Thành phần loài và đặc điểm sinh học của một số loài cá kinh tế của hai họ cá bống gobiidae và eleotridae phân bố ở vùng ven biển tỉnh bến tre (TT - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Chuyên ngành: Nuôi trồng Thủy sản
Mã ngành: 62620301

NGUYỄN MINH TUẤN

THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
CỦA MỘT SỐ LOÀI CÁ KINH TẾ CỦA HAI HỌ CÁ
BỐNG GOBIIDAE VÀ ELEOTRIDAE PHÂN BỐ Ở
VÙNG VEN BIỂN TỈNH BẾN TRE

Cần Thơ, 2016
A


CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Người hướng dẫn: PGS.TS. Trần Đắc Định

Luận án được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp
trường
Họp tại: ………………………………………………….
Vào lúc ….. giờ ….. ngày ….. tháng ….. năm …..

Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:

nghiên cứu về thành phần loài và đặc điểm sinh học của các loài cá này ở
vùng bãi bồi ven biển vùng ĐBSCL nói chung và ở Bến Tre nói riêng
cho đến nay vẫn còn hạn chế. Do đó nhằm đánh giá nguồn lợi nhóm cá
bống để có những nhận định khoa học về sự đa dạng thành phần loài và
đặc điểm sinh học của các loài cá kinh tế làm cơ sở cho việc phát triển
nghề nuôi và bảo vệ nguồn lợi của nhóm cá này. Với lý do trên, nghiên
cứu “Thành phần loài và đặc điểm sinh học của một số loài cá kinh
tế của hai họ cá bống Gobiidae và Eleotridae phân bố ở vùng ven
biển tỉnh Bến Tre” đã được thực hiện.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: xác định thành phần loài, đặc điểm sinh
học của một số loài thuộc họ cá bống (Gobiidae và Eleotridae) để làm cơ
sở cho quản lý nguồn lợi cũng như phát triển nuôi trong tương lai góp
phần thúc đẩy sự phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản ở ĐBSCL nói
chung và ở Bến Tre nói riêng.
1


- Mục tiêu cụ thể:
+ Xác định thành phần loài cá thuộc họ Gobiidae và Eleotridae
phân bố ở vùng ven biển tỉnh Bến Tre.
+ Xác định các đặc điểm sinh học dinh dưỡng, sinh trưởng và sinh
sản của cá bống cát (Glossogobius aureus Akihito and Megugo, 1975)
và bống sao (Boleophthalmus boddarti (Pallas, 1770)).
1.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra tình trạng khai thác và giá trị kinh tế của các loài cá
thuộc họ Gobiidae và Eleotridae phân bố ở vùng ven biển tỉnh Bến Tre.
- Thu mẫu, phân tích, định danh các loài cá thuộc họ Gobiidae và
Eleotridae phân bố ở vùng ven biển tỉnh Bến Tre.
- Phân tích các đặc điểm sinh học của cá bống cát (G. aureus) và

học của cá bống cát (G. aureus) và cá bống sao (B. boddarti) bao gồm:
+ Xác định đặc điểm hình thái của cơ quan tiêu hóa và phổ thức
ăn: Cá bống cát (G. aureus) có hình thái cơ quan tiêu hóa phù hợp với
loài cá dữ ăn động vật và phổ thức ăn có thành phần giáp xác và cá nhỏ
chiếm ưu thế (86,8%); ngược lại cá bống sao (B. boddarti) có hình thái
cơ quan tiêu hóa phù hợp với loài có tính ăn thực vật và phổ thức ăn có
thành phần tảo khuê chiếm ưu thế (87,84%).
+ Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh trưởng ghi nhận cá bống cát
tăng trưởng chiều dài hơn chiều rộng và chiều cao thân, cá bống sao tăng
trưởng đồng đẳng giữa chiều dài, chiều rộng và chiều cao thân. Kết quả
phân tích cũng cho thấy cá bống cát có L∞ = 300 mm; K = 0,77/năm và
t0 = -0,02 năm, cá bống sao có L∞ = 160 mm; K = 0,55/năm và t0 = -0,01
năm; qua đó đã xác định được quan hệ giữa chiều dài và tuổi của 2 loài
cá này.
+ Nghiên cứu đặc điểm sinh sản cho thấy cá bống cát và cá bống
sao sinh sản tập trung vào mùa mưa, sức sinh sản tuyệt đối của hai loài
khá cao trong đó sức sinh sản của cá bống cát lớn hơn cá bống sao. Xác
định được chiều dài thành thục đầu tiên của hai loài cá này là cơ sở cho
việc khuyến cáo ngư dân khai thác cá có kích thước lớn hơn chiều dài
thành thục đầu tiên để cá có thể sinh sản duy trì quần đàn.
Chương 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp nghiên cứu chung
3.1.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Các mẫu thu để thực hiện nghiên cứu này được tiến hành từ tháng
4/2012 đến tháng 3/2014 tại vùng ven biển tỉnh Bến Tre (Hạ lưu sông
Tiền). Khi thu mẫu cá kết hợp đo nhiệt độ, pH và độ mặn tại điểm thu
mẫu.
Địa điểm phân tích mẫu: tại hiện trường khu vực thu mẫu và phòng
thí nghiệm Nguồn lợi thủy sản, Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần
Thơ.

