Luận văn thạc sỹ Đánh giá tác động của việc chuyển đổi đất nương rẫy sang trồng rừng sản xuất đến đời sống người dân tộc thiểu số tại huyện hướng hóa tỉnh quảng trị - Pdf 30

1
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Canh tác trên nương rẫy – một hình thức sản xuất nông nghiệp nguyên thủy của vùng
nhiệt đới – giữ vị trí quan trọng trong đời sống vật chất và tâm linh của con người, là biểu
hiện của mối quan hệ gắn bó giữa con người và thiên nhiên. Canh tác nương rẫy được xem
là hình thức Đao canh hỏa chủng của tổ tiên người Việt và các dân tộc anh em khác sống ở
vùng núi nước ta. Là một tập quán nhằm giải quyết nhu cầu lương thực có hạt tại chỗ. Tuy
nhiên, hiện nay việc canh tác nương rẫy của đồng bào chủ yếu theo hình thức tự phát, thiếu
định hướng, do áp lực kinh tế và dân số thời gian bỏ hóa gần như không còn nên đất đai bị
xói mòn nghiêm trọng, bị thoái hóa càng làm cho diện tích nương rẫy mới tăng lên, chất
lượng cây trồng thấp và sản lượng giảm dần, dẫn đến canh tác không bền vững, giá trị ngày
công lao động thấp. Tình trạng phát rừng làm nương rẫy gây suy giảm khả năng phòng hộ
bảo vệ môi trường và là một trong những nguyên nhân lớn gây nên lũ lụt, sạt lở đất vào
những tháng mùa mưa, gây cháy rừng vào những tháng mùa khô. Đây cũng là một trong
những yếu tố hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế xã hội bền vững của các
địa phương vùng cao [2]. Do đó để duy trì phát triển bền vững thì việc cải tiến nương rẫy
thành hệ kinh tế sinh thái có tính ổn định và hiệu quả kinh tế cao hơn cũng được thừa nhận
như một đòi hỏi tất yếu, phù hợp với xu hướng phát triển và tiến bộ xã hội. Một trong những
biện pháp được thực hiện phổ biến là chuyển đổi đất nương rẫy sang trồng rừng sản xuất có
giá trị cao hơn như Keo, Cao Su, Bời Lời…với những hỗ trợ giúp người dân đảm bảo an
ninh lương thực thông qua Chỉ thị số 15/2007/CT-BNN, ngày 13 tháng 02 năm 2007 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Về việc tăng cường công tác quản lý canh tác nương rẫy;
Quyết định số 2945/QĐ-BNN-KL ngày 05/10/2007 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc
phê duyệt Đề án Hỗ trợ người dân vùng cao canh tác nông nghiệp bền vững trên đất nương
rẫy; Công văn số 3595/BNN-KL ngày 28/12/2007 về việc tăng cường tổ chức triển khai
thực hiện giao rừng, cho thuê rừng và quản lý nương rẫy,
Để giúp người dân miền núi Quảng Trị thay đổi tập quán canh tác thiếu bền vững và tạo
điều kiện về nguồn vốn cho nhân dân chuyển đổi nương rẫy sang trồng rừng. Sở Nông
nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Trị đã ra Quyết định “Bảng Hướng dẫn tạm thời quy vùng sản
xuất nương rẫy” tại Công văn số 505//SNN-KL ngày 28/4/2008, UBND Tỉnh Quảng Trị ra

dân tộc thiểu số và đây cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước
ta trong giai đoạn hiện nay. Việc nghiên cứu, đánh giá để chỉ ra những ưu điểm và những
khiếm khuyết trong quá trình thực thi chính sách là điều hết sức quan trọng để từ đó đề xuất
các khuyến nghị nhằm góp phần hoàn thiện hơn quá trình thực thi chính sách chuyển đổi đất
nương rẫy sang rừng trồng và góp phần nâng cao đời sống cho người dân vùng núi huyện
Hướng Hóa nói riêng, và các vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung. Chính
vì thế chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá tác động của việc chuyển đổi đất
nương rẫy sang trồng rừng sản xuất đến đời sống người dân tộc thiểu số tại huyện
Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị”
Mục đích của đề tài
Tìm hiểu được thực trạng của việc chuyển đổi đất nương rẫy sang trồng rừng sản xuất
và các tác động của chúng đến đời sống của người dân tộc thiểu số tại huyện Hướng
Hóa tỉnh Quảng Trị.
3
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
* Ý nghĩa khoa học
Đề tài là cơ sở luận chứng khoa học giúp cho các nhà quản lý, nhà lập chính sách có
căn cứ trong việc hoạch định chính sách, kế hoạch hành động, giải pháp quản lý hữu hiệu tài
nguyên đất rừng, ứng phó với biến đổi khí hậu, mất an ninh lương thực ở Bắc Trung Bộ nói
chung và tỉnh Quảng Trị nói riêng.
Phần lớn đất để trồng rừng là đất trống, đồi núi trọc, đất nương rẫy nay đã quy
hoạch lại sang rừng sản xuất và một số diện tích rừng Keo trồng theo dự án hỗ trợ trồng
rừng sản xuất. Mặc dù người dân có nhiều đất song họ không có điều kiện sử dụng tốt hơn
trong việc tạo ra rừng trồng chất lượng cao, cung cấp cho tiềm năng thị trường nên cuộc
sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp. Trong khi đó, thị trường tiêu thụ
gỗ tiềm năng trong tỉnh là rất tốt. Nên đề tài có thể có cái nhìn khách quan về tác động của
rừng trồng sản xuất đến sinh kế người dân miền núi khi tập quán canh tác thay đổi, đồng
thời đưa ra các giải pháp bền vững cho các hộ trồng rừng sản xuất quy mô nhỏ để phát triển
ngành Lâm nghiệp
* Ý nghĩa thực tiễn

