1
MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ruồi đục quả (Diptera: Tephritidae) là nhóm đối tượng gây hại rất quan
trọng trên các loại cây ăn quả tại nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Do tập quán gây hại của ấu trùng ruồi (bên trong quả) vì vậy ruồi đục quả
(RĐQ) thường gây thất thu năng suất quan trọng trên cây và rau ăn quả. RĐQ
không chỉ làm thất thu năng suất trên đồng ruộng, gia tăng chi phí sản xuất, mà còn
làm gia tăng chi phí cho xuất khẩu do phải xử lý quả sau khi thu hoạch. Nhiều
nghiên cứu thống kê đã cho thấy thiệt hại do ruồi đục quả (Diptera: Tephritidae) gây
ra rất nặng nề. Không chỉ ở tại nơi sản xuất mà sự nhiễm ruồi trên quả còn kéo theo
sự đình trệ về thông thương hàng hoá.
Sự thất thu năng suất do RĐQ gây ra ước tính biến động từ 30-100%
(Dhillon và ctv., 2005)[64]. Tại Pakistan, ước lượng thất thu hàng năm khoảng 200
triệu US dollars (Stonehouse và ctv., 1998)[178]. Tại vùng bắc Queenland của nước
Úc, sự gây hại của B. papayae đã làm thất thu gần 100 triệu đô la Úc vào giữa
những năm 1990 (Drew, 1997)[71]. Chỉ riêng loài Bactrocera cucurbitae Coquillett
cũng đã làm ảnh hưởng đến quá trình xuất khẩu bí và bí ngô từ Tonga sang Nhật
ước tính lên đến 8-10 triệu đô la Mỹ [29].
Theo Viện Cây Ăn Quả miền Nam, tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, thiệt
hại do RĐQ gây ra trên quả cũng rất cao, tỷ lệ quả bị thiệt hại do nhiễm RĐQ được
ghi nhận như sau: xoài 12%, ổi 94%, mận 76,33%; khổ qua 30% (Huỳnh Trí Đức và
ctv., 2001)[5]. Nghiên cứu của Drew và ctv. (2001)[4] cho thấy có 29 loài thực vật ở
miền Bắc và 26 loài ở miền Nam Việt Nam bị RĐQ gây hại.
Chính vì việc phải đầu tư một số tiền lớn để làm sạch RĐQ trong lãnh thổ
của mình khi bị nhiễm RĐQ do nhập khẩu quả tươi từ nước ngoài, nên các nước
nhập khẩu tiên tiến đã đặt ra những quy định rất nghiêm ngặt đối với việc nhập
Bactrocera carambolae Drew & Hancock và Bactrocera tau Walker (Diptera:
3
Tephritidae) vùng đồng bằng sông Cửu Long và biện pháp phòng trừ ruồi đục quả
trước và sau thu hoạch’’ đã được thực hiện.
2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU NGHIÊN CỨU
- Sự gây hại của ruồi đục quả (Diptera: Tephritidae) và thành phần ruồi đục quả tại
vùng đồng bằng sông Cửu Long.
- Sự khác biệt về hình thái và di truyền giữa Bactrocera carambolae, B. tau với các
loài RĐQ phổ biến khác.
- Sự phân bố, ký chủ và gây hại của B. carambolae và B. tau trên cây trồng tại vùng
ĐBSCL.
- Đặc điểm sinh học của B. carambolae và B. tau.
- Nghiên cứu, đánh giá hiệu quả của các biện pháp phòng trừ RĐQ trước thu hoạch
và ứng dụng mô hình IPM để phòng trừ RĐQ trên diện rộng.
- Nghiên cứu sử dụng, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý nhiệt để phòng
trừ RĐQ sau thu hoạch.
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỂN
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ về
hai loài ruồi đục quả Bactrocera carambolae và B. tau và về quy trình IPM để quản
lý các loài ruồi đục quả nói chung và 2 loài ruồi B. carambolae và B. tau nói riêng
tại vùng ĐBSCL. Đây cũng là công trình đầu tiên nghiên cứu khảo sát về sự phân bố,
gây hại, đặc điểm sinh học và phân loại hai ruồi đục quả B. carambolae và B. tau
bằng phương pháp sinh học phân tử tại Việt Nam.