Gobiidae và Eleotridae.
3.3.1 Phương pháp thu và cố định mẫu
Thu mẫu
Mẫu cá được thu hàng tháng (từ tháng 4/2012 đến tháng 12/2013)
thu ngẫu nhiên bằng chài, vợt, cào sông, đáy… tại sông, bãi bồi và rừng
ngập mặn ở vùng ven biển tỉnh Bến Tre. Mẫu dùng cho định danh: 5-10
mẫu/loài (nếu loài xuất hiện với số lượng quá ít thì thu 2-3 mẫu). Xác
định thông tin tại vị trí thu mẫu: địa điểm, thủy vực, tọa độ kết hợp ghi
nhận các chỉ tiêu môi trường: nhiệt độ, pH, độ mặn.
Cố định mẫu
Mẫu sau khi thu được rửa ngay bằng nước ngọt để mẫu được
sạch. Sau đó, mẫu thu được ghi nhãn để đánh dấu, phân loại và chụp ảnh
tại khu vực thu mẫu. Mẫu được giữ trong formol 10% và đưa về phân
tích tiếp các chỉ tiêu hình thái tại phòng thí nghiệm Nguồn lợi thủy sản,
Khoa Thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ. Sau khi phân tích, mẫu cá
được bảo quản trong cồn 70% để lưu trữ.
3.3.2 Xác định các chỉ tiêu hình thái
Các chỉ tiêu hình thái được xác định dựa vào phương pháp của
Pravdin (1973). Định danh theo Froese and Pauly (2015).
3.4 Nghiên cứu 3: Xác định đặc điểm hình thái của cơ quan
4


tiêu hóa và phổ thức ăn của cá bống cát (G. aureus) và cá bống sao
(B. boddarti).
3.4.1 Phương pháp thu và cố định mẫu
Thời gian, địa điểm thu mẫu:
+ Cá bống cát: Nghiên cứu này được tiến hành từ tháng 1 năm
2013 đến tháng 12 năm 2013 tại Thạnh Phú.
+ Cá bống sao: Nghiên cứu này được tiến hành từ tháng 4 năm

L: Chiều dài tổng của cá (cm);
5


a: Hằng số tăng trưởng ban đầu;
b: Hệ số tăng trưởng.
3.5.2 Xác định phương trình tăng trưởng von Bertalanffy
Các tham số của phương trình tăng trưởng von-Bertalanffy (L, K,
to) của cá được xác định bằng số liệu tần suất chiều dài được thu trong 12
tháng, mỗi tháng thu mẫu một ngày. Sử dụng phần mềm FiSAT II
(Gayanilo et al., 2006) để xác định các tham số tăng trưởng trên. Từ các
tham số tăng trưởng L, K, to cho phép xác định mối quan hệ giữa tuổi
và chiều dài của cá theo phương trình: Lt = L (1-e-K (t-t0))
Trong đó: t: Tuổi tại thời điểm t, đơn vị là năm;
L∞: Chiều dài tối đa mà cá có khả năng đạt được;
t0: Tuổi lý thuyết tại đó cá có chiều dài bằng 0;
K: Hệ số tăng trưởng nói lên tốc độ cá thể đạt chiều dài
L∞, thứ nguyên là 1/năm.
* Hằng số tăng trưởng:
Φ’ = logK+2log L (Pauly và Munro, 1984).
* Tuổi thọ (tmax):
tmax = 3/K (Taylor, 1958):
3.6 Nghiên cứu 5: Xác định một số đặc điểm sinh học sinh sản
của cá bống cát (G. aureus) và cá bống sao (B. boddarti)
- Tổng số mẫu quan sát: Cá bống cát: 607 cá thể; Cá bống sao: 559 cá
thể.
- Nhịp độ thu mẫu: Định kỳ 1 tháng thu mẫu một lần và thu 18
tháng.
Xác định các giai đoạn thành thục sinh dục
* Quan sát trực tiếp đặc điểm của tuyến sinh dục kết hợp với tiêu

số thành thục (GSI), hệ số tích lũy năng lượng (HSI) và hệ số điều kiện
(CF) của các mẫu thu theo định kỳ để xác định mùa vụ sinh sản.
Xác định sức sinh sản
* Sức sinh sản tuyệt đối (F):
F = (n*G) /g
Trong đó: G: Khối lượng buồng trứng (g);
g: Khối lượng mẫu đại diện (g);
n: Số lượng trứng có trong mẫu đại diện.
* Sức sinh sản tương đối:

