nghiên cứu sự xuất hiện và thay đổi số lượng trong quần thể của hai loài sâu đục quả đậu maruca vitrata fabricius và etiella zinckenella treitschke; thành phần và vai trò của ký sinh sâu non của chúng ở khu vực hà nội - Pdf 23

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT ĐẶNG THỊ HOA NGHIÊN CỨU SỰ XUẤT HIỆN VÀ THAY ĐỔI SỐ LƯỢNG TRONG QUẦN
THỂ CỦA HAI LOÀI SÂU ĐỤC QUẢ MARUCA VITRATA FABRICIUS VÀ
ETIELLA ZINCKENELLA TREISCHKE HẠI ĐẬU ĐỖ; THÀNH PHẦN VÀ
VAI TRÒ CỦA KÝ SINH SÂU NON CỦA CHÚNG Ở KHU VỰC HÀ NỘI

Chuyên ngành: Động vật học
Mã số: 60.42.10 LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. KHUẤT ĐĂNG LONG
HÀ NỘI - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

MỤC LỤC
Trang


Etiella zinckenella
20
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
22
2.1. Đối tượng nghiên cứu
22
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
22
2.3. Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
22
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

2.4. Nội dung nghiên cứu
22
2.5. Phương pháp nghiên cứu
23
2.5.1. Phương pháp điều tra ngoài thực địa
23
2.5.2. Phương pháp nuôi sinh học trong phòng thí nghiệm
24
2.5.3. Phương pháp xử lý mẫu vật và số liệu
25
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
27
3.1. Sự xuất hiện và phân bố theo cây chủ của hai loài sâu đục quả
Maruca vitrata và Etiella zinckenella
27
3.2. Thành phần và vai trò của các loài ký sinh sâu non Maruca vitrata
34

3.5.1.1. Tập tính vào nhộng của Therophilus javanus (Bhat & Gupta)
51
3.5.1.2. Thời gian sống của ong trưởng thành trong phòng thí nghiệm
53
3.5.2. Ong ngoại ký sinh Bracon sp.
55
3.5.2.1. Số ong trưởng thành vũ hóa từ một vật chủ
55
3.5.2.2. Thời gian sống của ong trưởng thành trong phòng thí nghiệm
57
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
59
KẾT LUẬN
59
KIẾN NGHỊ
60
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
61
TÀI LIỆU THAM KHẢO
62

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1. Theo dõi hoạt động của 2 loài sâu đục quả đậu đỗ trên các
cây trồng nông nghiệp ở khu vực Hà Nội 2006 -2010.
28


Hình 3.1. Sự xuất hiện của hai loài sâu đục quả theo thời gian trên
cánh đồng trồng màu ở vùng ngoại thành Hà Nội
29
Hình 3.2. Sâu non M. vitrata trên lạc
31
Hình 3.3. Sâu non M. vitrata và quả đậu bị loài này gây hại
31
Hình 3.4. Các hình ảnh về sự gây hại của E. zinckenella
32
Hình 3.5. Diễn biến mật độ sâu non M. vitrata trên hoa và quả đậu đũa
và tỷ lệ sâu non bị nhiễm ký sinh (Phú Diễn, Từ Liêm, 2007)
36
Hình 3.6. Mật độ sâu non M. vitrata và tỷ lệ ký sinh chung của chúng
trên sâu trên hoa trong điều kiện có và không phun thuốc trừ sâu
38
Hình 3.7. Mật độ sâu non M. vitrata và tỷ lệ ký sinh chung của chúng
trên trên quả trong điều kiện phun và không phun thuốc trừ sâu
39
Hình 3.8. Ong đen ngực nâu đỏ Therophilus javanus (Bhat & Gupta)
42
Hình 3.9. Therophilus javanus (Bhat & Gupta)
42
Hình 3.10. Ong đen Therophilus maruca van Achterberg & Long
44
Hình 3.11. Therophilus marucae van Achterberg & Long
44
Hình 3.12. Therophilus robustus van Achterberg & Long
45
Hình 3.13. Ong cự nâu vàng Trathala flavo-orbitalis (Cameron)

MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Các cây thuộc họ đậu là một trong số các loài thực vật quan trọng, chúng
cung cấp thực phẩm có giá trị cho con người, như các loại đậu rau, đỗ xanh,
đỗ đen, lạc, đậu tương và đậu lăng Ngoài ra, đây là những cây trồng ngắn
ngày, thích hợp trong việc trồng xen, trồng luân canh, chúng có tác dụng cải
tạo và nâng cao độ phì cho đất. Vì vậy, chúng được trồng phổ biến ở nhiều
nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển.
Các cây họ đậu bị khá nhiều loài côn trùng gây hại, đặc biệt là các loài sâu
hại thuộc bộ cánh Vẩy (Lepidoptera), chúng là yếu tố chính gây ảnh hưởng
tới sinh trưởng và làm giảm năng suất và chất lượng của cây trồng từ khi gieo
hạt cho đến khi thu hoạch. Tất cả các bộ phận của cây đậu, từ lá, thân, hoa
đến quả đều bị các loài sâu này gây hại.
Trong số các loài sâu hại đậu đỗ, hai loài sâu đục quả Maruca vitrata
Fabricius và Etiella zinckenella Treischke (Lepidoptera: Pyralidae) là hai đối
tượng chính làm giảm năng suất và chất lượng của hạt. So với loài E.
zinckenella, loài M. vitrata thường chiếm ưu thế hơn, chúng xuất hiện và gây
hại sớm từ khi đậu chưa có hoa đến giai đoạn quả chắc. Khi cây đậu chưa có
hoa, sâu non dùng tơ quấn các lá non và ăn nõn lá. Khi cây đậu có hoa, sâu
non chủ yếu sống trên hoa và nụ hoa, chúng đục vào trong và ăn noãn hoa.
Khi cây đậu có quả, sâu non đục vào trong ăn hạt và mô làm rỗng quả. Khác
với sâu non loài M. vitrata, sâu non loài E. zinckenella thường đục khoét vào
bên trong ăn hại hạt, gặm khuyết hoặc rỗng hạt, chúng còn có khả năng đục
thân cây làm cho cây sinh trưởng chậm lại hoặc chết héo. Ở khu vực Hà Nội,
hầu hết các giống đậu đỗ đều bị hai loài sâu đục quả này gây hại, trong đó loài
đục quả M. vitrata thường chiếm ưu thế hơn. Tuy nhiên, trong tự nhiên, 2
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên


3
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên 2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích
- Xác định sự xuất hiện và thay đổi số lượng trong quần thể của hai loài
sâu đục quả đậu Maruca vitrata và Etiella zinckenella
- Xác định tập hợp ký sinh pha sâu non của hai loài sâu đục quả, cung cấp
số liệu cơ sở góp phần bảo vệ và lợi dụng chúng trong phòng trừ sâu hại
2.2. Yêu cầu của đề tài
- Xác định sự xuất hiện và thay đổi số lượng của quần thể hai loài sâu đục
quả đậu.
- Xác định thành phần và tỷ lệ các loài ký sinh hai loài sâu đục quả đậu.
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của các loài ký sinh chính.
2.3. Ý nghĩa của đề tài
- Tìm hiểu sự phát sinh, phát triển của hai loài sâu đục quả trên các cây
họ đậu.
- Tìm hiểu mối quan hệ giữa sâu đục quả đậu và ong ký sinh của chúng
nhằm cung cấp số liệu cơ sở cho việc bảo tồn các loài ong ký sinh và sử dụng
chúng trong biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu đục quả đậu. 4
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU


Trứng của loài M. vitrata có màu trắng xanh, hình bầu dục, dài 0,72 ± 0,03
mm, rộng 0,47 ± 0,04 mm, lúc sắp nở trứng chuyển sang màu vàng đậm.
Trứng được đẻ riêng rẽ hoặc thành từng đám riêng rẽ trên giá thể. Có thể quan
sát thấy sâu non ở bên trong khi trứng sắp nở do vỏ trứng rất mỏng.
Sâu non M. vitrata có dạng hình ống, ở giữa phình to, hai đầu thon. Sâu non
có thể có màu trắng đục, trắng xanh, xanh vàng hoặc hơi nâu. Trên mỗi đốt
bụng có 6 u lông màu nâu đen, ở mặt lưng có 4 u lông dạng hình vuông, 2 u
lông ở 2 bên sườn có dạng hình tròn nhỏ. Sâu càng lớn u lông càng to. Cơ thể
sâu non có 13 đốt, ở 3 đốt đầu mang 3 đôi chân ngực, bụng có 10 đốt và 5 đôi
chân bụng. Lỗ thở của sâu non có hình bầu dục. Sâu non có 5 tuổi, chúng phát
triển rất nhanh về kích thước nên khả năng gây hại sẽ tăng rất nhanh trong thời
gian ngắn, đặc biệt là khi thời tiết thuận lợi cho sự phát triển của sâu non.
Nhộng của M. vitrata có màng mỏng do sâu non tuổi cuối tạo ra bao bọc
lấy giai đoạn tiền nhộng trước khi vào nhộng, nhộng dài 11,71 ± 0,18 mm,
rộng 2,26 ± 0,08 mm. Lúc mới vào nhộng, phần bụng của nhộng có màu trắng
xanh, giữa các đốt có màu xanh nhạt, mầm cánh có màu trắng sữa, mắt kép có
màu đen, phần còn lại của cơ thể có màu nâu vàng nhạt, gai cuối bụng có màu
nâu đen, về sau nhộng có màu nâu. Mầm chân và mầm râu đầu kéo dài đến
hết đốt bụng cuối cùng. Đầu có hình thoi, có 8 đôi lỗ thở ở 2 bên bụng.
Cho đến nay, giống Etiella (Lepidoptera: Pyralidae) được biết đến 7 loài
(Whalley, 1973), châu Úc được xem là vùng phân bố ban đầu của các loài
này. Chỉ có loài Etiella zinckenella Treitschke là phổ biến hơn cả, chúng phân
bố rộng khắp các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới [51].
Trưởng thành E. zinckenella có cơ thể dài 10 - 12 mm, sải cánh rộng 20 - 24
mm, toàn thân màu nâu tro, mắt kép tròn màu đen, râu môi dưới dài, nhô ra
trước. Râu đầu hình sợi chỉ, ở phần gốc roi râu của con đực có một chùm lông 6
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

7
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên 1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.2.1. Về hai loài sâu đục quả đậu đỗ Maruca vitrata và Etiella zinckenella
Sâu đục quả đậu đỗ M. vitrata phân bố rộng trên cây họ đậu ở các vùng
nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ấn độ - Mã Lai được coi là vùng phân bố ban đầu
của giống Maruca trong đó có loài M. vitrata. Hiện tại, vùng phân bố của loài
này đã được mở rộng ra từ Bắc Úc và Đông Á kéo dài qua châu Phi đến
Caribê, Trung Mỹ và Hawaii [25], [49]. Vùng phân bố chính được xác định từ
đảo Verde ở Tây Phi, kéo dài về phía đông tới Kiji, Samoa và cả phần Tây
Ấn, Nam Mỹ [42].
Những nghiên cứu về phổ ký chủ của sâu đục quả đậu cho thấy chúng có
mặt trên rất nhiều loại cây thuộc họ đậu và các họ cây trồng khác. Theo ghi
nhận của Liao & Lin (2000), M. vitrata xuất hiện trên 40 cây chủ họ đậu [34].
Shama (1998) [42] đã thống kê danh sách 39 loài cây chủ của M. vitrata ở
châu Á, châu Phi, Úc, Nam và Bắc Mỹ; chúng thường xuyên có mặt trên các
cây Cajanus cajan, Vigna unguiculata, Phaseolus lunatus và Peuraria
phaseoloids. Arodokoun et al. (2003) cho rằng M. vitrata có mặt trên 23 loài
đậu khác nhau ở Tây Phi. Rathore & Lal (1998) thấy có 39 cây chủ của M.
vitrata trong đó 37 loài là các cây họ đậu. Các cây chủ chính bao gồm các loài
thuộc họ đậu Fabacea, M. vitrata gây hại trên Vigna unguiculata subsp.
unguiculata (đậu đũa), Vigna unguiculata subsp. sesquipedalis (yardlong
bean), V. radiata (đậu xanh), Glycine max (đậu tương), Pueraria phaseoloids
(puero), Phaseolus lunatus (đậu lima), và Cajanus cajan (đậu triều) và thường
gây mất mùa đáng kể ở cận sa mạc Sahara (Châu Phi), Đông Nam Á, Nam Á,
Trung và Nam Mỹ (dẫn theo Venu et al., 2010). Theo Akinfewa (1975), M.
vitrata gây hại trên 35 loài cây khác nhau thuộc 20 giống và 6 họ thực vật
khác nhau, trong đó chủ yếu tập trung vào họ cánh Bướm (Papilionacaea).