3.2 Ý nghĩa thực tiển
5
dầu khoáng, nghiên cứu sử dụng hiệu quả protein thủy phân để phòng trừ RĐQ,
từ đó nghiên cứu xây dựng mô hình và ứng dụng IPM để quản lý RĐQ trên diện
rộng. Đồng thời nghiên cứu và đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý nhiệt
RĐQ sau thu hoạch.
5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
- Phân loại hai loài B. carambolae và B. tau bằng phương pháp sinh học phân tử,
làm cơ sở cho công tác phân loại các loài ruồi mới tại Việt Nam.
- Xác định được sự phân bố, ký chủ và sự gây hại của B. carambolae và B. tau tại
vùng ĐBSCL.
- Bổ sung được nhiều số liệu có liên quan đến các đặc điểm hình thái, sinh học của
B. carambolae và B. tau như thời gian phát triển của các giai đoạn phát dục, sự
sinh sản, sống sót và tác động của thức ăn.
- Hoàn thiện chế phẩm protein thủy phân (Sofri protein) từ bả hèm bia để phòng
trừ hiệu quả ruồi đục quả (cả thành trùng đực và thành trùng cái).
- Xác định được kỹ thuật sử dụng hiệu quả protein thủy phân trong điều kiện ngoài
đồng.
- Xây dựng thành công mô hình IPM để quản lý RĐQ tại vùng ĐBSCL. Mô hình đã
được ứng dụng thành công trên nhiều vườn xoài, thanh long, khổ qua và sơ ri tại
ĐBSCL.
- Cung cấp bổ sung nhiều thông tin khoa học có liên quan đến tác động của nhiệt
đến sự sống sót của ruồi đục quả trên quả xoài tại Việt Nam, góp phần hoàn thiện
quy trình xử lý nhiệt để phòng trừ ruồi đục quả sau thu hoạch.
6
diện tích cây ăn quả đã lên đến 380.000 ha, năng suất bình quân đạt 10 tấn/ha và
rau ăn quả có diện tích 50.270 ha, năng suất bình quân đạt 21 tấn/ha (Cục trồng
trọt, 2010)[2]. Các kết quả đánh giá của Viện Cây Ăn Quả miền Nam về thiệt hại do
ruồi đục quả gây ra cho 4 loại quả ở Tiền Giang năm 2001 ghi nhận tỷ lệ nhiễm
RĐQ trên xoài, ổi, mận và khổ qua lần lượt là 12%, 94%, 76,33% và 30% (Huỳnh Trí
Đức và ctv.,2001)[5]. Đến năm 2005 tỷ lệ thiệt hại do ruồi đục quả tăng nhanh, tỷ
lệ nhiễm trên xoài chiếm tỷ lệ 25%, thanh long 18-22% và khổ qua là 46%
(Vijaysegaran và ctv., 2005)[191]. Nghiên cứu của Drew và ctv.(2001)[4] cho thấy
có 29 loài thực vật ở miền Bắc và 26 loài ở miến Nam Việt Nam bị RĐQ gây hại. Tại
miền Bắc, ghi nhận của Drew và ctv.(2001)[4] cũng cho thấy vào năm 1999, quả
đào bị nhiễm ruồi ở Sapa tăng dần từ 6% (tháng 6) lên 65% (cuối vụ) và vào năm
2000, và mức độ gây hại của RĐQ phụ thuộc vào thời gian gây hại chính của ruồi
trên quả và giống của từng loại cây ăn quả. Khảo sát của Lê Đức Khánh và
ctv.(2008)[6] trên 5 loại cây ăn quả (đào mèo, vải, táo ta, quýt vàng và hồng) và 1
loại rau ăn quả (mướp đắng) tại các vùng trồng tập trung tại một số tỉnh miền núi
phía Bắc ghi nhận tất cả các loại quả khảo sát đều bị ruồi gây hại khá nặng. Thời
gian gây hại bắt đầu từ khi quả sắp chín, khi màu vỏ quả bắt đầu thay đổi. Đối với
các loại quả có thời gian thu hoạch trong mùa hè hoặc mùa thu, tỷ lệ thiệt hại
thường tăng dần từ đầu vụ đến cuối vụ. Các loại quả thu hoạch cuối mùa thu hay
trong mùa đông có tỷ lệ thiệt hại cao nhất vào giữa vụ thu hoạch như quả hồng,
giữa vụ bị hại là 52%, quýt vàng Bắc Sơn giữa vụ bị hại là 29%.