Xác định chiều dài thành thục đầu tiên (Lm)
Chiều dài thành thục đầu tiên là chiều dài tại đó 50% cá thể phát
triển đến giai đoạn thành thục (King, 2007):
P = 1/{1+exp[-r(L-Lm)]}
Trong đó: P: Tỉ lệ thành thục;
r: Hệ số tương quan;
L: Chiều dài trung bình của cá;
Lm: Chiều dài thành thục đầu tiên.
3.7 Xử lý số liệu
Dùng phần mềm Excel để tính toán các giá trị trung bình, độ lệch
chuẩn, giá trị tối thiểu và tối đa, kiểm định χ2 (kiểm định tỉ lệ cá đực/cá
cái). Sử dụng phần mềm FiSAT II (FAO) để xác định các tham số tăng
trưởng của cá. Xác định chiều dài thành thục đầu tiên Lm bằng phần mềm
STATISTICA 8.0.
7


Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình trạng khai thác các loài cá thuộc họ Gobiidae và
Eleotridae phân bố ở vùng ven biển tỉnh Bến Tre.

Eleotris melanosoma (Bleeker, 1853)
Oxyeleotris marmorata (Bleeker, 1852)
Oxyeleotris urophthalmus (Bleeker, 1851)
Họ Gobiidae

Họ cá bống đen
Cá bống trân
Cá bống trứng
Cá bống tượng
Cá bống dừa
Họ cá bống trắng
Acentrogobius viridipunctatus (Valenciennes, 1837)
Cá bống lá tre
Boleophthalmus boddarti (Pallas 1770)
Cá bống sao
Glossogobius aureus Akihito & Meguro, 1975
Cá bống cát
Oligolepis acutipennis (Valenciennes, 1837)
Cá bống xệ vảy to
Parapocryptes serperaster (Richardson, 1846)
Cá bống kèo vảy to
Periophthalmodon schlosseri (Pallas 1770)
Cá thòi lòi
Pseudapocryptes elongatus (Cuvier, 1816)
Cá bống kèo vảy nhỏ
Mugilogobius chulae (Smith, 1932)
Cá bống đối
Trypauchen vagina (Bloch & Schneider, 1801)
Cá bống đều
*Ghi chú: TP:Thạnh Phú; BT:Ba Tri; BĐ: Bình Đại.


+

4.1.2 Tình trạng khai thác và giá trị kinh tế
Kết quả điều tra 90 đối tượng là ngư dân cho thấy các loài cá
thuộc họ Gobiidae và Eleotridae xuất hiện nhiều vào mùa mưa và tình
trạng khai thác, giá trị kinh tế của 13 loài cá này được ghi nhận ở bảng
4.2.

8

+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+


Bảng 4.2: Tình trạng khai thác và giá trị kinh tế của các loài cá.
Loài

Cá bống trân
Cá bống trứng

35
15
24,2
50
12
28,4
80
10
7,8
10
4
28
50
15
112
400
5
20,8
40 14,5

Chiều dài tổng
(mm)
ave max min
98,4
175
45
48,2
80
10
214

20

1
10

30
200

20
110

Sản lượng
(kg/năm/hộ)
ave
max
373 1.092
217
700
335
2500
361
1500
1071
2548
463
1700
809
4500
180
700

ave max min
34
60
12
48
110
15
237
400
80
58
80
20
25
40
13
78
110
30
61
100
30
32
60
20
80
135
50
85
135

biệt là cá bống cát. Theo ngư dân ở địa phương cho rằng cá bống cát
(G. aureus) và cá bống sao (B. boddarti) có tiềm năng phát triển thành
đối tượng nuôi trong tương lai vì nhu cầu thị trường cao. Đặc biệt là cá
bống cát cũng đã được người dân nuôi rãi rác trong các vuông tôm quảng
canh ở huyện Thạnh Phú. Tuy nhiên, năng suất không cao do con giống
được người dân thu từ tự nhiên mà ở ĐBSCL hiện nay có 3 loài cá bống
9

