1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ LÊ TÂM
TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC TÁI ĐỊNH CƯ ĐẾN ĐỜI
SỐNG NGƯỜI DÂN TRONG VÙNG DỰ ÁN CỦA
DỰ ÁN ADB CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐÔ
THỊ MIỀN TRUNG VIỆT NAM (DỰ ÁN ADB)
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÀNH XÃ HỘI HỌC
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 30
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÀNH XÃ HỘI HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS Trịnh Văn Tùng Hà Nội - 2012
4
MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 11
1. Lý do chọn đề tài 11
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 14
1.1.2 Thao tác hóa một số thuật ngữ và khái niệm chính của nghiên cứu 25
1.1.2.1 Tác động 25
1.1.2.2 Đời sống xã hội 28
1.1.2.3 Đời sống vật chất 30
1.1.2.4 Đời sống tinh thần 30
1.1.2.5 Môi trường 31
1.1.2.7 Tái định cư bắt buộc 32
1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 35
1.2.1 Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề tái định cư35
1.2.2 Chính sách của ADB đối với vấn đề Tái định cư 35
1.2.3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 37
1.2.4 Đặc điểm kinh tế-xã hội của địa bàn miền Trung trong vùng ảnh hưởng
của dự án ADB 40
1.2.5 Đặc điểm kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu 42
1.2.5.1 Thành phố Tam Kỳ: 42
1.2.5.2 Thành phố Hà Tĩnh 43
1.2.6 Giới thiệu về dự án Cải thiện môi trường đô thị Miền Trung 44
2.1 Khung chính sách tái định cư của Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Phát
triển Châu Á (ADB) 47
2.1.1 Khung chính sách tái định cư của Chính phủ Việt Nam 47
2.1.2 Khung chính sách tái định cư của ADB 50
2.2 Một vài nét về các đối tượng trực tiếp liên quan đến dự án ADB 51
2.2.1 Về đối tượng hưởng lợi từ dự án Cải thiện môi trường Miền trung 51
2.2.2 Về đối tượng bị ảnh hưởng buộc phải tái định cư 52
2.2.3 Về đối tượng tiếp nhận cư dân tái định cư 52
6
CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG TÁI ĐỊNH CƯ ĐẾN
NGƯỜI DÂN TRONG VÙNG DỰ ÁN ADB TẠI HAI ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ HÀ TĨNH VÀ THÀNH PHỐ TAM KỲ 54
3.5.2.1 Đánh giá của chính quyền địa phương 85
3.5.2.2 Đánh giá của nhóm xã hội tiếp nhận cư dân tái định cư 85
3.5.2.3 Đánh giá của những người dân tái định cư 86
1. Kết luận 91
2. Khuyến nghị 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 96
Bảng 3-1 Tình hình xây dựng các khu Tái định cư và số hộ thuộc diện tái
định cư…………………………………………………………………….
52
Bảng 3-2 Số liệu tái định cư tại Tam Kỳ………………………………….
53
Bảng 3-3 Thu nhập của các hộ tái định cư tại thời điểm năm 2010 (%)….
57
Bảng 3-4 Quy đổi mức thu nhập trung bình của các hộ tái định cư năm
2007 về năm 2010…………………………………………………………
58
Bảng 3-5 Mức thu nhập trung bình của các hộ tái định cư tại Tam Kỳ năm
2007………………………………………………………………………
60
Bảng 3-6 Thu nhập trung bình hàng tháng của hộ tái định cư tại Tam Kỳ
60
Bảng 3-7 Mức thu nhập của hộ bị ảnh hưởng tại Hà Tĩnh năm 2007…….
61
Bảng 3-8 Thu nhập trung bình hàng tháng của hộ tái định cư tại Hà Tĩnh
năm 2010…………………………………………………………………
61
Bảng 3-9 Nghề nghiệp của các thành viên hộ tái định cư thành phố Hà
Tĩnh…………………………………………………………………………
84 9
điều tra năm 2010………………………………………………………….