1.2 THÀNH PHẦN VÀ SỰ PHÂN BỐ CÁC LOÀI RUỒI ĐỤC QUẢ
8
1.2.1 Trên thế giới
Nghiên cứu về sự phân bố của các nhóm RĐQ theo từng vùng được White
và Elson-Harris (1992) [198] ghi nhận như sau: Khu vực Nam Phi, sa mạc Sahara có
Indonesia, Java, Mã Lai, Thái Lan, Pháp, Singapore [67].
Hình 1.1 Sự phân bố của các loài ruồi thuộc họ phụ Dacinae tại Đông Nam Châu Á
và vùng Thái Bình Dương (Nguồn: Drew và Romig, 1997)[69]
Theo Vargas và ctv.(2001)[185], có 6 loài ruồi gây hại nghiêm trọng ở nhiều
quốc gia, bao gồm: Ceratitis capitata, Anastrepha suspensa, Bactrocera tryoni, B.
oleae, B. dorsalis, B. cucurbitae. Cả 6 loài ruồi này đều là đối tượng kiểm dịch quan
trọng của các nước nhập khẩu trên thế giới. Giống Bactrocera có số loài nhiều nhất
[50],[67]. 1.2.2 Việt Nam
10
Kết quả điều tra côn trùng năm 1967-1968, 1977- 1978 của Viện Bảo Vệ
Thực Vật ghi nhận có 12 loài RĐQ hiện diện tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu
“Quản lý ruồi hại quả ở Việt Nam” của dự án TCP/VIE/8823 - FAO và “Quản lý ruồi
hại quả nhằm tăng cường sản xuất quả và rau ở Việt Nam” (dự án ACIAR
CS/1998/005), ghi nhận có 30 loài ruồi hại quả ở Việt Nam, trong đó có 8 loài gây
hại quan trọng, bao gồm: Bactrocera dorsalis, B.correcta, B. pyrifloliae, B.
carambolae, B. cucurbitae, B. tau, B. latifrons và B. verbascifoliae. Khảo sát của Lê
Đức Khánh và ctv.(2008)[6] tại khu vực miền Bắc và Bắc Trung Bộ ghi nhận có 23
loài RĐQ gây hại trên 34 loại thực vật, bao gồm 18 loại cây ăn quả, 11 loại rau ăn
quả và 5 loại cây dại (bàng, sung, thàn mát, móng rồng và cà gai).
1.3 HỌ RUỒI TEPHRITIDAE VÀ PHÂN LOẠI
Tephritidae là họ lớn thuộc bộ hai cánh (Diptera) với trên 4000 loài thuộc
500 giống đã được ghi nhận, hầu hết các loài ăn thực vật, sống trên cây trồng, ấu
trong đó có nhiều loài gây hại rất quan trọng trong nông nghiệp. Giống và các loài
thuộc giống Bactrocera được nhận dạng dựa vào đặc điểm hình thái và sinh học
phân tử [186].
1.3.1 Định danh loài bằng hình thái
Thành trùng ruồi được định danh theo khóa phân loại của Drew và Hancock
(1994)[67] và Drew và Romig, 2007[69]. Đây là các khoá phân loại khá chính xác và
rõ ràng. Các hình thái biểu hiện khác nhau dùng để nhận dạng các loài thể hiện chủ
yếu ở hình dạng cấu trúc của cánh, chân và đốm bụng ở đốt III-V trên mặt lưng
bụng ruồi đục quả. Tuy nhiên, do sự lưu thông rau quả giữa các nước đã tạo điều
kiện để các loài Bactrocera gần huyết thống giao phối với nhau sinh ra loài mới.
12
Bên cạnh đó một số giống lại gồm nhiều phức hợp loài như phức hợp Bactrocera
dorsalis gồm nhiều loài có hình dạng tương tự nhau. Phức hợp B. dorsalis gồm ít
nhất 52 loài (Drew và Hancock, 1994)[67], điều này làm cho việc định danh loài
Bactrocera bằng hình thái gặp một số khó khăn. Hiện nay, việc phân loại các loài
trong nhóm có quan hệ gần nhau được xác định bằng các kỹ thuật sinh học phân
tử kết hợp với mô tả hình thái [69].
