩa vụ quân sự , tuy nhiên sau
thống nhất đất nước việc trở về đoàn tụ lại làm cho tỉ lệ dân số tăng nhanh,
tỷ lệ giới tính vẫn tiếp tục mất cân đối và sự thay đổi theo hướng sự thiếu
hụt nam giới tăng lên nhưng không đáng kể.
d. Cơ cấu dân số theo độ tuổi.
Việt Nam là nước đang phát triển. Cơ cấu phát triển tuổi thuộc loại
dân số trẻ và trẻ hơn cơ cấu dân số của các nước đang phát triển nói
chung. Thể hiện ở bảng sau:
có khả năng lao động lớn. Một mặt nó tạo ra một nguồn lao động dồi dào ,
một thị trường tiêu dùng lớn là điều kiện thuận lợi để mở rộng sản xuất
làm cho tổng sản phẩm quốc dân tăng lên. Mặt khác, dân số tăng nhanh tới
mức "bùng nổ" đã và đang gây ra những khó khăn lớn cho chính phủ trong
việc giải quyết việc làm, gây tác động xấu tới môi trường tự nhiên, tệ nạn
xã hội. ..
2. Hậu quả của sự gia tăng dân số.
Dân số tăng nhanh hiện nay chủ yếu tập trung vào các nước đang
phát triển. Sự gia tăng dân số quá mức đã và đang gây ra sức ép về việc
làm rất lớn, kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tác động
xấu tới môi trường, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên.
a. Dân số tăng nhanh kìm hãm sự phát triển kinh tế.
Như đã biết, hiện nay ở các nước đang phát triển đang phải đương đầu
với tình trạng dân số quá đông nơi mà nền kinh tế chưa phát triển, chưa
thoả mãn nhu cầu lao động của tất cả mọi người dân thì việc tăng dân số
sẽ ảnh hưởng đến quá trình nâng cao mức sống dân cư vì con người ta
không thể không sống mà không ăn, không tiêu dùng. Mặt khác, nếu nguồn
vốn cố định trong khi dân số tăng nhanh thì mức trang bị kỹ thuật cho
mỗi lao động giảm, năng suất lao động không tăng được làm hiệu quả kinh
tế kém.
Từ khi chuyển đổi cơ chế, nền kinh tế Việt Nam cũng đạt được những
bước chuyển đổi đáng kể. Song sự gia tăng dân số quá nhanh nhanh hơn
nhiều so với sự tăng trưởng nền kinh tế làm cho mức sản xuất các sản
phẩm chủ yếu bình quân đầu người đến năm 1997 vẫn còn rất thấp: điện
9
226 kwh, than : 117 kg, dầu thô: 118 kg, thóc: 352 kg, xuất khẩu : 96 USD.
Thu nhập dân cư còn thấp, GDP bình quân đầu người mới đạt 270
USD/người/năm. Mà theo sự phân loại của các nhà kinh tế thế giới thì
những nước có thu nhập quốc dân bình quân đầu người là 500 USD/năm
thì được xếp vào những nước cực kỳ nghèo trên thế giới. Như vậy, có thể
lệ học sinh đến trường có xu hướng giảm xuống và tỷ lệ bỏ học có xu
hướng tăng lên. Sự phân bố dân cư không đồng đều giữa các vùng cũng
gây khó khăn cho việc phổ cập giáo dục, đặc biệt là đối với các dân tộc
thiểu số miền núi thì việc phổ cập giáo dục cho họ hầu như nước ta chưa
thực hiện được. Do đó mặt bằng dân trí ở các vùng này rất thấp. Vì vậy,
hạn chế giá tăng dân số, đem lại sức khỏe tốt và việc giáo dục tốt hơn cho
10
trẻ em ngày hôm nay sẽ tạo ra một lực lượng lao động có giá trị cho ngày
mai.
Dân số tăng nhanh gây sức ép lớn đối với vấn đề nhà ở và đô thị hoá.