tham gia chương trình chuyển đổi đất nương rẫy sang trồng rừng, vẫn duy trì canh tác
nương rẫy, có trồng và đã thu hoạch cây Keo lai và cây Bời Lời
- Phạm vi thời gian: Các tài liệu phục vụ đánh giá thực trạng được thu thập trong
khoảng thời gian từ 2007 - 2014. Số liệu điều tra hộ tập trung vào đầu năm 2014 .
Quá trình thực hiện đề tài từ tháng 11 năm 2013 đến tháng 6 năm 2014.
5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Quan điểm sử dụng đất bền vững
Quan điểm về sử dụng đất đai, tài nguyên rừng bền vững đã được nhiều tác giả ở các
quốc gia khác nhau đề cập tới, các khái niệm đều cho thấy những điểm giống nhau khi nói
đến quản lý sử dụng đất đai, tài nguyên rừng bền vững đều được thể hiện ở 3 vấn đề kinh tế,
xã hội và môi trường.
Thuật ngữ "bền vững" được sử dụng trong nhiều khái niệm, ví dụ "sự phát triển bền
vững", "kinh tế bền vững", "xã hội bền vững", và "sử dụng bền vững". Theo "Chiến lược
cho cuộc sống bền vững", một hoạt động là bền vững nhằm đạt tất cả các mục đích thực tiễn
của nó, là hành động có thể tiếp tục mãi mãi (IUCN, UNEP,WWF 1993) [10]. Uỷ ban quốc
tế về môi trường và phát triển (Wcea) đã định nghĩa "Phát triển bền vững là phát triển để
đáp ứng nhu cầu của đời này mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của đời
sau".
Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm
Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên
Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) [10] với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại
không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu
của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học".
Khái niệm phát triển bền vững được đề cập chính thức trong báo cáo "Tương lai của
chúng ta" của Hội đồng thế giới về phát triển bền vững họp ở Brundland (WCED, 1987)
[23]. Theo khái niệm này "Phát triển bền vững là sự phát triển nh;m thoả mãn mọi nhu cầu
của thế h< hi<n tại mà không làm tổn hại đến những khả năng phát triển để thoả mãn mọi
nhu cầu của những thế h< tiếp theo". Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự

- Tạo lập ra các mô hình định canh lâu bền bằng việc xây dựng phù hợp với điều kiện
sinh thái từng nơi. Để đảm bảo sử dụng đất mang tính tổng hợp bền vững cần thực hiện theo
các nguyên tắc sau:
+ Đa dạng hoá các loại hình sản xuất, các chế độ canh tác, các loại hình sản phẩm, các
dạng hình sinh thái.
+ Kết hợp nhiều ngành nghề: Nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, thuỷ sản,
+ Ngăn ngừa được những tai biến môi trường, những rủi ro và nạn ô nhiễm, suy thoái.
+ Sử dụng được các động thực vật hoang dã, các loài cây bản địa, các loài cây quý
hiếm, đa tác dụng.
+ Tận dụng các nguồn tài nguyên: Đất, nước, năng lượng, sinh học làm cho nó được
bảo toàn, tái tạo, tự điều chỉnh và tự tái sinh.
+ Sử dụng được đất theo quy mô nhỏ, thâm canh hiệu quả, được quản lý, chăm sóc,
bảo vệ và phục hồi đất.
Tóm lại, sử dụng đất bền vững là nhu cầu cấp bách của nhiều quốc gia trên thế giới.
Những hiện tượng sa mạc hoá, thiên tai, lũ lụt, hạn hán, diện tích đất trống, đồi núi trọc
ngày càng tăng lên, đây chính là kết quả của việc sử dụng đất đai không hợp lý. Khái niệm
bền vững được các nhà khoa học trên thế giới chủ yếu hướng vào 3 yêu cầu sau:
7
- Bền vững về mặt kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường chấp
nhận.
- Bền vững về mặt xã hội - nhân văn: Được xã hội chấp nhận cao, thu hút được lao
động, đảm bảo đời sống xã hội.
- Bền vững về mặt môi trường: Bảo vệ được đất đai, ngăn chặn được thoái hoá, xói
mòn, rửa trôi, bảo vệ môi trường tự nhiên.
Trên đây là một số công trình nghiên cứu trên thế giới có liên quan đến vấn đề SDĐ
nông lâm nghiệp, hệ thống quản lý SDĐ, hệ thống canh tác, hệ thống cây trồng cùng
phương pháp tiếp cận nông thôn mới đã được nghiên cứu và áp dụng ở nhiều quốc gia. Điều
đó chứng tỏ rằng vấn đề SDĐ nông lâm nghiệp được các tác giả nhiều nước, nhiều tổ chức
trên thế giới quan tâm chú ý đến. Tùy theo cách nhìn nhận về quản lý và SDĐ sao cho hợp
lý đã được nhiều tác giả đề cập tới ở những mức độ rộng hẹp khác nhau. Việc đưa ra một

