Tuyển tập Báo cáo “Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học” lần thứ 6 Đại học Đà Nẵng - 2008
231
VẤN ĐỀ “ĐÓNG CỬA” VÀ “MỞ CỬA” CỦA MỘT SỐ
NƯỚC CHÂU Á TRƯỚC SỰ XÂM NHẬP CỦA CHỦ
NGHĨA THỰC DÂN PHƯƠNG TÂY (TỪ THẾ KỈ XVI ĐẾN
NỬA SAU THẾ KỈ XIX)
THE PROBLEM OF “DOOR-CLOSING” AND “DOOR-OPENING” OF SOME
ASIAN COUNTRIES BEFORE THE PENETRATION OF WESTERN
COLONIALISN (FROM THE 16
TH
CENTURY TO THE SECOND HALF OF
THE 19
TH
CENTURY)
SVTH: ĐỖ BÁ LƢU
Lớp 05ls, Khoa lịch sử, Trường Đại học sư phạm, ĐHĐN
GVHD: TH.S DƢƠNG THỊ TUYẾT
Khoa lịch sử, Trường Đại học sư phạm, Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Đề tài cho chúng ta hiểu rõ tình trạng trì tuệ, suy yếu mọi mặt của một số nước châu Á, mà cụ
thể ở đây là Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản trước khi chủ nghĩa thực dân phương
Tây xâm nhập. Qua đó cũng giúp chúng ta có một cái nhìn khách quan, toàn diện về sự lựa
chọn “đóng cửa” hoặc “mở cửa” đất nước của các nước châu Á trước sự xâm nhập của chủ
nghĩa thực dân phương Tây. Trên cơ sở thực tiễn lịch sử đó góp phần vào hoạch định đường
lối, chính sách đối ngoại của các nước trong xu thế hội nhập thế giới, khu vực hiện nay, đặc
biệt là đối với đất nước ta.
SUMMARY:
The theme enables us to know clearly of the situation of stagnancy, regression in every aspect
among some of the Asian countries, particularly Vietnam, China, Thailand, Japan before the
không chỉ đối với các nƣớc châu Á lúc bấy giờ mà còn mang tính thời sự hiện nay. Cụ thể vấn
đề đó đƣợc đề cập trong các tác phẩm:
- “Lịch sử Trung Quốc” của Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Huy Quý, Nxb giáo dục, 2003.
- “Ngoại giao giữa Việt Nam và các nƣớc phƣơng Tây dƣới triều Nguyễn (1802 -
1858)” của Trần Nam Tiến, Nxb Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2004.
- Cuốn “Lịch sử cận đại Nhật Bản” của Vĩnh Sính, Nxb Văn hóa Tùng Thƣ, 1990.
- “Lịch sử vƣơng quốc Thái Lan” của Vũ Dƣơng Minh, Nxb Giáo dục, 1994.
Ngoài ra còn nhiều tác phẩm khác, các tạp chí lần lƣợt đề cập đến vấn đề đóng cửa, mở
cửa. Tuy nhiên các tác phẩm trên còn rất chung chung, sơ lƣợc chƣa làm sáng tỏ vấn đề. Vì
vậy tôi muốn làm sáng tỏ vấn đề một cách khoa học và nghiêm túc đáp ứng yêu cầu ngƣời
học.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
-Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là: “Vấn đề “đóng cửa” và “mở cửa” của một số nƣớc
châu Á trƣớc sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân phƣơng Tây (từ thế kỉ XVI đến nửa sau thế
kỉ XIX)”.
- Phạm vi nghiên cứu : Một số nƣớc châu Á, ở đây tôi chỉ tập trung nghiên cứu các
nƣớc: Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Nhật Bản (từ thế kỉ XVI đến nửa sau thế kỉ XIX).
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu.
4.1. Nguồn tư liệu
Tƣ liệu thành văn của các tác giả ngƣời Việt, tài liệu dịch của các tác phẩm tác giả
nƣớc ngoài, các tạp chí, thông tin trên mạng.
4.2. Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài tôi sử dụng kết hợp nhiều phƣơng pháp: tổng hợp, phân tích đánh giá, nhận xét
đối chiếu, so sánh khi sử dụng tài liệu.
5. Đóng góp của đề tài:
- Giúp ngƣời nghiên cứu hiểu rõ thực chất của chính sách “đóng cửa” và “mở cửa” của
một số nƣớc châu Á khi chủ nghĩa thực dân phƣơng Tây xâm nhập.
- Những bài học kinh nghiệm trong xu thế hiện nay
- Tƣ liệu tham khảo cho ngƣời học tập, nghiên cứu lịch sử.
6. Cấu trúc đề tài:
Sự phát triển của xã hội tƣ bản Âu, Mĩ là việc không thể tách rời đƣợc sự cƣớp bóc
của họ tại những khu vực có nền kinh tế lạc hậu trên thế giới. Chủ nghĩa thực dân tiến hành
xâm lƣợc các nƣớc Á, Phi, Mĩ latinh. Đồng thời với sự xâm lƣợc đó, sự xâm nhập của chủ
nghĩa thực dân đã làm cho nền kinh tế, xã hội ở các nƣớc Á, Phi, Mĩ latinh có sự chuyển biến
mạnh mẽ. Nền kinh tế tƣ bản chủ nghĩa thâm nhập vào làm quan hệ sản xuất phong kiến lung
lay, nó chuyển từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa. Còn xã hội thì xuất hiện những giai
cấp tầng lớp mới. Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản cũng bị cuốn vào vòng xoáy
của chủ nghĩa thực dân.