ở nước ta do có sự chênh lệch lớn giữa nông thôn và thành thị nên hiện
tượng di dân tự do từ nông thôn ra thành thị đã và đang tạo nên sức ép về
mọi mặt đối với các đô thị. Có tới hơn một nửa số dân đô thị phải sống
chen chúc trong các ngôi nhà ổ chuột hoặc các khu xây dựng bất hợp pháp
với điều kiện sinh hoạt rất khó khăn như: thiếu nước sinh hoạt , điều kiện
vệ sinh xuống cấp... Cùng với những khó khăn thấp đó thì vấn đề giải quyết
việc làm ở các đô thị cũng là một vấn đề cần được quan tâm. Khi vấn đề
này không được giải quyết một cách có hiệu quả thì sẽ gây nên tình trạng
thất nghiệp và đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã
hội như : trộm cắp, cướp giật, mại dâm, nghiện hút...
c. Dân số tăng nhanh làm cạn kiệt nguồn tài nguyên, tăng nạn tham
ô hiễm môi trường và phá huỷ môi trường thiên nhiên.
Riêng vấn đề tài nguyên, thiên nhiên môi trường không mang tính
chất riêng rẽ của từng quốc gia mà nó mang tính toàn cầu vì ở đâu (nước
phát triển hay đang phát triển) đều có nhu cầu về ăn, ở, mặc đi lại... Để giải
quyết được nhu cầu cơ bản này thì con người phải tác động vào tự nhiên.
Như đã biết, diện tích đất canh tác trên hành tinh chúng ta không phải vô
hạn nghĩa là nguồn cung cấp thức ăn cho con người có một giới hạn nhất
định. Một số nguồn tài nguyên thiên nhiên, năng lượng , nhiên liệu khác -
cái mà hiện nay sự phát triển kinh tế cũng như sự tồn tại xã hội loài người
Như vậy gia tăng dân số quá nhanh là một trong những nguyên nhân
làm cho đất canh tác ngày một thu hẹp, rừng bị tàn phá nghiêm trọng,
nguồn nước ngày càng khan hiếm và ô nhiễm, nạn thất nghiệp, thất học ,
thiếu chăm sóc y tế, suy dinh dưỡng, tệ nạn xã hội gia tăng, hạn chế điều
kiện phát triển trí tuệ văn hoá và thể lực của giống nòi cản trở sự phát triển
kinh tế - xã hội, đặc biệt trong hoàn cảnh kinh tế - xã hội còn yếu kém của
nước ta. (Trích báo cáo của Bộ chính trị tình hình Hội nghị lần thứ tư
Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về chính sách DS - KHHGĐ
tháng 1 - 1993)
12
Phát triển kinh tế dù có tăng nhanh nhưng vấn đề tốc độ phát triển dân
số không được kìm lại, chúng ta sẽ không thực hiện tốt được các mục tiêu
kinh tế xã hội. Nhiều nỗ lực về phát triển kinh tế văn hoá sẽ bị triệt tiêu.
3. Chiến lược phát triển dân số đến năm 2000.
Vấn đề dân số trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội
được Đại học Đảng toàn quốc lần thứ VII chỉ rõ :"... Thực hiện đồng bộ
chiến lược dân số trên cơ sở ba mặt quy mô dân số, cơ cấu dân số và sự
phân bố dân số...".
a. Mục tiêu và giải pháp.
- Giảm nhanh tỉ lệ sinh con thứ 3 trở lên để đến năm 2000 tổng tỷ suất
sinh đạt mức 2,9% hoặc thấp hơn để quy mô dân số dưới mức 82 triệu
người.
Do đặc điểm nước ta là nền công nghiệp trồng lúa nước với gần 80%
dân số sống bằng nghề nông nên có thể sử dụng các giải pháp có liên quan
đến nông nghiệp, chẳng hạn như phát triển nông nghiệp, tiến hành thuỷ lợi
hoá, hoá học hoá, áp dụng một phần cơ giới hoá lao động nông nghiệp để
đẩy mạnh mức tăng trưởng kinh tế, dẫn đến mức sống tăng nhanh, qua đó
gián tiếp tác động tới việc chấp nhận qui mô gia đình nhỏ, làm giảm tỷ lệ
sinh, tăng tỷ lệ thực hành tránh thai của các cặp vợ chồng.