1.3.2 Phương pháp phân loại dựa vào kỹ thuật sinh học phân tử
Phương pháp phân loại bằng kỹ thuật sinh học phân tử (hay marker phân
tử) cho kết quả nhanh và chính xác. Mẫu dùng trong thí nghiệm có thể là một bộ
phận của ruồi đục quả đã được sấy khô, đông lạnh hoặc đã trữ trong thời gian dài.
Nguyên tắc cơ bản của phương pháp phân loại này là phân tích sự khác biệt cấu
trúc phân tử từ đó xác định sự khác biệt loài. Một số kỹ thuật sinh học phân tử đã
được sử dụng và đạt được độ chính xác cao như:
- Kỹ thuật PCR và PCR-RFLP trên một số vùng gien đã được tiến hành và thu
được một số kết quả đáng kể. Các vùng gien được sử dụng chủ yếu là vùng DNA
b. DNA ribosome
DNA ribosome thường được sử dụng trong nghiên cứu di truyền, trong đó
quan trọng là trình tự 16S rDNA. Việc giải trình tự 16S rDNA giúp phân tích sự khác
biệt ở nhiều loài sinh vật trong đó có vi khuẩn (Weisburg và ctv., 1991)[196]. Từ
kết quả nghiên cứu của Han (2002)[84], các marker rDNA hữu dụng cho các nghiên
cứu về di truyền của ruồi đục quả đã được thiết lập. Tuy nhiên, marker phân tử
này cũng không thể xác định được sự khác biệt loài đặc biệt là ở các chi phức tạp
14
như nghiên cứu của McPheron và Han, 1997[122]. Muraji và Nakahara (2001)[126]
cũng sử dụng trình tự mt rDNA chuyên biệt để xác định mối quan hệ di truyền giữa
các loài ruồi đục quả Bactrocera nhưng không thể phân biệt được các loài có mối
quan hệ di truyền rất gần nhau. Một bất lợi khác của marker phân tử này là phản
ứng PCR khó thành công khi mẫu DNA không tinh sạch (Riley, 1998)[151]. Bên cạnh
đó, mặc dầu phản ứng PCR với cặp mồi 16S rDNA có thể khuếch đại được trình tự
1500-1800bp những chỉ có một nữa trình tự này hữu dụng trong việc xác định loài
[105].
c. Cytochrome oxydase II
Cytochrome oxydase II (COII) là một phần của mtDNA. Nghiên cứu trên trình
tự COII đã được ứng dụng trong sắp xếp các sinh vật khác nhau từ sinh vật tiền
nhân đến thực vật và cả động vật có xương sống có quan hệ cấu trúc trong protein
COII đã được thể hiện. Việc sử dụng trình tự nucleotide COII để nghiên cứu phả hệ
phân tử ở côn trùng cũng đã được tiến hành như các nghiên cứu của Beckenbach
và ctv.,1993 [38], [42], [41], [164].
d. Kỹ thuật PCR-RFLP
RFLP (Restriction Fragment Length Polymorphism) là đa hình độ dài các phân
đoạn DNA được cắt giới hạn. Kỹ thuật này lần đầu tiên được biết đến khi Botstein
32
gắn vào đầu 5’ của các đoạn DNA.
* Phương pháp enzyme hay dideoxy của Sanger và ctv., (1977)[156], phương
pháp này sử dụng enzyme DNA polymerase và các dideoxy. Dideoxy là các
nucleotide mất cả hai nhóm OH ở vi trí cacbon số 2 và 3 trên phân tử đường
pentose. Khi DNA polymerase xúc tác cho việc kéo dài chuỗi polynucleotide, gặp
các dideoxy nucleotide (ddNTP) thì dừng lại. Do vậy các đoạn polynucleotide sẽ có
chiều dài khác nhau.
