Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010
305
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG HỢP LÝ DẢI PHÂN CÁCH CỦA ĐƯỜNG PHỐ
Ở MỘT SỐ ĐÔ THỊ MIỀN TRUNG VIỆT NAM
RESEARCH ON USING MEDIAN SENSIBLY IN SOME URBANS
OF THE CENTRAL VIET NAM
SVTH: Từ Bình Minh
Lớp 05X3A, Khoa Xây dựng cầu đường, Trường Đại học Bách Khoa
GVHD: TS. Phan Cao Thọ
Khoa Xây dựng cầu đường, Trường Đại học Bách Khoa
TÓM TẮT
Nhận thấy rằng : Yêu cầu thiết kế về một bề rộng tối thiểu và mong muốn của dải phân
cách như trong TCXDVN 104 : 2007 là không thật rõ ràng, nếu lấy một bề rộng tối thiểu như trong
tiêu chuẩn đó đặt vào trong mặt cắt ngang đường thì thực tế cho thấy vẫn còn nhiều bất hợp lý
như tai nạn do phương tiện vượt qua dải phân cách, chỗ mở để dành cho xe rẽ hay quay đầu gặp
nhiều khó khăn. Đề tài này tập trung nghiên cứu và đề xuất một bề rộng tối thiểu dựa trên 4 yếu tố
đó là : Tốc độ, lưu lượng, thành phần dòng xe, không gian kiến trúc. Đề xuất mức phục vụ tối thiểu
cần đặt dải phân cách cứng. Ứng dụng các phương pháp thiết kế xử lý dải phân cách thuận tiện
cho xe rẽ, quay đầu.
ABSTRACT
It’s realized that the design requirement of minimum width and expected median as
TCXDVN 104:2007 is unclear. If appyling a minimum with as this standard to place into cross
section of the road, it’s factually shown that there are still unreasonable issues such as traffic
accidents due to the vehicle go across the median, as well as the space for vehicle to turn
left/right/back is unconvenient. This topic focuses on surveying and proposes a minimum width
based on 4 elements, namely speed, volume of traffic, vehicle stream, architectural space.
Proposing the minimum norm to place the hard median. Applying design methods to deal with
median so as to be convenient for vehicle to turn left/right/back.
1. Đặt vấn đề
L
V
N
1000
Trong đó:
o L – khổ động học của xe máy.
o V – vận tốc chuyển động của xe máy.
Khi vận tốc chuyển động của xe máy V≤80 km/h khả năng thông hành lớn nhất của
xe máy là N
max
= 1100–1800 xe máy/h. Để tính toán số làn chuyển động của xe máy trên
đường TS Đào Huy Hoàng đề xuất chọn N
max
=1650 xe máy/h.
Bảng 1. Chiều rộng tối thiểu của một làn xe máy
Chiều rộng một làn xe máy, cm
Vận tốc 20 40 60 80 100
Chiều rộng 100 120 140 160 180
Giả thiết mà đề tài đưa ra để tìm mức phục vụ hợp lý đặt DPC cứng là :
Đường có 4 làn xe ô tô, mỗi làn rộng 3,5m, tốc độ xe chạy trên đường là 40km/h.
Tính toán
Với tốc độ xe chạy 40km/h (11,11m/s) thì cần một bề rộng làn xe máy là 1,2m.
1 chiều xe chạy có 2 làn xe ô tô 2×3,5m tức có 3 làn xe máy 3×1,2m và 1 làn ô tô 3,4m.
1 làn xe máy có khả năng thông hành N
1max
=1650 xe máy/h
3 làn xe máy có khả năng thông hành N
4max
= 4950 xe máy/h
0,75 ) thì có xe máy được xếp ở làn thứ 3. Muốn vượt xe ở làn thứ 3 này ta phải
thao tác xe ở làn thứ 4. Làn xe thứ 4 là làn vốn dành cho xe ô tô, với bề rộng 3,4m
là một bề rộng cần thiết để an toàn cho ô tô chạy. Xe máy thao tác vượt ở làn thứ 4
làm mất đi một phần không gian cua xe ô tô, ô tô phải chạy lấn đường sang phần
đường ngược chiều gây mất an toàn.
Do đó, tôi đề xuất đặt DPC trên đường 4 làn xe ô tô khi mức phục ≥ 0,75.
Hình 1. Sơ đồ xác định mức phục vụ
3. Đề xuất phạm vi sử dụng dải phân cách
Dựa trên các kết quả nghiên cứu và yêu cầu bề rộng tối thiểu DPC theo tốc độ của
FDOT [10].
Dựa trên thành phần dòng xe trong đô thị miền trung, bề rộng tối thiểu cho rẽ và
quay đầu xe.
Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010
308
Dựa trên yêu cầu mỹ quan đường phố thì bề rộng DPC phụ thuộc vào số làn.
Bảng 2. Phạm vi sử dụng dải phân cách
Loại đường
Tốc độ
thiết kế
(km/h)
Mức
độ
phục
vụ
Số làn
xe
Dạng dải
phân cách
Bề rộng cần
30
E
2 VS - -
20 1 VS - -
Ghi chú : Với cùng một tốc độ thiết kế thì đường có số làn lớn hơn cần một bề rộng tối
thiểu lớn hơn và ngược lại.
Áp dụng dạng dải phân cách b1 ở đường cao tốc đô thị thì :
+ Khi lưu lượng < 20000 xc/ngđ thì bề rộng tối thiểu dải mép như trong bảng trên.
+ Khi lưu lượng 20000 ÷ 30000 xc/ngđ thì bề rộng tối đa phần phân cách không dùng
barie là 6m.
+ Khi lưu lượng >30000xc/ngđ thì bề rộng tối đa phần phân cách không dùng barie là 9m.
Trong giao thông đô thị sử dụng dạng dải phân
cách tôn cao là chủ yếu vì ngoài mặt an toàn, nó còn
có thể phục vụ tốt khi đặt các công trình như biển báo,
điện chiếu sáng, cây xanh đảm bảo vẽ mỹ quan. Dải
phân cách hạ thấp không được quan tâm để sử dụng vì
phải tốn một diện tích đất lớn và kém an toàn hơn.
Các barie bêtông hay tôn lượn sóng nên tránh
sử dụng vì không đảm bảo mỹ quan đường phố. Đề
xuất áp dụng các loại vật liệu mới như composit thay
thế cho bêtông làm barie vì nó có nhiều ưu điểm nổi
bật : Nhẹ khi vẫn chuyển lắp ráp, bền, màu sắc tươi
mới...
Hình 2. Dải phân cách bằng composit
Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010
309
4. Thiết kế ứng dụng cho dải phân cách ở TP Đà Nẵng
Thiết kế dải phân cách tại nút Điện Biên Phủ, Hà Huy Tập (TP Đà Nẵng ). Đoạn
giảm tốc được thiết kế theo County of alameda * Public works agency. Mũi dải phân cách
được cấu tạo lưỡi mác, dùng phương pháp bán kính rẽ xe tối thiểu để thiết kế.