Theo Liao & Lin (2000) [34], thiệt hại năng suất do M. vitrata gây ra trên
đậu đỗ là 17 - 53%. Theo Sing & Allen (1980), sâu đục quả M. vitrata có thể
giảm năng suất hạt của các loài đậu từ 20 - 60% nếu không phòng trừ. Ở
Băngladesh, Ohno & Alam (1989) cho biết, sâu đục quả đậu có thể gây hại tới 9
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên 54,4% quả đậu đũa khi thu hoạch và làm giảm năng suất khoảng 20%. Dreyer
et al. (1994) quan sát thấy sự gây hại cho hạt giống thấp hơn so với gây hại
cho hoa. Tùy từng thời vụ, thiệt hại do sâu đục quả gây ra cũng khác nhau
như ở Nigeria thiệt hại do M. vitrata trên cây đậu đũa năm 1985 là 72%,
năm 1986 là 48%. Ogunwolu (1990) cho rằng, ngưỡng gây hại của sâu non
cho hoa là 40% (dẫn theo Shamrma, 1998). Taylor (1964) (dẫn theo Taylor,
1978) năng suất cây đậu đỗ bị giảm tới 60% do sự gây hại của loài M.
vitrata và nó còn kết hợp với bọ trĩ Megalurothrip sjosteti làm mất khả năng
sinh sản của hoa.
Sâu đục quả có thể gây hại trên cây đậu đỗ ngay khi hạt nẩy mầm, giai
đoạn cây con cho đến khi ra hoa kết quả. Sâu non của sâu đục quả nhả tơ kết
các lá non lại rồi đục vào ăn lá (đối với sâu non tuổi nhỏ) hoặc đục qua lại từ
bên nọ sang bên kia (đối với sâu non tuổi lớn). Sâu non có thể tấn công lên
các bộ phận còn non như làm mất đỉnh sinh trưởng ngọn dẫn đến cây không
phát triển được. Tuy nhiên sự gây hại nguy hiểm nhất cho cây đậu đỗ là ở giai
đoạn ra hoa và hình thành quả, nó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của cây
trồng. Điều kiện thời tiết thuận lợi cho việc ra hoa và hình thành quả cũng
thường là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của sâu non và sự đẻ trứng của
trưởng thành sâu đục quả.
Trưởng thành thường đẻ trứng lên đài hoa và cánh hoa. Ấu trùng nở, gây