90
13


cát có hình thái rất giống nhau trong đó loài cá bống cát (G.
sparsipapillus) có kích thước tối đa nhỏ (chiều dài chuẩn tối đa đạt được
9,3 cm) (Trần Đắc Định và ctv, 2013). Vì thế việc nghiên cứu đặc điểm
sinh học sinh sản để làm cơ sở cho việc sản xuất giống đối với cá bống
cát (G. aureus) là cần thiết để người nuôi có được nguồn con giống đồng
nhất.
Qua kết quả phỏng vấn có đến 13 loài được khai thác và mua bán
ở thị trường địa phương. Qua đây cho thấy cá bống là nhóm cá có giá trị
trong đời sống của người dân, tuy nhiên sản lượng của các loài này đều
có hướng giảm so với 5 năm trước. Do đó nhu cầu phát triển nghề nuôi
đối với cá bống trong tương lai là cần thiết. Đã có 2 loài được phát triển
thành đối tượng nuôi là cá bống kèo (P. elongatus) và cá bống tượng
(O. marmorata). Đặc biệt cá bống cát (G. aureus) và cá bống sao
(B. boddarti) là 2 loài rất có tiềm năng để phát triển thành đối tượng nuôi
trong tương lai.
4.2 Một số chỉ tiêu môi trường và thành phần loài cá thuộc họ
Gobiidae và Eleotridae phân bố ở vùng ven biển tỉnh Bến Tre.
4.2.1 Một số chỉ tiêu môi trường nước


TÊN KHOA HỌC

TÊN ĐỊA
PHƯƠNG

I
Họ Eleotridae
1
Bostrychus scalaris Larson, 2008
2
Butis butis (Hamilton, 1822)
3
Butis humeralis (Valenciennes, 1837)
4
Butis koilomatodon (Bleeker, 1849)
5
Eleotris melanosoma Bleeker, 1853
6
Oxyeleotris marmorata (Bleeker, 1852)
7
Oxyeleotris urophthalmus (Bleeker, 1851)
II
Họ Gobiidae
8
Acentrogobius canius (Valenciennes, 1837)
9
“Acentrogobius” globiceps (Hora, 1923)
10
Acentrogobius viridipunctatus (Valenciennes, 1837)

26
Periophthalmodon septemradiatus (Hamilton, 1822)
27
Periophthalmus variabilis Eggert, 1935
28
Periophthalmus gracilis Eggert, 1935
29
Pseudapocryptes elongatus (Cuvier, 1816)
30
Pseudogobius yanamensis (Rao, 1971)
31
Redigobius chrysosoma (Bleeker, 1875)
32
Stenogobius mekongensis Watson, 1991
33
Stigmatogobius pleurostigma (Bleeker, 1849)
34
Taenioides gracilis (Valenciennes, 1837)
35
Trypauchen vagina (Bloch & Schneider, 1801)
*Ghi chú: S: Sông; BB: Bãi bồi; RNM: Rừng ngập mặn

Họ cá bống đen
Cá bống hoa
Cá bống trân
Cá bống trân
Cá bống lưng cao
Cá bống trứng
Cá bống tượng
Cá bống dừa

HỆ SINH THÁI
RNM
S
BB
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+

+
+
+

+

+
+

+

+

+

Với kết quả thu và phân tích được thì số loài cá thuộc họ Gobiidae
có 28 loài thuộc 20 giống (80%) gấp 4 lần số loài cá thuộc họ Eleotridae
có 7 loài thuộc 4 giống (20%). Các loài cá bống ở ven biển tỉnh Bến Tre
11

+
+


phân bố ở các hệ sinh thái sông, bãi bồi và rừng ngập mặn. Trong đó có
một số loài phân bố chủ yếu ở bãi bồi và rừng ngập mặn là cá bống sao
và cá thòi lòi.
4.2.3 Biến động thành phần loài theo mùa
Kết quả nghiên cứu ở mùa mưa ghi nhận được 35 loài (100% số
loài thu được), mùa khô ghi nhận được 22 loài (62,9% số loài thu được).
Điều này cho thấy, ở thời điểm mùa mưa thì số loài đa dạng hơn mùa
khô.
Nếu so sánh thành phần loài theo từng họ thì thấy rằng số lượng
các loài trong từng họ thu được ở mùa mưa cũng cao hơn mùa khô. Họ
Gobiidae có biến động nhiều hơn, giảm 12 loài và họ Eleotridae giảm 1
loài. Các loài được tìm thấy ở mùa mưa nhưng không tìm thấy ở mùa
khô như: B. scalaris, A. globiceps, A. viridipunctatus, A. unicolor, B.
sabanus, E. variegates, G. macrostoma, P. yanamensis, R. chrysosoma,
S. mekongensis, S. pleurostigma, T. gracilis, T. vagina. Các loài tìm thấy
ở mùa khô hầu như đều được tìm thấy ở mùa mưa và kết quả này có thể
là do vào mùa mưa lượng thức ăn dồi dào hơn, độ mặn của nước giảm
nên một số loài cá bống sống ở nước ngọt có thể di cư xuống khu vực
này để sinh sống và khi đến mùa khô chúng di cư trở lại vùng nước ngọt.
Điều này cũng phù hợp với kết quả phân tích số lượng loài xuất hiện
theo khu vực thu mẫu.