động trong sản xuất và giá cả” (UN, 1975).
Năm 1983, FAO mở rộng quan niệm này để tính thêm cả việc đảm bảo cho những người dễ
bị tổn thương tiếp cận được với các nguồn cung cấp sẵn có, hàm ý rằng cần phải quan tâm
đến sự cân bằng giữa cầu và cung trong phương trình an ninh lương thực: “đảm bảo tất cả
mọi người lúc nào cũng tiếp cận được về mặt vật lý và kinh tế đối với nguồn lương thực mà
họ cần”.
Sau đó, Báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB) năm 1986 với tiêu đề “Đói nghèo” đã tập
trung vào tính linh hoạt theo thời gian của mất an ninh lương thực. Báo cáo này đã đưa ra sự
phân biệt giữa mất an ninh lương thực kinh niên, gắn liền với các vấn đề về nghèo khổ lâu
năm hoặc nghèo khổ cơ cấu và thu nhập thấp và mất an ninh lương thực đang chuyển đổi
liên quan đến các giai đoạn khi thảm hoạ thiên nhiên, kinh tế sụp đổ hoặc xung đột gây ra
các sức ép lớn; và điều này đã được chấp thuận rộng rãi. Quan niệm về an ninh lương thực
được cụ thể hoá hơn theo nghĩa:
“tất cả mọi người lúc nào cũng tiếp cận được với đủ lương thực, thực phẩm để đảm bảo một
cuộc sống khoẻ mạnh và năng động.”
Đến giữa những năm 1990, an ninh lương thực được xem là mối quan ngại nghiêm
trọng, trải nhiều cấp độ từ cấp cá nhân lên đến cấp toàn cầu. Tuy nhiên, vấn đề “tiếp cận”
trong an ninh lương thực hiện nay còn bao gồm cả vấn đề có đủ lương thực và điều này cho
thấy người ta vẫn lo ngại về suy dinh dưỡng prôtêin. Việc mở rộng quan niệm bao gồm các
khía cạnh an toàn lương thực, cân bằng dinh dưỡng cũng cho thấy quan ngại về thành phần
lương thực, thực phẩm gồm các điều kiện về dinh dưỡng vi mô và vĩ mô cần thiết cho một
cuộc sống năng động và khoẻ mạnh. Người ta cũng khuyến cáo các hộ gia đình để đảm bảo
cho con em mình có cân bằng dinh dưỡng và thực phẩm, đặc biệt trong giai đoạn phát triển
ban đầu. Các tổ chức quốc tế liên quan đến các vấn đề về lương thực và y tế như Tổ chức
nông lương thế giới (FAO), Tổ chức y tế thế giới (WHO), Chương trình lương thực thế giới
(WFP), Viện nghiên cứu và chính sách lương thực thế giới (IFPRI) và nhiều tổ chức khác
kêu gọi phát triển nguồn lương thực, thực phẩm cân bằng và đời sống khoẻ mạnh. Người ta
cũng quan tâm nhiều hơn đến sở thích đối với lương thực, thực phẩm theo truyền thống văn
hoá hoặc xã hội. Mức độ phức tạp và cụ thể theo từng hoàn cảnh của an ninh lương thực cho
thấy rằng quan niệm này không còn đơn giản và tự nó không phải là mục đích mà nó là một