1.2. Tình hình một số nước châu Á (Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Nhật Bản)
trước khi chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm nhập.
Châu Á rộng lớn, đông dân, giàu tài nguyên cho nên thu hút sự chú ý của ngƣời
phƣơng Tây. Các cuộc phát triển địa lí đã mở ra thời đại xâm chiếm thuộc địa của thực dân
Âu, Mĩ. Trƣớc khi chủ nghĩa thực dân phƣơng Tây xâm nhập các nƣớc châu Á nhƣ Việt Nam,
Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản đang ở trong tình trạng suy yếu mọi mặt.
Về kinh tế: Nền kinh tế vẫn là kinh tế tự nhiên xây dựng trên nền tảng tiểu nông kết
hợp chặt chẽ với thủ công gia đình. Bọn địa chủ, quan lại phong kiến tìm cách chiếm ruộng đất
và thu tô nặng (trên 50% hoa lợi của nông dân). Nông dân bị áp bức bóc lột nặng nề. Tuy
nhiên vào đầu thời cận đại ở các nƣớc đã xuất hiện những yếu tố tƣ bản chủ nghĩa: công
trƣờng thủ công ra đời, sản xuất hàng hóa nhỏ ngày càng lệ thuộc vào những ngƣời thu mua,
quan hệ hàng hóa tiền tệ thâm nhập vào nông thôn.
Về chính trị: Cho đến đầu thế kỉ XIX tình hình chính trị các nƣớc cũng rất phức tạp,
rối ren. Ở các nƣớc nhà nƣớc trung ƣơng tập quyền suy yếu trở nên bảo thủ phản động.
Về xã hội: Quan hệ hàng hóa tiền tệ phát triển làm xói mòn những giá trị tƣởng chừng
bất biến, làm thay đổi các đẳng cấp trong xã hội. Phong trào đấu tranh nông dân liên tiếp nổ ra
Tuyển tập Báo cáo “Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học” lần thứ 6 Đại học Đà Nẵng - 2008
234
chứng tỏ chế độ phong kiến đã suy yếu. Đó là điều kiện thuận lợi cho các nƣớc thực dân xâm
nhập vào các nƣớc châu Á. Một giai đoạn đầy khó khăn thử thách phía trƣớc đang chờ đợi các
nƣớc phong kiến châu Á.
Trong nửa thập kỉ đầu XIX, Thái Lan nhờ thi hành chính sách ngoại giao “lựa chiều”
cho nên dù chịu sức ép từ phƣơng Tây Thái Lan vẫn giữ đƣợc thế bình đẳng ngang bằng trong
quan hệ với các nƣớc phƣơng Tây. Nhƣng đến giữa thế kỉ XIX trƣớc áp lực ngày càng tăng
của chủ nghĩa thực dân phƣơng Tây, Rama Mông kút đã chủ trƣơng “mở cửa” giao lƣu với thế
giới, mặc dầu phải kí những điều kiện bất lợi, kí nhiều hiệp ƣớc không bình đẳng với nƣớc
ngoài.
2.3. Hệ quả của chính sách đóng cửa và mở cửa.
2.3.1. Đối với Việt Nam, Trung Quốc
Nó đều tạo điều kiện cho quan hệ sản xuất tƣ bản chủ nghĩa xâm nhập vào các nƣớc,
tạo nên sự biến chuyển trong nền kinh tế, xã hội các nƣớc.
Trung Quốc và Việt Nam thực thi chính sách “đóng cửa” gây nên hệ quả tiêu cực cho
đất nƣớc. Trung Quốc buộc phải kí các hiệp ƣớc bất bình đẳng, bị các nƣớc đế quốc xâu xé
chia nhau từng bƣớc biến thành nƣớc nửa thuộc địa, nửa phong kiến. Còn với Việt Nam triều
Tuyển tập Báo cáo “Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học” lần thứ 6 Đại học Đà Nẵng - 2008
235
Nguyễn đã hèn nhát, lần lƣợt kí các hiệp ƣớc bán nƣớc để rồi thực dân Pháp biến nƣớc ta
thành nƣớc thuộc địa nửa phong kiến vào cuối thế kỉ XIX.
2.3.2. Đối với Thái Lan, Nhật Bản
Tạo điều kiện cho hai nƣớc hòa nhập vào nền kinh tế tƣ bản chủ nghĩa, phát triển đất
nƣớc. Thái Lan nhờ thi hành chính sách “mềm dẻo”, “lựa chiều” đã giữ vững “độc lập dân
tộc” dù chỉ là trên danh nghĩa. Nhật Bản học hỏi văn minh, kĩ thuật phƣơng Tây, tạo tiền đề
cho những cải cách Minh Trị Thiên hoàng sau này, vƣơn lên địa vị bình đẳng với các nƣớc tƣ
bản Âu, Mĩ.
2.3.3. Những bài học kinh nghiệm trong xu thế hiện nay.
Để lại bài học kinh nghiệm về nắm bắt xu thế thời đại luôn nâng cao vị thế của đất
nƣớc trên trƣờng quốc tế.Đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, hội nhập quốc tế là tất
yếu với mỗi quốc gia. Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản đều nắm bắt đƣợc quy luật
này. Tuy nhiên mỗi nƣớc khi “mở cửa” lại lựa chọn những con đƣờng và nguyên tắc khác
nhau tùy vào điều kiện thực lực mỗi nƣớc. Riêng với Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc
tế, Đảng ta quán triệt đƣờng lối đối ngoại độc lập, tự chủ, phát triển kinh tế thị trƣờng định