10
11
12
13
14
15
16
17

Tên khoa học
Bostrychus scalaris
Oxyeleotris marmorata
Oxyeleotris urophthalmus
Brachygobius sabanus
Eugnathogobius microps
Amoya moloana
Gobiopsis macrostoma
Mugilogobius chulae
Periophthalmodon septemradiatus
Pseudogobius yanamensis
Redigobius chrysosoma
Stenogobius mekongensis
Stigmatogobius pleurostigma
Periophthalmodon schlosseri
Periophthalmus variabilis
Periophthalmus gracilis
Trypauchen vagina
Tổng:

Tên địa phương

+
+

13

B

+
+
+
+
4

* Ghi chú: A: vùng nhiễm mặn theo mùa; B: vùng mặn quanh năm.

4.2.5 Biến động thành phần loài theo ngư cụ thu mẫu
Kết quả nghiên cứu cho thấy lưới đáy thu được 29 loài (82,9%
tổng số loài thu được), vợt thu được 22 loài (62,9% tổng số loài thu
được). Chài thu được 18 loài (51,4% tổng số loài thu được) và thấp nhất
là lưới kéo 15 loài (42,9% tổng số loài thu được). Lưới đáy tuy là ngư cụ
cố định nhưng có thể do ngư cụ này có diện tích thu mẫu lớn, thời gian
thu mẫu lâu và trong thời gian thu mẫu vận tốc nước chảy lớn nên nhiều
loài có thể bị cuốn trôi theo dòng nước vào lưới đáy. Vợt là ngư cụ có
hiệu quả đối với việc bắt các loài cá sống ở hang. Trong các loại ngư cụ
sử dụng thì lưới kéo có số loài thu được ít nhất. Điều này có thể là do tập
tính sống của đa số loài cá bống là ở trong hang và ở đáy.
Tóm lại biến động nhiệt độ và pH môi trường không lớn, chỉ có
độ mặn có biến động lớn (0‰-28‰). Điều này cho thấy đa số cá bống là
các loài rộng muối. Kết quả thu được 35 loài cá thuộc 24 giống phân bố
ở vùng ven biển tỉnh Bến Tre. Trong đó họ Gobiidae có 28 loài thuộc 20

một mấu thịt hơi cứng, các răng khác nhỏ. Hàm dưới có một hàng răng
nhỏ, cứng, mọc thẳng, sau chổ tiếp hợp có một đôi răng nhọn, không có
răng hầu. Đặc điểm cấu tạo này phù hợp với việc cạp và cắt lớp tảo trên
bề mặt bùn. Cá bống sao có khe mang hẹp, gồm có 4 đôi cung mang.
Trên mỗi cung mang có hai hàng lược mang mềm, dài, xếp sát vào nhau
thành tấm chắn. Thực quản lớn, dài bằng 1/2 dạ dày, có vách tương đối
dày và có nhiều nếp gấp. Dạ dày có dạng hình elip dài, to, vách mỏng, có
khả năng chứa một lượng lớn thức ăn. Ruột cá bống sao dài và có dạng
cuộn tròn, vách ruột mỏng.
Qua kết quả phân tích 436 mẫu cho thấy chỉ số RLG có giá trị
trung bình là 1,77 > 1. Từ kết quả quan sát về hình thái cơ quan tiêu hóa
và chỉ số RLG có thể dự đoán cá bống sao thuộc nhóm cá ăn mồi trên
nền đáy bùn và là loài cá ăn thực vật.
4.3.2 Phổ thức ăn
4.3.2.1 Cá bống cát (G. aureus)
Thành phần thức ăn của cá bống cát (n = 35 mẫu) theo phương
pháp chỉ số ưu thế (phương pháp tần số xuất hiện kết hợp với phương
pháp khối lượng) ghi nhận được kết quả như sau: giáp xác và cá chiếm tỉ
14


lệ cao nhất (40,46% và 46,3%), mùn bã hữu cơ chiếm tỉ lệ thấp hơn
(12,87%) và thức ăn khác chiếm tỉ lệ rất thấp (0,37%).
Das (1934) cho rằng cá ăn động vật sẽ có thành phần thức ăn là
động vật chiếm hơn 80%. Kết hợp thành phần thức ăn, cấu tạo hệ tiêu
hóa và RLG cung cấp thông tin về tính ăn của cá bống cát là loài cá dữ
ăn động vật, chủ yếu là cá và giáp xác, hai thành phần này chiếm tỉ lệ
khá cao (86,76%) trong thành phần thức ăn ống tiêu hóa.
Cá bống cát (G. giuris) có thành phần thức ăn chính là cá và giáp
xác (Phạm Thị Mỹ Xuân, 2012; Achakzai et al., 2015; Rao and Rao,