kết kén giữa các lá sát nhau. Khi sâu non vừa hóa nhộng thì nhộng có màu
vàng, sau chuyển sang nâu sẫm. Thời gian phát dục của pha nhộng thường
kéo dài từ 6 - 8 ngày [47]; [38]. Các kết quả nghiên cứu của Ke, Fang, Li
(1985) tại Quảng Châu, Trung Quốc cho thấy nhộng của loài M. vitrata
thường qua đông trong các lớp đất bề mặt, đến tháng 5 mới vũ hóa trưởng
thành bay ra [32].
M. vitrata thuộc dạng chín sinh dục muộn, có nghĩa là sau khi vũ hóa,
trưởng thành cái không đẻ trứng ngay mà nó cần một thời gian ăn thêm để
hoàn thiện cơ quan sinh sản. Vào thời gian này, chất lượng thức ăn có ảnh
hưởng rất lớn đến thời điểm bắt đầu đẻ trứng và số lượng trứng đẻ. Khi 11
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, rất nhiều tác giả cho thấy nếu được ăn
thêm bằng dung dịch đường glucose 25% thì sau khi vũ hóa 3 - 4 ngày trưởng
thành cái bắt đầu đẻ trứng. Sự đẻ trứng đạt mức cao nhất là khoảng 6 - 8
ngày sau khi giao phối [32]. Trưởng thành cái sống trung bình từ 8,5 - 10
ngày, trưởng thành đực có thời gian sống ngắn hơn 5,9 - 6,1 ngày [47]. Khi
nhiệt độ là 20 - 25
0
C, độ ẩm 80%, trưởng thành cái sống 4 - 8 ngày, trứng nở
sau 3 - 6,5 ngày. Sâu non có 5 tuổi, thời gian để sâu non hoàn thành sự phát
triển của mình là 8 - 16,3 ngày, trước khi hóa nhộng sâu non chuyển sang
giai đoạn tiền nhộng 1 - 2 ngày. Chúng hóa nhộng ở dưới đất, nhộng được
bảo vệ bởi một màng kén mỏng, pha nhộng kéo dài khoảng 6,4 - 11 ngày.
Tổng thời gian hoàn thành chu trình sống của M. vitrrata là khoảng 18 - 35
ngày (dẫn theo Sharma, 1998).

để so sánh (so sánh về số lượng sâu hại có mặt trên cây chủ hoang dại và trên
cây đậu đỗ). Kết quả cho thấy loài M. vitrata rất hiếm khi gặp trên các cây chủ
hoang dại mà thường xuyên xuất hiện trên ruộng trồng đậu đỗ.
Sâu đục quả đậu Etiella zinckenella Treischke (Lepidoptera, Phycitidae) là
một loài sâu hại nguy hiểm trên các cây họ đậu (Fabaceae) ở phần lớn các
vùng nông nghiệp trên thế giới (Whalley, 1973) [51]; M. Tóth, 1989 [48]).
Theo Naito (1961), Qu and Kogan (1984) E. zinckenella là một loài sâu hại
phổ biến trên cây đậu tương ở Nhật Bản. Loài côn trùng này gây hại trên
nhiều cây họ đậu và được phân bố ở các vùng nhiệt, cận nhiệt đới và các vùng
nóng hơn của thế giới. Tuy nhiên, khi quan sát loài sâu hại này trên các cây
họ đậu ở Indonesia, Naito and Harnoto (1984) thấy mức độ gây hại của chúng
là không nhiều (dẫn theo Makoto Hattori, 1988)
Khi nghiên cứu sự gây hại cho đậu tương của sâu đục quả đậu E.
zinckenella và sâu xanh Helicoverpa armigeria ở Tây Java (Indonesia), Van
Den Berg (1998) thấy E. zinckenella và H. armigera gây hại 9% và 11% quả
đậu. Trung bình làm mất 12% hạt mà nguyên nhân chính là do E. zinckenella
[27]. Theo Whalley (1973), E. zinckenella gây hại 30 loài thực vật trong đó
21 loài thuộc cây họ đậu, chúng phân bố hầu hết các vùng nhiệt đới và nhiều 13
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên nước vùng ôn đới. Chúng chỉ không được ghi nhận ở Anh, Bắc Âu, Hawaii,
New Zealand và nhiều đảo ở Thái Bình Dương. Hình thái của loài E.
zinckenella thay đổi đáng kể về mặt kích thước và màu sắc ở các vùng phân
bố khác nhau. Trưởng thành cái đẻ trứng vào vỏ hạt đậu, sâu non nở ra đục
vào trong ăn hại hạt, sau khi đẫy sức chúng chui xuống đất tạo thành 1 cái kén
mỏng và hóa nhộng trong đó [51].