như sau:
Sẵn có lương thực: đảm bảo có đủ khối lượng lương thực ở một mức độ chất lượng phù
hợp từ các nguồn sản xuất hoặc đầu vào khác ở trong nước.
Tiếp cận lương thực: khía cạnh tiếp cận lương thực của an ninh lương thực liên quan đến
khả năng của các cá nhân tiếp cận được với nguồn tài nguyên và các tài sản sở hữu khác để
có được một lượng lương thực thích hợp với chế độ ăn uống dinh dưỡng. “Tài sản sở hữu”
là một loạt hàng hoá mà một người có thể thiết lập được quyền kiểm soát đối với chúng
trong bối cảnh luật pháp, chính trị, kinh tế và xã hội của cộng đồng nơi người đó đang sinh
sống (bao gồm cả các quyền truyền thống như sử dụng các nguồn tài nguyên chung). Ở cấp
10
độ quốc gia, tiếp cận đối với lương thực được tính dựa trên mức giá của lương thực nhập
khẩu và tỷ lệ nguồn chi cho lương thực nhập khẩu so với nguồn thu được từ xuất khẩu
lương thực.
Ổn định lương thực: khía cạnh ổn định lương thực hàm ý một dân tộc hoặc một hộ gia
đình hoặc một cá nhân lúc nào cũng phải tiếp cận được với nguồn lương thực phù hợp.
Những người này không gặp phải rủi ro không tiếp cận được với lương thực do các cú sốc
bất thường (như khủng hoảng khí hậu hoặc kinh tế) hoặc các hiện tượng chu kỳ (như mất an
ninh lương thực theo mùa). Bên cạnh các cuộc tranh cãi về khả năng của môi trường có thể
đảm bảo được nhu cầu lương thực toàn cầu thì cũng có các yếu tố mới tác động đến độ ổn
định của nguồn cung lương thực, bao gồm:
• Thay đổi khí hậu và các biến động hàng năm và các tác động không thuận đối với ổn định
sản lượng và tăng khả năng mất an ninh lương thực;
• Tình trạng suy thoái ở mức độ báo động về môi trường cũng như là tính tự túc của hệ
thống sinh thái và nông-sinh thái toàn cầu;
• Tác động của cải cách thương mại đối với giá cả và sản lượng (có thể do thay đổi mùa vụ),
đặc biệt là tác động tiêu cực đến an ninh lương thực ở nông thôn nếu như điều này làm giảm
giá cả thực tế theo hướng bất lợi cho nông dân trong nước
Tiêu dùng lương thực: tiêu dùng lương thực thông qua các chế độ ăn uống hợp lý, nước
sạch, đảm bảo vệ sinh và y tế để đảm bảo dinh dưỡng khi tất cả các nhu cầu tâm sinh lý
được đáp ứng. Điều này khiến cho các yếu tố phi lương thực cũng có vai trò quan trọng đối

2008 vừa xảy ra. Hàng loạt những tín hiệu về việc thiếu lương thực trên thế giới đã được
phát đi. Kết quả là cuộc chạy đua tăng giá lúa gạo trên thị trường thế giới. Vì vấn đề này mà
ở một số nước những biến động về chính trị, xã hội đã gây ảnh hưởng đến đời sống người
dân. Tại Thái Lan, chính phủ đã phải triển khai quân đội để ngăn chặn tình trạng cướp
lương thực trên cánh đồng và các nhà kho. Trong tháng qua, nhiều vụ bạo động đã xảy ra tại
các nước như Ai Cập, Indonesia, Philippines, Bangladesh, do cuộc khủng hoảng lương
thực. Tình trạng bất ổn vì thiếu lương thực cũng đã xảy ra tại nhiều nơi thuộc châu Á.
Sự cảnh báo về một " thời kỳ xung đột kéo dài" và sẽ xuất hiện các dạng xung đột mới bắt
nguồn từ việc thiếu lương thực và giá cả tăng.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến an ninh lương thực
- Sản lượng lương thực: Về lương thực, chủ yếu có ba loại ngũ cốc: lúa gạo, lúa mì, ngô với
quá nửa diện tích đất đai trồng trọt trên hành tinh. Chỉ riêng lúa gạo và lúa mì cung cấp
chừng 40% năng lượng về thức ăn của loài người.
Lúa gạo là cây lương thực quan trọng hơn cả do nú thích ứng với nhiều điều kiện khí hậu
và sinh thái rất khác nhau: nhiệt đới, ôn đới, vùng cao, khô, vùng thấp có nước.
12
Lúa mì đứng hàng thứ hai sau lúa gạo về cây lương thực chủ yếu. Lúa mì thích nghi với
khí hậu ôn đới, mùa đông lạnh ẩm, năng suất bình quân khoảng 20 tạ/ ha trên diện tích 210
triệu ha và tổng sản lượng thế giới là 355 triệu tấn.
327 Kcal/ 100g và 7,6%. Tuy nhiên, lúa gạo có khá đầy đủ các loại axit amin cần thiết,
trong khi đó, ngô thiếu hẳn hai loại quan trọng mà cơ thể không thể tổng hợp được là lizin
và priptophan
Tuy nhiên, hiện nay an ninh lương thực đang đối diện với cuộc khủng hoảng nghiêm trọng
mà nguyên nhân chủ yếu là thiếu lương thực. Con người không có đủ lương thực để sống vì
sản lượng lương thực đang giảm sút đến mức báo động. Chính vì vậy, sản lượng lương thực
là nhân tố tiên quyết đến vấn đề an ninh lương thực không chỉ cho mỗi quốc gia mà còn cho
toàn cầu. Muốn giải quyết được cuộc khủng hoảng lương thực hiện nay thì trước hết cần có
chiến lược tăng sản lượng lương thực, đảm bảo lương thực cho cả những vùng khó khăn
nhất trên thế giới.
- Khí hậu:

1.3. Lâm nghiệp Việt Nam
Năm 1943 diện tích rừng Việt Nam lần đầu tiên được công bố là 14,3 triệu ha
(P.Mau-rant), Khi đó toàn bộ diện tích rừng là rừng tự nhiên và đa số là rừng nguyên sinh.
Qua hai cuộc chiến tranh 1945-1954 và 1965-1975 diện tích rừng Việt Nam đã giảm xuống
còn 11,2 triệu ha. Tốc độ giảm diện tích rừng nhanh nhất là 15 năm sau khi đất nước thống
nhất (1975) và đến năm 1990 diện tích rừng đạt mức thấp nhất là 9,17 triệu ha, chiếm khoản
64% diện tích rừng thống kê năm 1943. Từ năm 1990 trở đi, thông qua các chương trình
327, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và điều kiện giảm thiểu sức ép lương thực, củi đốt, nên
diện tích rừng đã tăng lên 11,3 triệu ha vào năm 2000 và 13,3 triệu ha năm 2009, đạt xấp xỉ
93% diện tích rừng ban đầu. Tuy nhiên diện tích rừng tăng chủ yếu là gần 3 triệu ha rừng
trồng, còn rừng tự nhiên phục hồi chậm hơn, các hệ sinh thái nguyên sinh chỉ còn lại trong
vùng lõi của các khu bảo tồn hoặc các vườn quốc gia. Bảng 1.1 và Biểu đồ 1.1 chỉ rõ xu thế
thay đổi diện tích rừng của Việt Nam trong 60 năm qua. [16].
Bảng 1.1. Sự thay đổi di<n tích rừng Vi<t Nam
Năm
Diện tích rừng (1000 ha)
Tỷ lệ
che
(%)
Ha/ngườ
i
Thay đổi so 1990
Rừng tự
nhiên
Rừng
trồng
Tổng Ha %
1943 14.300 0 14.300 43,0 0,70
1976 11.077 92 11.169 33,8 0,22
1980 10.186 422 10.608 32,1 0,19

3
/ha/năm; Tại Công Gô năng suất rừng đạt 40-50m
3
/ha/năm. Theo Swoatdi và
Chamlong (1990), tại Thái Lan rừng Tếch cũng đạt đến sản lượng 15-20m
3
/ha/năm. Bên
cạnh công tác giống cây trồng, các biện pháp trồng, chăm sóc và nuôi dưỡng rừng cũng đã
được quan tâm nghiên cứu. MH nghiên cứu trồng rừng nhiều tầng hỗn loài giữa cây gỗ và
15
cây họ đậu ở Malaysia trên 3 đối tượng: RTN, rừng Keo TT và rừng Tếch đã được đánh giá
là có hiệu quả cao[11]. Tài nguyên rừng của Ôxtrâylia bao gồm 43,2 triệu ha rừng tự nhiên
và 1,1 triệu ha rừng trồng. Để đáp ứng nhu cầu của ngành công nghiệp, diện tích rừng trồng
của nước này phải đạt 3 triệu ha vào năm 2020 và do vậy diện tích rừng trồng hàng năm
phải lên tới 80.000 ha. Đóng góp của rừng và công nghiệp rừng đã đạt 6 tỷ đô la Ôxtrâylia
trong năm tài khóa1994-1995, trong khi mức đóng góp của cả ngành nông nghiệp lâm
nghiệp và ngư nghiệp là 13 tỷ đô la Ôxtrâylia.
Thứ ba, là giải quyết thu nhập cho người trồng rừng. Đa số người dân tham gia trồng
rừng có chất lượng cuộc sống thấp, thu nhập bấp bênh, độ rủi ro cao. Vì vậy, TRSX phải
quan tâm trước hết là nâng cao mức sống cho người dân. Trong thời gian đầu nhà nước phải
có chính sách ưu đãi, hỗ trợ để đảm bảo ổn định cuộc sống cho họ. Đây là vấn đề đã được
nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Theo Bradford R Phillíp (2002) ở Fuiji người ta đã
nghiên cứu trồng một số loại Tre, Luồng trên đồi vừa để bảo vệ đất và tạo thu nhập phát
triển kinh tế cho 119 hộ gia đình nghèo; Ở Indonesia người ta đã áp dụng phương thức nông
lâm kết hợp với cây Tếch[24]… Đây là một trong những hướng đi phù hợp với vùng đồi ở
một số nước khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.
Thứ tư, cần phát triển hiệu quả thị trường tiêu thụ. Các sản phẩm rừng trồng phải
phục vụ được mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài của người dân, phương thức canh tác
phải gắn với kiến thức bản địa để người dân dễ áp dụng. Vấn đề này nghiên cứu của
Ianuskow K (1996) cho biết cần phải giải quyết vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các