15


dài tổng và khối lượng cơ thể cá là W = 0,012*L2,85 với hệ số tương quan
R2 = 0,958.
Ở quần đàn cá bống sao, chiều dài tổng của 435 mẫu phân tích có
chiều dài dao động trong khoảng 10,3-16,5cm. Khối lượng dao động
7,9-44,2g. Phương trình hồi quy tương quan giữa chiều dài tổng và khối
lượng cơ thể cá là W = 0,007*L3,09 với hệ số tương quan R2 = 0,8547.
Theo Froese (2006) cho rằng những loài cá có hệ số b < 3 là
những loài tăng trưởng chiều dài nhanh hơn chiều rộng và chiều cao. Hệ
số tăng trưởng b = 2,85 (b < 3) cho thấy cá bống cát tăng trưởng theo
chiều dài nhanh hơn so với chiều rộng và chiều cao. Cá bống sao có hệ
số tăng trưởng b = 3,09 (b ≈ 3 cho thấy cá bống sao tăng trưởng đồng
đẳng giữa chiều dài, chiều rộng và chiều cao (Froese, 2006).
4.4.2 Phương trình tăng trưởng von Bertalanffy
4.4.2.1 Cá bống cát (G. aureus)
Theo Pauly (1987), để có thể xác định chính xác các tham số tăng
trưởng thì số liệu tần suất chiều dài cần phải thỏa mãn đồng thời hai điều
kiện. Thứ nhất, số mẫu đo đạc được phải trên 1.500 và thời gian nghiên
cứu phải liên tục ít nhất là 6 tháng; thứ hai, số liệu thu được phải thể hiện
các đỉnh tần suất chiều dài một cách rõ ràng và hợp lý. Trong nghiên cứu
hiện tại có 2.395 số liệu tần suất chiều dài (64-268mm) được đo đạt
trong 12 tháng khảo sát liên tục, đồng thời số liệu cũng cho thấy sự phân
bố các đỉnh tần xuất là hợp lý. Mẫu cá được thu hàng tháng, mỗi tháng
thu 1 ngày bằng lưới đáy có kích thước mắt lưới phần đục là 2a = 15mm.
Nghiên cứu này đã sử dụng phần mềm FiSAT II để xác định các
tham số tăng trưởng L∞, K và t0. Kết quả nhận được là L∞ = 300 mm;
K = 0,77/năm và t0 = -0,02 năm. Từ đó, hằng số tăng trưởng của cá bống
cát được xác định là Φ’ = 2,84.

ngày bằng cách dùng lưới chụp bắt cá. Kết quả nhận được là L∞ = 160
mm; K = 0,55/năm và t0 = -0,01 năm. Hằng số tăng trưởng Φ’ = 2,15, tuổi
thọ (tmax) của cá được xác định là 5,5 năm. Từ kết quả trên, cho thấy mối
quan hệ giữa tuổi và chiều dài của cá được trình bày ở Bảng 4.6.
Bảng 4.6: Quan hệ giữa tuổi và chiều dài của cá bống sao.
Tuổi
1+
2+
3+
4+
5+

Chiều dài chuẩn (mm)
69
107
130
142
150

Kết quả này cho thấy cá bống cát có thể đạt chiều dài tối đa là 300
mm và đạt được chiều dài tối đa trong 3,9 năm. So với một số loài cá
bống thì đây là loài có tốc độ tăng trưởng khá nhanh và chiều dài tối đa
là khá dài. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của cá bống cát (G. aureus) vẫn
chậm hơn cá bống Gobio gobio và Gobius niger. Các tham số tăng
trưởng của một số loài cá bống được trình bày trong Bảng 4.7.

Theo Froese và Pauly (2015) cá bống sao có chiều dài tối đa
là 220 mm, ở nghiên cứu này cá bống sao có thể đạt chiều dài tối
đa là 160 mm, so với Froese và Pauly (2015) thì chiều dài tối đa
của cá bống sao ở nghiên cứu này nhỏ hơn đến 60 mm. So với các

0,91
0,91
0,73
0,51
0,55
0,71
0,77
0,55

17

t0

Φ’