16
* Giải trình tự bằng hệ thống tự động: Máy giải trình tự ABI 3130 hoạt động
cũng trên nguyên tắc của phương pháp dideoxy của Fred Sanger, tức là trong quá
trình chạy PCR, mạch DNA đang được tổng hợp, nếu gặp dideoxy nucleotide thì bị
dừng lại và các đoạn nucleotide được tạo ra có độ dài khác nhau. Cái khác của máy
giải trình tự tự động so với phương pháp của Sanger là vật liệu đánh dấu. Trong
phương pháp của Sanger, vật liệu đánh dấu là đồng vị phóng xạ P
32
, đồng vị phóng
xạ này được nhận biết trên gel Polyacrylamine. Còn với máy giải trình tự, người ta
sử dụng vật liệu đánh dấu là 4 màu huỳnh quang cũng gắn vào các ddNTP. Hệ
thống đọc huỳnh quang của máy sẽ ghi nhận các tín hiệu từ các màu huỳnh quang
của các đoạn DNA đã được đánh dấu, và như vậy chúng ta cũng thu được những
đoạn DNA với chiều dài ngắn khác nhau. Với thời gian thực hiện nhanh và kết quả
tương đối chính xác, việc giải trình tự DNA bằng hệ thống tự động đã giúp xác định
cụ thể trình tự của đoạn gien đến từng nucleotide, giúp cho việc phân tích đa dạng
di truyền thuận lợi và dễ dàng hơn [159].
1.4 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC VÀ SINH THÁI CỦA CÁC LOÀI RĐQ
b. Phân bố: B.tau được ghi nhận hiện diện tại Bangladesh, Bhutan, Brunei
Darussalam, Cambodia, China, India, Indonesia, Lào, Malaysia và Myanmar [48].
c. Đặc điểm hình thái: Trên mặt có hai đóm đen rộng, hình oval. Mảnh lưng ngực
giữa màu đen có vệt đỏ nâu, phía lưng có 2 vệt vàng chạy song song, cuối mỗi vệt
vàng có một lông cứng, vệt thứ 3 ở giữa lưng màu vàng. Chân nhìn chung màu vàng
hung, ngoại trừ đốt chày chân trước, chân sau và gốc của đốt chày chân giữa có
màu đen hoặc xám đen, cánh có buồng cánh gốc và buồng cánh mép trước không
màu và lông cứng nhỏ [72].
d. Đặc điểm sinh học: Theo Singh và ctv.(2010)[168], thời gian phát triển của B.tau
được ghi nhận như sau: Trứng 1,3 ± 0,41 ngày; Ấu trùng tuổi 1: 1,2 ± 0,42 ngày; Ấu
18
trùng tuổi 2: 1,7 ± 0,48 ngày; Ấu trùng tuổi 3: 4,0 ± 0,94 ngày và giai đoạn nhộng:
7,0 ± 0,47 ngày. Thành trùng đực bị hấp dẫn bởi nhóm cue-lure.
e. Phổ ký chủ: Bí, khổ qua, chanh dây, ổi, sapô, đậu đũa [28].
f. Thiên địch: 5 loài ong ký sinh Diachasmimorpha albobalteata, Fopius arisanus,
Psyttalia makii, Psyttalia fletcheri, Utetes bianchi thuộc họ Braconidae [50].
1.4.3 Ruồi đục quả Bactrocera dorsalis (Hendel)
a. Ký chủ: gây hại trên 150 loại cây và rau quả [196].
b. Đặc điểm hình thái: Ruồi trưởng thành có màu nâu. Đầu hình bán cầu, trên
ngực
giữa có 3 vệt vàng xếp theo hình chữ U, trong đó có 2 vệt dọc ở 2 góc cánh, vệt
nằm ngang trên đốt ngực thứ 3 lớn hơn. Trên phía lưng của bụng có 2 vệt đậm đen
hình chữ T, đốt chày và đốt bàn chân màu vàng, kích thước của ruồi có thể dài đến
7mm, con đực nhỏ hơn con cái. Ấu trùng mới nở dài 1,5 mm, đẫy sức có thể dài
đến 8 mm [72].
c. Đặc điểm sinh học: Trứng được đẻ thành từng ổ, mỗi ổ từ 5-10 trứng. Theo
cứng. Chân nhìn chung có màu nâu vàng, ngoại trừ đốt chày chân sau màu nâu đen
và nâu đen đậm. Ở đỉnh cánh có buồng cánh gốc và buồng cánh mép trước không
màu và phía ngoài buồng cánh mép trước có nhiều lông cứng nhỏ.
c. Đặc điểm sinh học: Nuôi ở điều kiện nhiệt độ 26 1
0
C và ẩm độ 60-70%, thời
gian phát dục trung bình của trứng là 2-5 ngày, nhộng 5 1 ngày, thời gian trung
bình từ trứng đến khi vũ hoá 15 1 ngày, Trứng được đẻ thành từng ổ từ 5 đến
10 trứng vào trong một quả. Con cái đẻ trung bình từ 200 - 250 trứng, tối đa có
20
thể đẻ đến 400 trứng, B. correcta thường đẻ tập trung vào khoảng 8 giờ đến 10 giờ
trong ngày [5].
d. Thiên địch: Diachasmimorpha longicaudata, Fopius arisanus, Fopius
vandenboschi, Fopius persulcatus, Psyttalia makii, Psyttalia fletcheri, Psyttalia incisi
[50].