Qua thực trạng về dân số ở nước ta, cho ta thấy được sự phân bố dân
người dân về số con mong muốn. Một trong những nguyên nhân dẫn đến
quy mô gia đình lớn đólà cần có nhiều con để phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi
già, khi chức năng này được xã hội đảm nhiệm và làm tốt thì tất yếu sẽ dẫn
đến số con trung bình giảm. Chính sách bảo hiểm cho người già có thể là
tăng mức trợ cấp cho những người chấp nhận mô hình gia đình nhỏ tăng
thêm 5% lương, với những cặp không có con lương hưu tăng 10% và chăm
sóc sức khoẻ lúc ốm đau.
Tiến hành thành lập các trung tâm dưỡng lão, các hội người già, hội
những người tình nguyện chăm sóc người già. Việc thành lập này có tác
dụng thu hút sự tham gia, đóng góp của các thành viên , đoàn thể trong xã
hội vào công tác này. Bản thân những người tình nguyện phải được đào
tạo qua lớp nghiệp vụ y tá để có thể xử lý những tình huống đơn giản và
họ sẽ hưởng chế độ ưu đãi và sự trợ cấp của Nhà nước hàng tháng. Đặc
biệt chính sách bảo hiểm cho người già cần hoạt động mạnh hơn nữa ở khu
14
vực nông thôn, nơi còn duy trì khá phổ biến và nặng nề tư tưởng cần có
nhiều con.
Thứ ba, cần có những chính sách phân bố lại dân cư một cách hợp lý.
Đi đôi với việc khuyến khích những người đi khai thác vùng kinh tế mới,
Nhà nước phải có những chủ trương chính sách đảm bảo không chỉ về mặt
vật chất mà cả về mặt tinh thần cho họ. Đặc biệt cần phải đầu tư về hệ
thống y tế và giáo dục cho các vùng này. Thực hiện việc giao đất giao
rừng trên cơ sở đầu tư ban đầu bằng tiền hoặc cây trồng... hoặc cho vay
với lãi suất thấp. Có như vậy họ mới yên ổn làm ăn tránh trường hợp quay
trở lại nơi xuất phát một cách ồ ạt, không có tổ chức.
Thứ tư, nâng cao năng lực tổ chức quản lý: Qua nhiều năm thực hiện
khảo sát thực tế của một số nước trong khu vực, chúng ta phải thấy rằng,
đồng thời với việc thực hiện các giải pháp trên, phải coi trọng việc nâng
cao năng lực quản lý chương trình, một đảm bảo rất quan trọng cho việc
thành công mà nội dung chính là đảm bảo một hệ thống đầy đủ, tổ chức đủ
kiếm việc hình thành nên những "chợ lao động" gây khó khăn cho việc
quản lý của các nhà chức trách. Năm 1996, tỷ lệ lao động nông thôn ra
thành thị tìm việc làm trong dân số hoạt động kinh tế là 7,14%. Số lao
động này chủ yếu làm các công việc và dịch vụ nặng nhọc như: làm thuê,
đạp xích lô, đào đất... Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội ở
các thành phố lớn như cờ bạc, nghiện hút, mại dâm... Hiện nay cả nước có
khoảng 80 nghìn gái mại dâm, 80 nghìn người nghiện hút và 50 nghìn
người sống lang thang bụi đời.
Trong khi tình trạng thất nghiệp ở nông thôn cao thì ở các khu công
nghiệp kỹ thuật cao, khu chế xuất lại thiếu các kỹ sư và công nhân lành
nghề. Đội ngũ quản lý ở tầm vĩ mô và tầm vi mô đông nhưng chưa mạnh,
trình độ năng lực quản lý còn thấp kém, khả năng nắm bắt thông tin, tiếp
cận với những tri thức tiên tiến của khoa học quản lý trong cơ chế thị
trường chưa kịp thời đầy đủ. Không những thế, số lượng cán bộ bị thoái
hoá biến chất ngày càng gia tăng, tình trạng một bộ phận cán bộ tham
nhũng, vi phạm kỷ cương phép nước có chiều hướng phát triển, nạn quan
liêu ăn đút lót, hối lộ, tham ô tài sản của Nhà nước đang trở thành "quốc
nạn".
Không chỉ ở nông thôn mà kể cả các khu vực thành thị số lượng lao
động chưa có việc làm cũng rất lớn, đặc biệt là các đô thị lớn như Đà Nẵng,
Hải Phòng... Theo số liệu điều tra gần đây chiếm khoảng 7 - 8% tổng số lao
16