0
0,32
0,32
-0,22
n.a
n.a
-0,09
-0,02
-0,01

2,05
2,1
2,32
2,14
2,28

χ2 thì tỉ lệ cá đực:cá cái khác tỉ lệ 1:1 không có ý nghĩa thống kê (χ2 =
0,87; p > 0,05). Ở cá bống sao, kết quả phân tích 559 cá thể có 257 cá
đực và 302 cá cái, kết quả tỉ lệ cá đực:cá cái là 1:1,18 (cá đực chiếm
46%; cá cái chiếm 54%) tỉ lệ này không có sự khác biệt thống thống kê
so với tỉ lệ 1:1 theo phép kiểm định χ2 ở mức ý nghĩa 5%.
Kader et al. (1988) cho rằng tỉ lệ giới tính của Gobioides
rubicundus không bằng nhau trong suốt cả năm. Trước mùa vụ sinh sản
(tháng 4 đến tháng 7) tỉ lệ cá cái nhiều hơn cá đực, sau mùa vụ sinh sản
(tháng 11 đến tháng 12) thì ngược lại cá đực nhiều hơn cá cái. Điều này
cũng quan sát được đối với cá bống cát (G. aureus) và cá bống sao
(B. boddarti) trong nghiên cứu này.
Tỉ lệ trung bình cá đực:cá cái qua 12 tháng thu mẫu của cá bống
cát (G. aureus) và cá bống sao (B. boddarti) khác tỉ lệ 1:1 không có ý
nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%. Tuy nhiên vào đợt thu tháng 9, 10 ở
cá bống cát (G. aureus) và tháng 11 đến tháng 12 ở cá bống sao
(B. boddarti) tỉ lệ con cái tăng cao sau đó giảm. Kết quả này có thể là do
tập tính sinh sản của cá bống có sự phân chia vai trò giữa cá đực và cá
cái, con cái đẻ trứng trong khi con đực làm tổ, ấp trứng và chăm sóc con
sau khi cá cái đẻ (Miller, 1984; Rogers, 1988; Polgar and Crosa, 2009).
4.5.2 Các giai đoạn thành thục sinh dục
Qua kết quả phân tích sự biến động các giai đoạn thành thục ở cá
bống cát và cá bống sao cho thấy giai đoạn IV của cá bống cát chỉ xuất
hiện tập trung từ tháng 8 đến tháng 12, cao nhất từ tháng 9 đến tháng 10
trong khi cá bống sao thì phát hiện giai đoạn IV gần như quanh năm và
tập trung cao vào tháng 10, 11.
18


4.5.3 Hệ số thành thục sinh dục (GSI)
4.5.3.1 Cá bống cát

và cá cái đều cao từ tháng 5 đến tháng 8 và đạt giá trị nhỏ ở các tháng 9,
10,11.
4.5.4.2 Cá bống sao
Trong 18 tháng phân tích và khảo sát trên 257 mẫu cá đực và 302
mẫu cá cái, kết quả cho thấy hệ số tích lũy năng lượng HSI của cá đực và
cá cái đều đạt giá trị nhỏ ở các tháng tháng 8, 9, 10,11.
Theo nhận định của tác giả Dương Tuấn (1981), khi cá thành thục
19


sinh dục, nguồn năng lượng để phát triển tuyến sinh dục được huy động
chủ yếu từ năng lượng dự trữ ở cơ và gan (Miller, 1984). Đối chiếu với
nhận định này thì cho thấy kết quả nghiên cứu là phù hợp, bởi vì ở thời
điểm GSI thấp và HSI cao đồng nghĩa là năng lượng tích lũy cao ở các
mô, cơ quan sinh dưỡng (mô mỡ, cơ, gan), cá có độ béo cao để chuẩn bị
cho việc thực hiện chức năng sinh sản. Tác giả Nguyễn Văn Kiểm
(1999) cũng khẳng định khi cá phát triển hoàn thiện tuyến sinh dục thì
năng lượng tích lũy trong gan, cơ sẽ thấp nhất. Như vậy, khi thời điểm
GSI cao và HSI thấp, đó là lúc tuyến sinh dục đang phát triển mạnh và
hoàn thiện, sẵn sàng cho quá trình sinh sản đồng thời độ béo của cá cũng
giảm xuống thấp nhất.
4.5.5 Hệ số điều kiện (CF)
4.5.5.1 Cá bống cát
Kết quả phân tích hệ số CF của từng cá thể trên 607 mẫu cá bống
cát (G. aureus) (315 cá đực và 292 mẫu cá cái) cho thấy rằng giá trị CF
của cá có sự biến động qua các tháng. Giá trị CF của cá có sự gia tăng từ
tháng 11 đến tháng 1 và từ tháng 3 đến tháng 6, giảm rõ là từ tháng 1 đến
tháng 2.
4.5.5.2 Cá bống sao
Kết quả phân tích hệ số CF trên 559 mẫu cá bống sao (257 cá đực