(Fabaceae: Pterocarpus santalinoides, Lonchocarpus sericeus và L. cyanescens)
là 30,2% (P. leucobasis) và 4,2% (B. kriegeri), còn trên cây đậu đũa Vigna
unguiculata tỷ lệ này là 5,6% (P. leucobasis) và 4,9% (B. kriegeri). Các loài
ký sinh xuất hiện chủ yếu ở sâu non tuổi 2 - 4 (tuổi 2: 3 loài, tuổi 3: 8 loài và
tuổi 4: 4 loài), tuổi 5 có 2 loài, ký sinh xuất hiện ở sâu non tuổi 1: 1 loài, xuất
hiện giai đoạn tiền nhộng: 1 loài [23].
Khi nghiên cứu trên đậu Sesbania cannabina trong mùa hè năm 1996 -
1997 tại Đài Loan, Chi-Chung Huang et al. (2003) chỉ ra thành phần ký sinh
của sâu đục quả M. vitrata gồm 8 loài: 6 loài ong thuộc hai họ Braconidae và
Ichneumonidae (Hymenoptera:) và 2 loài ruồi họ Tachinidae (Diptera). Các
loài ký sinh đều tấn công vật chủ ở giai đoạn sâu non. Ký sinh thành thục chui
ra khỏi vật chủ ở giai đoạn sâu non gồm 3 loài thuộc họ Braconidae:
Apanteles taragamae (chiếm 92,2%), Bassus asper (chiếm 0,4%) và
Dolichogenidea sp. chiếm 1,8%. Ký sinh chui ra ở giai đoạn nhộng vật chủ
gồm 3 loài thuộc họ Ichneumoniae, đó là Trichomma sp., Triclistus sp. và
Plectochorus sp. có ít hơn lần lượt 1,1%; 1,6% và 1,2% tổng số ký sinh; 2
loài ruồi có ít hơn 1,8% tổng số ký sinh. Nghiên cứu cũng cho thấy, mật độ
M. vitrata đạt cao nhất vào tháng 6, 7 và 8 trong cả 2 năm dẫn đến tỷ lệ ký
sinh của loài ong ký sinh chính A. taragamae cũng tương đối cao ở những
thời điểm này. Tỷ lệ ký sinh cao nhất đạt 63% ở thời gian giữa tháng 7 và 8,
sau đó sự hoạt động của ký sinh này giảm dần. Thay vào đó tỷ lệ các loài ký
sinh khác như Dolichogenidea sp., Triclistus sp., và 2 loài ruồi ký sinh tăng
lên, chúng duy trì mật độ sâu hại thấp cho đến mùa sau [30]. 15
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Kết quả nghiên cứu thành phần kẻ thù tự nhiên của sâu hại đậu ở Srilanka
phòng cho thấy loài ong ký sinh Trichogrammatoidea sp. đã ký sinh trên hơn
70% số lượng trứng thí nghiệm. Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy 3 loài
có khả năng ký sinh cao tiêu biểu cho tập đoàn ký sinh trên sâu non sâu đục
quả đậu M. vitrata (dẫn theo Tamò, 2000; Arodokoun, 2005).
Thành phần và vai trò của các loài ký sinh sâu đục quả E. zinckenella còn
ít được nghiên cứu. Theo Bindra và Sing, 1969 có 67 loài ký sinh bậc 1 và
bậc 2 trên sâu đục quả E. zinckenella ở các nơi trên thế giới. Vander Berg
(1992) cho rằng có 2 loài ký sinh sâu non phổ biến là Phaneratoma sp. và
Agathis sp. Kusigemati (1985) ghi nhận 2 loài ký sinh sâu non E. zinckenella
là Temelucha etiella và Pristmerus naitoi; 1 loài ký sinh trứng
Trichogrammatoidea bactrai (dẫn theo Robert, 1990) [40]. Theo Hopkins
(2003) loài sâu đục quả này bị tấn công bởi 6 ký sinh bao gồm 5 loài là ong
