Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống lý luận khoa học và cách mạng
hoàn chỉnh, là vũ khí t tởng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong
cuộc đấu tranh để nhận thức và cải tạo thế giới. Hiện nay, cuộc đấu tranh t tởng và
thực tiễn mới xây dựng đất nớc đòi hỏi chúng ta phải tìm hiểu và nhận thức lại
những giá trị đích thực của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong đó có việc nghiên cứu và
quán triệt những nguyên lý cơ bản của triết học duy vật biện chứng, để phát triển
và vận dụng học thuyết cách mạng vào khoa học đó một cách sáng tạo trong hoạt
động thực tiễn. Vì vậy, việc khôi phục và bảo vệ những giá trị của triết học mácxít
cũng nh toàn bộ chủ nghĩa Mác - Lênin, khẳng định vị trí và vai trò của triết học
mácxít trong lịch sử triết học cũng nh trong cuộc sống, trở thành một nhiệm vụ
bức thiết. Trong bài tiểu luận ngắn này em xin trình bày một cách ngắn gọn và sơ
lợc quá trình hình thành và ra đời của triết học duy vật biện chứng mácxít. Vì thời
gian và trình độ có hạn, bài tiểu luận không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em
mong đợc sự chỉ bảo của các thầy và những ai quan tâm đến vấn đề này.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác - một cuộc cách mạng
trong triết học
Triết học Mác ( chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử)
là bộ phận cấu thành và đồng thoừi là cơ sở triết học của chủ nghĩa Mác, là chìa
khoá để giải thích trên cơ sở khoa học quá trình phát triển của t tởng nhân loại.
Quê hơng của chủ nghĩa Mác là nớc Đức. Sự phát triển mạnh mẽ của lực l-
ợng sản xuất ở Anh, Pháp, Đức và của các nớc t bản chủ nghĩa khác đã chứng tỏ
phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa u việt hơn hẳn phơng thức sản xuất phong
kiến. Song cùng với sự phát triển của chủ nghĩa t bản, những mâu thuẫn giai cấp -
xã hội vốn có của bản thân nó cũng nẩy sinh và ngày càng bộc lộ gay gắt, trớc hết
là mâu thuẫn giữa hai giai cấp vô sản và t sản. Mâu thuẫn này là biểu hiện về mặt
xã hội của mâu thuẫn cơ bản của phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa, mâu thuẫn
giữa tính chất xã hội hoá và trình độ phát triển ngày càng cao của lực lợng sản
Chẳng những thế, vào giữa thế kỷ XIX, nhân loại đã đạt tới những đỉnh cảo
trong khoa học tự nhiên. Các nhà khoa học tự nhiên nh R. Maye (Đức), P.P. Giulơ
(Anh), E. Kh. Lenxơ (Nga), L.A. Cônđinh ( Đan Mạch) đã xác định sự thật về
chuyển hoá năng lợng. R.Meye và P.P. Giulơ đã nêu lên thành định luậtu bảo toàn
và chuyển hoá năng lợng, đã chứng minh sự phát triển của vật chất là một quá
trình vô tận của sự chuyển biến những hình thức vận động của chúng. Các nhà
sinh vật học ngời Đức nh Svan và Slâyđen đã đề ra lý luận tế bào, đã chứng minh
rằng các tế bào là cơ sở của kết cấu và sự phát triển của tất cả các cơ thể động vật
và thực vật, và do vậy tìm ra bản chất sự phát triển của cơ thể động vật, thực vật
đều là sự phát triển bằng sự hình thành tế bào.
Nhà khoa học ngời Anh Đác Uyn cũng đã phát hiện ra lý luận duy vật về
nguồn gốc và sự phát triển của các loài thực vật và động vật. Chính định luật bảo
toàn và chuyển hoá năng lợng, lý luận tế bào, học thuyết về sự xuất hiện và phát
triển các loài là tiền đề về mặt khoa học tự nhiên của chủ nghĩa duy vật biện
chứng.