HSI, tỉ lệ thành thục trong 18 tháng nghiên cứu, rút ra được một số đặc
điểm sau: HSI thấp; GSI và tỉ lệ thành thục cao đều ở thời điểm từ tháng
10–11; buồng trứng thành thục chứa các noãn bào ở các giai đoạn khác
nhau, tinh sào và noãn sào được phát hiện gần như quanh năm. Như vậy,
cá bống sao sinh sản hầu như quanh năm và cao nhất là hai tháng 10 và
11.
Mực nước tăng lên và độ mặn thấp vào mùa mưa là điều kiện cho
cá đẻ. Lượng mưa cao, chất dinh dưỡng hướng tới các khu vực ven biển
có thể tạo điều kiện để có nguồn thức ăn dồi dào cho ấu trùng của cá
(Nedeco, 1993; Nguyen et al., 2000; Dinh, 2008). Ở nghiên cứu này, cá
bống cát (G. aureus) và cá bống sao (B. boddarti) cũng sinh sản tập
trung vào mùa mưa.
4.5.7 Sức sinh sản
4.5.7.1 Cá bống cát
Kết quả nghiên cứu trên 30 mẫu cá bống cát (chiều dài trung bình
19,0±2,8 cm và khối lượng trung bình 62,97±27,59 g) có sức sinh sản
tuyệt đối đạt 69.006±25.616 trứng/cá cái (dao động từ 35.175–149.932
trứng/cá cái) và sức sinh sản tương đối là 1.122±148 trứng/g cá cái.
4.5.7.2 Cá bống sao
Kết quả nghiên cứu trên 30 mẫu cá bống sao (chiều dài trung bình
14,0±0,9 cm và khối lượng trung bình 25,8  6,1g) có sức sinh sản tuyệt
đối đạt 18.224  2.940 trứng/cá cái (dao động từ 12.607 – 27.270
trứng/cá cái) và sức sinh sản tương đối là 724  104 trứng/g cá cái.
Khả năng sinh sản của cá bống rất khác nhau trong cùng một
loài và giữa các loài, dao động từ < 100 trứng ở cá Eciota lacrimae
(Sunobe and Nakazono, 1995) đến hơn 500.000 trứng ở cá Awaous
guamensis (Ha and Kinzie, 1996).
Cá bống cát (G. aureus) có sức sinh sản tuyệt đối dao động trong
khoảng 35.175 – 149.932 trứng/cá cái cao hơn cá bống sao (B. boddarti)
(12.607 – 27.270 trứng/cá cái). Nhưng cả hai loài này đều có sức sinh

257 cá đực và 298 cá cái xác định được chiều dài thành thục đầu tiên của
cá đực là 128 mm; cá cái là 126 mm.
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
5.1 Kết luận
Thành phần loài cá bống Gobiidae và Eleotridae ở vùng ven biển
tỉnh Bến Tre rất đa dạng. Những loài này phân bố rộng từ sông, bãi bồi
đến rừng ngập mặn, từ vùng nước ngọt đến vùng nước mặn. Trong đó
yếu tố độ mặn có ảnh hưởng đến sự phân bố của các loài cá thuộc hai họ
này là rõ nhất. Trong 35 loài được tìm thấy, có 13 loài đã được khai thác
và thương mại hóa trong vùng với 2 loài cá bống kèo (P. elongatus) và
cá bống tượng (O. marmorata) đã và đang nuôi. Bên cạnh đó, 2 loài cá
bống cát (G. aureus) và cá bống sao (B. boddarti) có nhiều tiềm năng để
22


phát triển thành đối tượng nuôi trong tương lai do chúng có giá trị kinh
tế và hệ số tăng trưởng cao.
Cá bống cát thuộc nhóm cá dữ với thành phần thức ăn chủ yếu là
cá nhỏ và giáp xác (86,8%). Trong khi đó, cá bống sao thuộc nhóm cá ăn
thực vật, thành phần thức ăn chính của chúng là khuê tảo (87,84%).
Cá bống cát tăng trưởng chiều dài nhanh hơn so với chiều rộng và
chiều cao, trong khi đó, cá bống sao thì tăng trưởng đồng đẳng. Cả 2 loài
đều thuộc nhóm cá tăng trưởng nhanh do chúng có hệ số tăng trưởng cao
mặc dù các thông số sinh trưởng của cá bống cát (L∞ = 300 mm;
K = 0,77/năm) cao hơn so với cá bống sao (L∞ = 160 mm;
K = 0,55/năm). Tuy nhiên, tuổi thọ của cá bống sao (tmax = 5,5 năm) lớn
hơn so với cá bống cát (tmax = 3,9 năm).
Nghiên cứu đặc điểm sinh sản cho thấy tỉ lệ đực:cái ở cá bống cát
và cá bống sao tương đương tỉ lệ chung của nhiều loài động vật thủy sinh
(1:1). Cá bống cát sinh sản kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12 và tập trung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status