chính sách phát triển lâm nghiệp đã thúc đẩy trồng rừng sản xuất và nâng cao năng lực cạnh
tranh trên cơ sở tận dụng tối đa lợi thế so sánh cấp quốc gia. Những chính sách quan trọng
có thể kể đến là: Luật đất đai, Luật BV&PTR; các Nghị định 01/CP; 02/CP; 163/CP về
VIỆC giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp. Bên cạnh đó là các chính sách đầu tư, tín dụng như
luật Khuyến khích đầu tư trong nước như: Nghị định 43/1999/NĐ-CP, Nghị định
50/1999/NĐ-CP,… Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 02 năm 2007 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 –
2020.
1.4.2.1. Đặc điểm kinh tế xã hội
Trồng và phát triển RSX một mặt ngăn chặn được tình trạng suy thoái của rừng, nâng
cao năng suất trữ lượng và làm tăng độ che phủ của rừng góp phần bảo vệ môi trường
sinh thái; mặt khác nó cũng gắn với nguy cơ giảm tính đa dạng sinh học của rừng. Vì
vậy, việc đầu tư phát triển RTSX nhất thiết phải được xem xét, cân nhắc ngay từ khi
hình thành ý tưởng, định hướng phát triển đến tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm PTBV
về các mặt kinh tế - xã hội - môi trường. Không vì lợi ích trước mắt mà để lại những
hậu quả nghiêm trọng, khôn lường về sau. TRSX có những đặc điểm cơ bản sau:
- Thứ nhất, trồng rừng sản xuất phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên, sinh thái:
Không phải bất kỳ ở đâu cũng có thể TRSX mà chỉ những vùng có diện tích đất trống đồi
núi trọc, có điều kiện về đất đai, địa hình, thổ nhưỡng, sinh thái phù hợp mới có thể tiến
hành TRSX. Hiện tại, hầu hết các tỉnh có lợi thế về phát triển rừng, lợi nhuận, ngân sách
thu được từ rừng là không đáng kể, bản thân người dân sống ở vùng có rừng không sống
được bằng nghề rừng lại sống chủ yếu nhờ vào đất nông nghiệp; đất nông nghiệp lại ít, cuộc
sống của họ gặp nhiều khó khăn, cố gắng lắm cũng chỉ đủ ăn, nếu gặp thiên tai thì lại bị
nghèo đói[13].
17
- Thứ hai, Trồng rừng sản xuất nhằm khai thác hết tiềm năng đất đai, nâng cao hiệu
quả sử dụng đất, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động.
- Thứ ba, Trồng rừng sản xuất góp phần nâng cao độ che phủ, bảo vệ môi trường sinh
thái và PTBV: Trồng rừng sản xuất làm tăng lưu vực nguồn sinh thủy và khả năng phòng hộ
đầu nguồn các hồ đập, điều tiết dòng chảy chống xói mòn, rữa trôi đất, cải thiện và điều hòa

tác động khác.
18
Tùy theo phân loại các hạng đất như độ dốc, tầng dày, thành phần cơ giới của đất và
đặc trưng của các loại thực bì trên từng nhóm, mức độ đáp ứng yêu cầu về đất đai của mỗi
loại đất hoàn toàn khác nhau:
19
- Đất hạng I (rất thuận lợi đối với TRSX)
+ Độ dày từng đất > 50 cm,
+ Độ dốc < 15
0
+ Thành phần cơ giới: đất thịt nhẹ, đất thịt trung bình; đá mẹ: Rhiolit, Granit
+ Thực bì chỉ thị: Trảng cỏ cây bụi dày, sinh trưởng từ TB đến tốt; Cây bụi hoặc nứa
tép sinh trưởng trung bình đến tốt; Độ che phủ của cây bụi cỏ cao >70cm.
- Đất hạng II (thuận lợi đối với TRSX)
+ Độ dày tầng đất 30- 50 cm
+ Độ dốc 15
0
-25
0
+ Thành phần cơ giới: đất thịt nhẹ đến rất nhẹ, đất thịt pha cát xốp ẩm hay sét pha cát
hơi chặt; đá mẹ: Phấn sa.
+ Thực bì chỉ thị: Cỏ may, sim mua sinh trưởng xấu đến TB; Tế guộc dày đặc, sinh
trưởng TB; Lau, Chít mọc xen cây bụi, nứa tép mọc thành bụi rãi rác, sinh trưởng xấu đến
TB; Độ che phủ của cây bụi cỏ cao từ 50-70 cm.
- Đất hạng III ( ít thuận lợi đối với TRSX)
+ Độ dày từng đất <30 cm
+ Độ dốc 26-35
0
+ Thành phần cơ giới: đất thịt nặng hơi chặt, đất sét pha thịt chặt khô; đất cát pha; đá
mẹ: Sa phiến thạch.

Tên loài cây
Chiều cao vút
ngọn (H
vn
)
(cm)
Đường kính
cổ rể (D
cr
)
(cm)
Kích thước bầu (cm)
Chiều cao Đường kính
1. Keo LT (từ hạt) 25-35 0,25-0,35 12 7-8
2. Keo Tai tượng 25-35 0,25-0,35 12 7-8
3. Keo giâm hom 25-35 0,25-0,35 12 7-8
4. Bạch đàn 25-35 0,25-0,35 12 7-8
4. Phi lao 100-150 1,0-1,5 18 12
6. Thông nhựa 20-25 0,6-0,8 13 8
7. Huê mộc 40-60 0,35-0,45 16 10
(Nguồn: Giống và một số kỷ thuật lâm sinh trong trồng rừng)
c)Yêu cầu về kỹ thuật trồng, chăm sóc RSX
* Yêu cầu về bi<n pháp kỹ thuật trồng rừng sản xuất
- Phát dọn thực bì: Tùy theo đối tượng cây trồng, độ dốc của hiện trường trồng rừng,
khí hậu, nguồn lực về lao động mà có thể áp dụng một trong hai phương thức xử lý thực bì
sau:
+Xử lý thực bì toàn diện: Thường áp dụng cho những diện tích mà thực địa có dộ dốc
< 15
0
, lượng mưa phân bố tương đối đều trong năm, phù hợp với các loài cây ưa sáng như