1.4.5 Ruồi đục quả Bactrocera cucurbitae (Coquillett)
a. Tên khoa học khác:Chaetodacus cucurbitae coq.; Zeugodacus cucurbitae
Coq.[12].
b. Phổ ký chủ: Theo Đặng Đăng Chương (2003)[3], tại Việt Nam, các loại quả được
phát hiện là ký chủ của B. cucurbitae bao gồm khổ qua, dưa leo, bầu bí đỏ. Drew và
Hancock (2000)[74] ghi nhận ở các tỉnh phía Nam Việt Nam, B.cucurbitae hiện diện
trên 11 ký chủ. Ngoài ra B. cucurbitae còn được ghi nhận trên dưa leo và cà chua.
Theo Doharey (1983)[65], có khoảng 70 loại thực vật là ký chủ của B. cucurbitae.
c. Đặc điểm hình thái: Thành trùng là loài ruồi có màu nâu sáng, chiều dài cơ thể 8
- 9 mm. Đầu và mắt nâu sẫm kéo dài đến đỉnh cánh, đỉnh cánh có một vệt đen
đậm. Trên lưng ngực trước 2 bờ vai có 2 vệt vàng, lưng ngực giữa có 3 vệt vàng
trứng/1 lần đẻ ở B. cucurbitae, kích thước ổ trứng có thể biến đổi tùy theo kích
thước của quả ký chủ, khoảng vài trứng trên quả nhỏ. Thời gian để một con cái đẻ
trứng thường 1- 6 phút tùy theo loài.
Sau khi vũ hóa, ruồi dùng gai đẻ trứng chích hút nhựa lá cây và dịch quả.
Ruồi ăn thêm từ 3 đến 8 ngày sau đó bắt cặp đẻ trứng. Hầu hết ruồi đẻ trứng vào
quả chín hoặc quả sắp chín dưới lớp biểu bì. Một con cái có thể đẻ đến 1000 trứng.
Thành trùng đực bị hấp dẫn bởi nhóm cue-lure[40], [82].
e. Thiên địch: B. cucurbitae có 3 loài thiên địch chủ phổ biến, bao gồm 2 loài ong
ký sinh Opius fletcheri, Fopius arisanus và tuyến trùng Steinernema carpocapsae
[64].
1.5 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI CỦA RĐQ
1.5.1 Tác động của các chất hấp dẫn từ quả cây chín
22
Drew và Hancock (2000)[74] đã xác định ảnh hưởng mùi vị và màu sắc đến
việc chọn địa điểm đẻ trứng của RĐQ. Với 5 loại mùi từ dịch trích của 5 loại quả
đặc trưng của Việt Nam (tất cả quả ở giai đoạn đủ độ chín) là cam, xoài, ổi, mãng
cầu ta và thanh long cho thấy mãng cầu ta và ổi hấp dẫn con cái B. dorsalis đẻ
trứng nhiều nhất (205 và 168,34 trứng /2 giờ), kế đến là cam, xoài (trung bình 80
và 66,67 trứng/2 giờ), nước thanh long hấp dẫn ít nhất.
Sử dụng mùi thơm và chất đạm thực vật để hấp dẫn thành trùng ruồi đã được
thực hiện vào những năm 1950 và 1960 như sử dụng chất lên men của quả cam
(280g vỏ cam + 25g (NH
4
)
2
CO
(2003)[3] ghi nhận ruồi ăn protein phối trộn với đường có khả năng đẻ sớm, với số
lượng trứng nhiều nhất (731 trứng/cá thể cái) và cho số ngày đẻ trứng dài nhất 64
ngày và tuổi thọ khá cao (75,5± 2,2 ngày), khác biệt có ý nghĩa so với các nghiệm
thức khác. Nếu nuôi ruồi bằng đường thì tuổi thọ chỉ đạt 2,7±0,5 ngày, do vậy
không đẻ trứng được.