Hình 3-4 Biểu đồ cơ cấu nghề nghiệp hộ tái định cư thành phố Tam Kỳ
điều tra năm 2010 …………………………………………………………
65
Hình 3-5 Khu tái định cư Lò Mổ và khu Nam sông Cụt, Thành phố Hà
Tĩnh ………………………………………………………………………
69
Hình 3-6 Đánh giá mức độ thuận tiện theo thành phố (%)………………
73
Hình 3-7 Đánh giá về các yếu tố tác động đến sự hòa nhập cộng đồng tại
nơi ở mới (%)……………………………………………………………
74
Hình 3-8 Mối quan hệ của người tái định cư đối với các chủ thể khác……
76
Hình 3-9 Tình trạng vệ sinh môi trường khu tái định cư mới Nam Sông
Cụt (Hà Tĩnh)
85
10
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB
Ngân hàng phát triển Châu Á
Dự án ADB
tính khái quát hơn của sự phát triển bền vững lại mang tính xã hội và nhân
văn, như được nêu trong q
. Đó là
. [10, tr.10].
Về cơ bản, phát triển bền vững xã hội có cốt lõi nằm ở việc giải quyết
những mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội,
cũng như phát triển con người. Tuy nhiên, ngay cả với một cách hiểu sơ lược
như vậy, thì sự phát triển bền vững về mặt xã hội vẫn còn là một chủ đề lớn
12
và phức tạp. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, để đảm bảo cho sự phát
triển bền vững về mặt xã hội, bên cạnh việc thúc đẩy tăng trưởng về mặt kinh
tế, bảo vệ môi trường, thì vẫn còn những quá trình và những yếu tố xã hội cần
được chú ý xem xét đúng mức, chẳng hạn: (i) hệ thống chính sách cần thiết
đầu tư cho con người, thúc đầy phát triển con người, đảm bảo các nhu cầu cơ
bản trong cuộc sống của họ, (ii) cải thiện điều kiện sống, cơ sở hạ tầng thiết
yếu của nhóm người nghèo, đặc biệt là nhóm xã hội nhạy cảm dễ bị tổn
thương, (iii) huy động sự tham gia rộng rãi và có hiệu quả của cộng đồng và
mọi người dân vào quá trình phát triển, và (iv) tăng cường về mặt thể chế các
quá trình địa phương của xã hội dân sự.
Đây cũng chính là những nhiệm vụ xuyên suốt mà Đảng và Nhà nước
quan tâm chỉ đạo, giao phó và yêu cầu đối với khoa học xã hội nói chung và
xã hội học nói riêng.
Trong phát triển kinh tế xã hội nói chung, để theo đuổi những mục tiêu
phát triển đô thị, nhiều mục tiêu ưu tiên về phát triển kinh tế đã thách thức
những ưu tiên về bảo vệ môi trường bền vững và bảo đảm đời sống cho người
dân trong các khu vực khác nhau, đặc biệt là khu vực đô thị nơi phần lớn
người dân đô thị bị hạn chế trong việc hưởng các ưu tiên chính sách về môi
truờng đô thị, vốn bản thân nó cũng đã rất yếu kém do phải nhượng bộ những
đương với mức sống của họ trước khi có dự án, trong đó chú trọng cải thiện
điều kiện sống của người nghèo bị thu hồi đất, cũng như các nhóm xã hội bị
ảnh hưởng khác, ví dụ như nhóm dân cư bản địa xung quanh khu vực tái định
cư. Như chúng ta biết, tự bản thân hoạt động tái định cư đã phá vỡ cấu trúc
không gian sống của người dân, kể cả đối với người phải tái định cư và cả
cộng đồng tiếp nhận người tái định cư. Trong đó có các mối tương tác, thích
ứng xã hội về các mặt như không gian, kinh tế, xã hội, giáo dục, y tế, việc
làm. Thực tế này đang đặt ra yêu cầu cấp bách trong việc nghiên cứu về tác
động của các chính sách và hoạt động tái định cư thực tế trong các dự án phát
triển của ADB – nhà tài trợ quốc tế lớn ở Việt Nam vừa mang ý nghĩa về mặt