và hiệu quả[1].
22
1.4.3 Xu h ng v mô hình ch y u v RTSXướ à ủ ế ề
*Xu hướng phát triển TRSX
Cùng với quá trình phát triển KTXH, mục tiêu trồng và phát triển rừng của nước ta đã có
những thay đổi để phù hợp với tình hình trong từng giai đoạn, cụ thể như sau:
- Giai đoạn 1992-1998: Trọng tâm của hoạt động trồng rừng giai đoạn này là phủ
xanh đất trồng đồi núi trọc; ưu tiên bảo vệ RPH xung yếu, nơi còn du canh du cư phá rừng
làm rẫy gắn với thực hiện định canh định cư. Tập trung tạo mới RPH, RĐD mà nhiệm vụ
chủ yếu là trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ rừng ở những nơi xung yếu. các hoạt
động trồng rừng chủ yếu được thực hiện thông quan chương trình 327[7]. Trong giai đoạn
này RTSX vẫn chưa được khuyến khích phát triển.
- Giai đoạn 1998-2010: Mục tiêu trọng tâm của giai đoạn này là tạo vùng nguyên liệu
gắn với công nghiệp chế biến. Tuy nhiên đến năm 2002 Nhà nước mới có chính sách khuyến
khích phát triển RSX và sau hơn 2 năm (đến năm 2004) chính sách đó mới được thực thi và tiến
hành triển khai đồng bộ. Thông qua phát triển RSX, người trồng rừng đã nhận thức được rừng
trồng sản xuất là của họ chứ không phải là rừng của nhà nước nên đã bắt đầu quan tâm và có
trách nhiệm hơn đối với rừng[14].
Trong giai đoạn này, nhu cầu về RTSX, đặc biệt là phục vụ cho mục tiêu sản xuất giấy
gia tăng đã làm thay đổi một cách đáng kể thu nhập từ hoạt động trồng rừng. Đây chính là yếu
tố quan trong thu hút nhiều gia đình phát triển hoạt động trồng rừng theo hình thức qui mô hộ
gia đình.
*Một số mô hình TRSX
- Mô hình TRSX theo dự án 5 tri<u ha rừng: Đây là mô hình trồng rừng dưới sự hỗ
trợ của nhà nước. Nhà nước bố trí vốn cho các Ban quản lý dự án cơ sở để tổ chức cho dân
trồng. Người dân nhận khoán hoặc đăng ký xin cấp đất, nhận đất để trồng rừng. Nhà nước
hỗ trợ bình quân khoảng 2 triệu đồng/ha để mua giống và hỗ trợ một phần công lao động,
quản lý chỉ đạo. Sản phẩm thu được từ rừng do người dân hưởng và sở hữu rừng thuộc về
người dân, người dân có quyền định đoạt trên diện tích RSX mà mình trồng.
- Mô hình hỗ trợ đồng bào dân tộc trồng rừng và canh tác trên đất nương rẫy: Với