ký sinh (Hymenoptera) và 1 loài ruồi ký sinh (Diptera) với tỷ lệ ký sinh chung
là trên 10% [29]. Khi nghiên cứu sâu đục quả đậu E. zinckenella ở Tây Java
(Indonesia) van Den Berg (1998) ghi nhận 6 loài ký sinh sâu đục quả này với
tỷ lệ ký sinh chung là 15% [27].
1.3. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc
1.3.1. Về hai loài sâu đục quả đậu đỗ Maruca vitrata và Etiella zinckenella
Ở Việt Nam, các cây họ đậu giữ vai trò quan trọng trong đời sống của
người dân, chúng là nguồn cung cấp đạm, dầu thực vật (đậu tương,
lạc,…), rau xanh (đậu đũa, đậu trạch, đậu côve,…) và được chế biến
thành các loại thức ăn bổ dưỡng và giải nhiệt vào mùa hè (đậu xanh, đậu
đen, đậu đỏ,…). Cũng như các loài cây trồng khác, các cây họ đậu bị rất
nhiều loài sâu gây hại làm giảm năng suất và phẩm chất của sản phẩm,
trong số đó loài sâu đục quả Maruca vitrata và Etiella zinckenella được
ghi nhận là hai loài sâu hại chính.
quả và có 2 đỉnh cao mật độ trong năm. Đỉnh cao thứ nhất thường vào tháng 18
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên 5, có mật độ trung bình dao động từ 26,2 - 42,2 con/100 quả, đỉnh cao thứ 2
vào tháng 10, mật độ trung bình dao động từ 12,6 - 20,4con/100 quả. Mật độ
M. vitrata trong một vụ đậu trạch, đậu đũa đạt đỉnh cao ở giai đoạn đầu của
vụ thu hoạch [19].
Theo Nguyễn Quý Dương (1997), loài M. vitrata là đối tượng gây hại
nghiêm trọng nhất đến năng suất và phẩm chất của cây đậu, tỷ lệ hại trên hoa
cây đậu xanh từ 20 - 30%, ruộng không phòng trừ tỷ lện hại lên đến 60 - 70%.
Tác giả cũng đưa ra danh sách 11 loài ký chủ của sâu đục quả này, tất cả đều
thuộc phân họ Leguminosae [7].
Theo kết quả nghiên cứu trên đậu đỏ ở Phú Vang, Thừa Thiên - Huế trong
những năm 2005 - 2007 của Nguyễn Tiến Quân (2007), M. vitrata là 1 trong
5 loài gây hại nghiêm trọng. Chúng hại quả và búp lá, xuất hiện phổ biến và
gây hại nặng vào vụ Xuân hè và giảm vào vụ Hè thu. Ở vụ Xuân hè, vào giai
đoạn từ cây non đến trước khi phân hóa hoa không thấy xuất hiện sâu đục quả
trên đồng ruộng. Sâu đục quả phát sinh và gây hại từ khi xuất hiện nụ hoa đến
khi thu hoạch. Mật độ sâu tăng dần từ 5,7 con/100 hoa, quả ở giai đoạn phân
hóa hoa, đạt đỉnh cao vào cuối tháng 4 với mật độ 19,8 con/100 quả, giai đoạn
thu hoạch xuống còn 8,1 con/100 quả ở giai đoạn cuối vụ. Ở vụ Hè thu, mật
độ M. vitrata thấp hơn so với vụ Xuân hè, chúng xuất hiện sớm vào thời điểm
cây bắt đầu ra hoa, tuy nhiên, mật độ chỉ đạt 2,9 con/100 hoa, quả được điều
tra, mật độ tăng cao nhất vào giai đoạn thu hoạch quả cũng chỉ đạt 12,1
con/100 quả và giảm dần ở cuối vụ [20].
Đỗ Thị Phương Lan (2007) [11], khi nghiên cứu thành phần sâu hại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status