lý luận, vừa mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng lớn. Nghiên cứu này một mặt
14
ứng dụng những lý thuyết xã hội học vào giải thích một vấn đề của thực tiễn
là tác động của hoạt động tái định cư đối với người dân trong dự án Cải thiện
môi trường đô thị miền Trung, góp phần kiểm chứng thêm tính đúng đắn của
một số luận điểm về lý thuyết của Xã hội học. Mặt khác, nghiên cứu góp phần
giúp các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý, chính quyền và đối tác địa
phương hiểu rõ hơn về vấn đề môi trừơng trong phát triển và tác động tái định
cư. Từ đó có biện pháp phù hợp nhằm phát huy tối đa nguồn lực và vai trò
cũng các bên tham gia trong quá trình phát triển nhằm giải quyết những vấn
đề khó khăn để đạt tới mục tiêu phát triển kinh tế xã hội bền vững đồng thời
bảo đảm môi trường được bảo vệ, tránh được những tác động không mong
muốn về lâu dài. Với các lý do trên, tôi chọn đề tài
N làm đề tài luận văn
thạc sỹ. Tác giả mong muốn góp một phần nhỏ bé vào việc làm sáng tỏ những
tác động của hoạt động phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng tới đời sống người
dân trong vùng dự án nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động tái định cư
hướng tới sự phát triển cân bằng và bền vững.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những khái niệm, cơ sở lý luận và thực tiễn, phương pháp
nghiên cứu về phân tích đánh giá tác động của hoạt động tái định cư
- Xác định và mô tả chính sách tái định cư của Chính phủ Việt Nam và
ADB và những vấn đề của người dân tái định cư chịu ảnh hưởng trực tiếp của
các chính sách tái định cư qua việc so sánh hiện trạng đời sống của người dân
tái định cư hiện nay so với trước khi thực hiện chính sách, ở các khía cạnh:
- Đánh giá mức độ hài lòng của người dân vùng tái định cư về các mặt
của đời sống (Kinh tế, Văn hóa, Xã hội, Môi trường).
- Đưa ra kết luận nghiên cứu và đề xuất kiến nghị nhằm phát huy hiệu
quả của các chính sách tái định cư và giảm thiểu bất lợi của các chính sách
này lên đời sống người dân sau tái định cư trong thời gian tới.
16
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tác động của chính sách tái định cư và hoạt động tái định cư trong khu
vực có dự án ADB đến đời sống người dân bị tái định cư
4.2 Khách thể nghiên cứu:
Cộng đồng người dân tái định cư trong các khu vực dự án và người dân
vùng đón nhận người dân tái định cư.
4.3 Phạm vi nghiên cứu
4.3.1
Địa điểm triển khai nghiên cứu này được thực hiện tại hai thành phố Hà
Tĩnh (tỉnh Hà Tĩnh) và thành phố Tam Kỳ (tỉnh Quảng Nam)
Tuy nhiên, nghiên cứu này sẽ sử dụng một số thông tin, dữ liệu thứ cấp
để dẫn chứng và so sánh thêm cho những giả thiết đã đưa ra, làm nổi bật vấn
đề nghiên cứu.
4.3.2
Nghiên cứu này được thực hiện chính thức trong thời gian 9 tháng từ
18
5.3 Khung lý thuyết
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Phương pháp luận duy vật lịch sử và duy vật biện chứng
- t để tiếp
cận và phân tích tác động của các hoạt động tái định cư thuộc địa bàn dự án
với tư cách là một hiện tượng kinh tế xã hội ra đời và vận hành trong một bối
cảnh lịch sử cụ thể, có tính chất hệ thống; các yếu tố cấu thành chính sách
quan hệ và tác động biện chứng với nhau. Trên cơ sở đó nhìn ra quy luật vận
động của nó.
Điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của địa
phương
(hai thành phố Hà Tĩnh và thành phố Tam Kỳ)
Dự án
ADB
về cải
thiện
môi
trường
đô thị
Miền
Trung
Tác động của hoạt động tái định cư
- Báo cáo hội thảo tiến độ
- Website của nhà tài trợ và chính phủ Việt Nam
- Và nhiều tài liệu khác có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
6.2.2 Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi cấu trúc
Tổng số 168 hộ gia đình bị ảnh hưởng nghiêm trọng phải tái định cư tại
các khu tái định cư trong hai tiểu dự án: ở Thành phố Hà Tĩnh (Tỉnh Hà
Tĩnh): hai khu là khu Nam Sông Cụt và khu Lò Mổ và Thành phố Tam Kỳ
(tỉnh Quảng Nam) là năm khu (i) Khu Nam Quảng Nam, (ii) khu Đông Nam
trường Nguyễn Huệ, (iii) khu Bắc trung tâm Thương mại (iv) khu phố 6
phường An Sơn và khu tái định cư mang tên ADB tại khối phố Hồng Lư,
20
phường Phước Hoà đã được phát phiếu điều tra thu thập thông tin để thu thập
thông tin định lượng.
- 100% các hộ gia đình tái định cư trong các
khu tái định cư đều được khảo sát. Ở tiểu dự án thành phố Hà Tĩnh có 5 hộ
thuộc diện tái định cư của dự án nhưng không chuyển vào khu tái định cư mà
đã đi sang nơi khác sinh sống, do điều kiện thời gian và kinh phí có hạn,
chúng tôi đã không thể liên hệ với các hộ này mà chỉ tiến hành khảo sát 38 hộ
hiện đang sinh sống trong khu tái định cư của dự án. Ở tiểu dự án thành phố
Tam Kỳ, có 130/130 hộ tái định cư đã chuyển vào 5 khu tái định cư kể trên do
đó số lượng mẫu là 130 phiếu.
Tuy nhiên, tác giả nhận thấy rằng, việc chọn mẫu trong nghiên cứu này
chưa thể suy rộng nếu xét trên phạm vi rộng của vấn đề nghiên cứu ở tất cả
các khu vực tái định cư trên cả nước. Chính vì vậy, nghiên cứu này chỉ xem
xét vấn đề trong phạm vi các trường hợp ở các khu tái định cư thuộc Thành
phố Hà Tĩnh (Tỉnh Hà Tĩnh) và thành phố Tam Kỳ (Tỉnh Quảng Nam) thuộc
dự án ADB.
Các bảng hỏi phỏng vấn được kiểm tra (phỏng vấn thử) trước khi phỏng
vấn chính thức. Sau khi phỏng vấn xong, các bảng hỏi được làm sạch và xử lý
46
27,5
Tiểu học
60
36
Mù chữ
1
0,5
21
Nghề nghiệp
Nông nghiệp
50
29,6
Làm công
22
5
Kinh doanh
17
10
Làm thuê
8
5
Về hưu, nội trợ
8
5
Học sinh
45
26,7
Nghề khác
22
NỘI DUNG CHÍNH
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN
ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Một vài lý thuyết Xã hội học được sử dụng trong nghiên cứu
1.1.1.1 Lý thuyết biến đổi xã hội
Nguyên lý phát triển của XHH Mác xít chỉ ra rằng phát triển là quá trình
trong đó sự vật mới ra đời thay thế sự vật cũ, là hiện tượng diễn ra không
ngừng trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Nguyên lý này chỉ ra rằng, mọi sự vật,
hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động và phát triển, nên trong nhận
thức và hoạt động của bản thân, chúng ta phải có quan điểm phát triển. Điều đó
có nghĩa là khi xem xét bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng phải đặt chúng
trong sự vận động, sự phát triển, vạch ra xu hướng biến đổi, chuyển hóa của
chúng.
Thuyết này chỉ ra rằng cũng như giới tự nhiên, mọi xã hội, mọi nền văn
hóa đều không ngừng biến đổi. Sự ổn định của xã hội chỉ là sự ổn định tương
đối, còn thực tế, nó không ngừng thay đổi từ bên trong bản thân nó. Sự biến
đổi trong xã hội hiện đại càng rõ hơn, con người là một đơn vị cơ bản của xã
hội, với tư cách là chủ thể hoạt động xã hội, bản thân nó cũng luôn biến đổi.