đến các ngành sản xuất và đời sống; ngoài ra rừng còn có chức năng giữ ẩm tạo nguồn nước
ngầm hạn chế khô hạn trong mùa khô. Rừng phát triển tốt có tác dụng điều hòa không khí,
hạn chế sự tạo mưa a xít, giảm dần tốc độ nóng lên của trái đất. Thực tế trong những năm
qua cho thấy, những vùng nào, nước nào, những địa phương nào làm tốt công tác bảo vệ
rừng đầu nguồn, chăm sóc tốt RTN và rừng trồng thì tình trạng thiệt hại do mưa lũ, nhất là
lũ ống lũ quét ở vùng núi, vùng đất dốc giảm, đất nông nghiệp không bị xói mòn sa mạc
hóa, cây trồng vật nuôi được bảo vệ[8].
Xác định rõ TRSX vừa là ngành kinh tế quan trọng, vừa có ý nghĩa phòng hộ, trong
mấy năm trở lại đây các ngành, các địa phương đều quan tâm đến công tác trồng và phát
triển RSX; thể hiện trong công tác quy hoạch phân chia 3 loại rừng đã chú trọng đến phát
triển RSX cả về qui mô diện tích lẫn nhiệm vụ giải pháp tác động chính là trồng rừng, qui
hoạch vùng nguyên liệu gắn với chế biến sâu phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu gỗ rừng trồng.
1.4.5. Hi u qu kinh t c a r ng tr ng s n xu tệ ả ế ủ ừ ồ ả ấ
1.4.5.1. Quan ni m v phân lo i hi u qu kinh t tr ng r ng s n xu tệ à ạ ệ ả ế ồ ừ ả ấ
24
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác các yếu tố đầu
tư, các nguồn lực tự nhiên và phương thức quản lý. Bàn về khái niệm HQKT, các nhà kinh
tế ở nhiều nước, nhiều lĩnh vực có những quan điểm khác nhau.
Hi<u quả kinh tế đạt được khi nhà sản xuất đạt được hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả
phân bố, có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều được tính đến khi xem xét sử dụng
các nguồn lực trong sản xuất. Hiệu quả kỹ thuật liên quan đến những đặc tính vật chất của
sản xuất; thể hiện trình độ, kỹ năng, tay nghề kỹ thuật của người sản xuất. Hiệu quả phân bố
phản ánh khả năng phối hợp các yếu tố đầu vào trên thị trường theo giá để tối thiểu hóa chi
phí khi sản xuất một lượng sản phẩm nhất định. HQKT liên quan đến yếu tố tổ chức quản lý
và phản ánh cả trình độ kỹ thuật tay nghề và khả năng phối hợp đầu vào theo giá để đạt
được lợi nhuận ở mức tối đa[17].
HQKT là sự phối hợp giữa nội dung tiết kiệm chi phí tài nguyên cho sản xuất (tức là
làm giảm đến mức tối đa chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm tạo ra - hiệu quả kỹ
thuật) với thị trường sản phẩm (hiệu quả về giá). Nâng cao hi<u quả kinh tế có nghĩa là:
Tăng cường độ lợi dụng các nguồn lực về kinh tế, tự nhiên sẵn có trong hoạt động kinh tế để

Trong đánh HQ của RTSX, ngoài ý nghĩa kinh tế thuần túy đó là lợi ích mà RTSX
mang lại cho doanh nghiệp, cho hộ gia đình, cần nhìn nhận hiệu quả môi trường, hiệu quả
xã hội mà RTSX mang lại. Mặc dầu những giá trị trên khó có thể lượng hóa, quá trình đánh
giá cần có những nhìn nhận chính xác những giá trị trên. [15].
1.4.5.2. H th ng ch tiêu phân tích ánh giá hi u qu kinh t TRSXệ ố ỉ đ ệ ả ế
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKT TRSX không những phản ánh được mối quan hệ
giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất hay giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu được
mà còn phản ánh được trình độ quản lý. Khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKT
TRSX phải xuất phát từ bản chất hiệu quả. Trong sản xuất nông nghiệp nói chung, sản xuất
lâm nghiệp nói riêng việc nâng cao HQKT là vấn đề hết sức quan trọng. Từ các nguồn lực
có hạn, người nông dân phải lựa chọn các phương thức kết hợp như thế nào để đạt hiệu quả
cao nhất. Đánh giá HQKT của việc TRSX trong điều kiện kinh tế thị trường có những khó
khăn nhất định bởi vì trong quá trình sản xuất yếu tố tư liệu sản xuất tác động vào quá trình
sản xuất trong nhiều năm nhưng không đều; chu kỳ sản xuất dài nên chịu ảnh hưởng của
biến động thị trường, giá cả, điều kiện tự nhiên đến sản xuất và hiệu quả sản xuất[7].
Cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về đánh giá HQKT TRSX. HQKT
trong TRSX không chỉ xét trong 1 chu kỳ, ngắn hạn mà phải xét qua nhiều chu kỳ, dài hạn
gắn với PTBV. Trong TRSX, HQKT bao gồm cả hiệu quả sinh học, bởi vì quá trình sinh
trưởng và phát triển của cây trồng diễn ra theo chu trình mang đặc tính sinh học riêng của
từng loại cây; việc dùng các biện pháp kỹ thuật tác động nhằm thay đổi chu trình sinh học
của cây trồng theo hướng có lợi cho con người cũng là giải pháp nâng cao HQKT. Ví dụ: rút
ngắn thời gian sinh trưởng làm tiết kiệm thời gian và chi phí; tác động kỹ thuật làm rút ngắn
tuổi thành thục công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm rừng trồng. Năng suất cây trồng
tuân theo quy luật năng suất cận biên giảm dần, sự phản ứng của năng suất cây trồng với
mức đầu tư sẽ bị giảm dần kể từ một điểm nào đó, điểm đó được gọi là điểm tối ưu sinh
học. Kể từ điểm này thì một đơn vị đầu vào tăng lên sẽ cho năng suất cây trồng tăng ít hơn
so với trước đó, nếu tiếp tục tăng mức đầu tư thì hiệu quả sẽ giảm dần[19]. Đối với TRSX
ngoài HQKT đưa lại cho nội bộ ngành còn thúc đẩy các ngành sản xuất khác phát triển như
công nghiệp chế biến, dịch vụ thương mại, xuất nhập khẩu, tạo môi trường phòng hộ tốt cho
sản xuất nông nghiệp và các ngành sản xuất khác, bảo vệ môi trường sinh thái, thúc đẩy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status