Chủ nghĩa Mác ra đời trong bối cảnh ấy và nó là sản phẩm mang tính quy
luật của khoa học và triết học mà nhân loại đã đạt tới, nó đợc hình thành nh là kết
quả của các phát hiện của Mác và Ăngghen về những quy luật chung nhất của sự
phát triển thế giới. Chủ nghĩa Mác do Mác và Ăngghen sáng lập là một học thuyết
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thống nhất, hoàn chỉnh, gồm ba bộ phận cấu thành: triết học mácxít, kinh tế chính
trị học mácxít và chủ nghĩa xã hội khoa học.
Sự hình thành thế giới quan duy vật của Mác và Ăngghen cũng đồng thời là
quá trình nghiên cứu những cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng của các ông
diễn ra trong nửa đầu của những năm 40 thế kỷ XIX dới ảnh hởng trực tiếp của
phong trào công nhân và những phát minh về khoa học tự nhiên và khoa học xã
hội, trong quá trình đấu tranh chống phép biện chứng duy tâm của Hêghen và phê
phán chủ nghĩa duy vật siêu hình của Phoiơbắc.
Các Mác sinh ngày 5 - 5 - 1818 tại Tơria, vùng Ranh của nớc Đức. Ngay từ
ngời bạn lớn tuổi của ông, và ngày càng khát khao gắn triết học với cuộc sống
hiện thực của nớc Đức lúc bấy giờ. Luận án tiến sĩ ra trờng năm 1841 của Mác đã
chứng minh điều đó. Luận án tuy viết về một đề tài triết học cổ Hy lạp nhng nội
dung lại cho thấy tác giả của nó là một nhà dân chủ cách mạng. Trong lời mở đầu
luận án, Mác kiêu hãnh đứng về phía Prômêtê, vị thần hi sinh vì tự do, là bạn của
loài ngời là kẻ thủ của các thần. Đối với Mác, Prômêtê đã trở thành biểu tợng lý t-
ởng của bản thân mình. Theo tinh thần của Prômêtê, Mác muốn đến với nhân dân
để cùng họ lật đổ những ảnh hởng của các thế lực phản động, đen tối, của sự áp
bức, bạo lực.
Khoảng giữa tháng 4 - 1841 Mác từ Béclin trở về Tơria, dự định xin làm
một giảng viên trờng Đại học, nhng không thực hiện đợc. Giữa lúc đang tìm kiếm
một môi trờng hoạt động thích hợp thì Mác đọc đợc một cuốn sách mà suốt thời
gian sau đó khiến ông bận tâm rất nhiều - đó là cuốn Bản chất đạo Cơ đốc của Lút
vích Phoiơbắc. Mác say sa với cuốn sách vì ông nhận thấy ở đây xuất hiện một
nhà triết học không chỉ phê phán gay gắt hệ t tởng tôn giáo của các tầng lớp phong
kiến mà còn tiếp tục phát triển một cách có phê phán một số mặt riêng biệt của
triết học Hêghen. Trong tác phẩn này, tác giả đã vứt bỏ mọi thứ tôn giáo cũng nh
toàn bộ chủ nghĩa duy tâm của Hêghen, coi chúng là trái ngợc với bản chất thực sự
của thế giới và với phẩm giá con ngời và thay vào đó bằng chủ nghĩa duy vật triết
học. Phoiơbắc tuyên bố rằng, để tồn tại thì thế giới cũng nh con ngời chẳng cần
một vị thần hay một ý niệm tuyệt đối nào của Hêghen cả. Con ngời tồn tại đợc
chỉ là nhờ tự nhiên và là một sản phẩm của sự phát triển tự nhiên. Tự nhiên, tồn tại
là cái có trớc và chúng tồn tại độc lập đối với con ngời và đối với ý thức của con
ngời. Ngoài con ngời và tự nhiên ra không còn có cái gì khác, không có thần. Tôn
giáo là một sản phẩm của con ngời.
5