Biến đổi từ khi sinh ra đến khi trưởng thành rồi mất đi. Biến đổi khi con
người phải thay đổi vị trí sống, thay đổi điều kiện và cấu trúc xã hội trong đó
họ là một thành tố chính. Thuyết biến đổi xã hội ra đời coi xã hội là một sự
vận động và tương tác không ngừng. Chính sự vận động và tương tác này đã
tạo ra sự đa dạng và phong phú của xã hội. Như vậy, lý thuyết này lý giải rằng
sự biến đổi về nhận thức, mức sống, điều kiện cơ sở vật chất ở khu vực tái
định cư là một quá trình tất yếu.
24
triển bền vững mới được sử dụng một cách chính thức trên quy mô quốc tế và
được định nghĩa như sau: “
”.
Hay nói cách khác: Đó là sự phát triển hài hòa cả về kinh tế, văn hóa, xã
hội, môi trường nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sống của con người
ở các thế hệ hiện tại cũng như trong tương lai.
Nội dung cơ bản của phát triển bền vững có thể được đánh giá bằng
những tiêu chí nhất định về kinh tế, tình trạng xã hội, sử dụng tài nguyên
thiên nhiên và chất lượng môi trường.
Phát triển bền vững về kinh tế đòi hỏi phải đảm bảo kết hợp hài hòa giữa
mục tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa – xã hội, cân đối tốc độ
tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên
nhiên, khoa học, công nghệ, đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ sạch.
Phát triển bền vững về xã hội là xây dựng một xã hội có nền kinh tế tăng
trưởng nhanh và ổn định đi đôi với dân chủ công bằng và tiến bộ xã hội, trong
đó giáo dục, đào tạo, y tế và phúc lợi xã hội phải được chăm lo đầy đủ và toàn
diện cho mọi đối tượng trong xã hội.
Phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường là các dạng tài nguyên
thiên nhiên tái tạo được phải được sử dụng trong phạm vi chịu tải của chúng
nhằm khôi phục được cả về số lượng và chất lượng, các dạng tài nguyên
không tái tạo được phải được sử dụng tiết kiệm và hợp lý nhất. Môi trường tự
nhiên (không khí, đất, nước, cảnh quan thiên nhiên…) và môi trường xã hội
(dân số, chất lượng dân số, sức khỏe, môi trường sống, lao động và học tập
của con người…) nhìn chung không bị các hoạt động của con người làm ô
nhiễm, suy thoái và tổn hại. Các nguồn phế thải từ công nghiệp và sinh hoạt
được xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường được đảm bảo, con người
được sống trong môi trường trong sạch…
26
ng:
Theo nghĩa chung nhất, đánh giá tác động là quá trình xác định các tác
động thực tế hoặc giả định của một quá trình can thiệp phát triển, trong đó các
nhân tố xã hội, kinh tế và môi trường trong đó các biện pháp can thiệp được
thiết kế nhằm gây ảnh hưởng hoặc bị chịu ảnh hưởng ngược lại. Điều này có
thể xảy ra trước khi một hành động can thiệp đượ chấp thuận, sau khi hoàn
thành, hoặc bất kỳ giai đoạn nào ở giữa. Các đánh giá tiền can thiệp dự báo
tiềm năng tác động mà sau đó sẽ được sử dụng để lập kế hoạch, thiết kế và
phê duyệt một hành động can thiệp. Đánh giá sau tác động xác định các tác
động thực tế trong và sau khi thực hiện nhằm làm cơ sở cho hoạt động khắc
phục nếu cần và cung cấp thông tin để cải tiến thiết kế cho các hoạt động can
thiệp trong tương lai. Các bước thực hiện hoạt động tái định cư của dự án
ADB được trình bày khái quát ở hình sau:
Hình 1-2: Các bước thực hiện tái định cư trong dự án ADB