1.5.3 Sự di cư của RĐQ
Khả năng di cư và di chuyển của loài Bactrocera nói chung dường như có
liên quan đến hai yếu tố là sự hiện diện của cây ký chủ và điều kiện môi trường
thuận lợi cho việc sinh sản.
Tuy nhiên những nghiên cứu trên B. dorsalis, B. cucurbitae ghi nhận từ lúc
bắt đầu vũ hóa cho đến khi hoàn tất quá trình thành thục về mặt sinh sản, các loài
này phải trải qua một giai đoạn có khuynh hướng phân tán ra ngoài. Trong giai đoạn
này, sự có mặt cây ký chủ dường như rất ít ảnh hưởng đến sự di chuyển của các loài
ruồi. Trong một nghiên cứu đánh dấu trên B. tryoni, ghi nhận có ít nhất 75% ruồi
trưởng thành đã di chuyển khỏi vườn cây sau một tuần vũ hóa, mặc dù xung quanh
hầu như không có cây ký chủ [82].
Các loài B. dorsalis và B. cucurbitae có khả năng di chuyển khá xa trong giai
đoạn có huynh hướng phân tán ra ngoài, Steiner và ctv. (1962)[175] ghi nhận hai
loài này di chuyển đến 65 km từ nơi phóng thích ở đảo Mariana. Chiu và Chu
(1986)[51] ghi nhận khi được phóng thích, loài B. dorsalis có khả năng di chuyển
khá xa trong giai đoạn có huynh hướng phân tán ra ngoài, ông đã phát hiện B.
dorsalis di chuyển khoảng 2 km đến vườn khóm. Trên vườn khóm, mật số B.
dorsalis cao hơn trên vườn phóng thích ruồi (rau quả hỗn hợp).
24
1.5.4 Tác động của các yếu tố phi sinh vật đến sự phát triển và sống sót của RĐQ
1.5.4.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ
0
C trứng non mẫn cảm với nhiệt nhất, trứng
già sau khi đẻ 24 giờ chống chịu nhiệt nhất [151].
1.5.4.2. Ảnh hưởng của ẩm độ
Giai đoạn trứng và ấu trùng của RĐQ sống trong quả và giai đoạn nhộng
sống chủ yếu trong đất nên ẩm độ thường không phải là vấn đề lớn. Trưởng thành
25
của hầu hết các loài ruồi đục quả thích hợp với mức ẩm độ từ 60-80%, ẩm độ thấp
hơn không nhất thiết giết chết ruồi ngay tức khắc, vì ruồi có khả năng bay đi tìm
nguồn nước. Tuy nhiên ẩm độ quá cao làm ruồi bay lượn khó khăn, khó giao phối,
đẻ trứng, tốc độ phát triển hạn chế và tỷ lệ chết trước tuổi rất cao [148].
1.5.4.3 Ảnh hưởng ánh sáng
Theo Poramarcom và Baimai (1995)[150], RĐQ cần mức ánh sáng trên 400
cho đến 500 lux, lý tưởng là 800 lux: ở điều kiện này ruồi có khả năng di chuyển
cao nhất, ánh sáng 200-300 lux lại thích hợp cho việc giao phối. Chế độ ánh sáng
cao 1000 lux thì ít phù hợp với ruồi. Các yếu tố của môi trường giữ vai trò quan
trọng đối với sự phân bố, đa dạng và sự phong phú của nhóm RĐQ, theo Meats
(1981)[127], sự phân bố quần thể và sự biến động của RĐQ thay đổi tuỳ theo mùa
và nhiệt độ. Sự liên quan về đa dạng và phong phú của RĐQ theo nhiệt độ cũng đã
được nhiều nhà khoa học khảo sát [38],[81].
1.6 BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ RĐQ VÀO GIAI ĐOẠN TIỀN THU HOẠCH
Tại những vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới, RĐQ là dịch hại chính ở giai đoạn
chuẩn bị thu hoạch. Đây là nhóm đối tượng rất khó phòng trừ, do RĐQ có phổ ký
chủ phong phú, khả năng đẻ trứng cao, vòng đời ngắn, từ đó có thể tạo thành
quần thể lớn trong một thời gian ngắn, nhóm này cũng có khả năng lây nhiễm cao
do có khả năng di chuyển rất xa. Để phòng trừ RĐQ, nhiều biện pháp đã được áp