BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN THỊ THỦY
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT
ĐỂ XÂY DỰNG KHU ĐÔ THỊ CEO ĐẾN MÔI TRƯỜNG
XÃ SÀI SƠN, HUYỆN QUỐC OAI, TP HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2014
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Phan Trung Quý.
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Học viên Nguyễn Thị Thủy
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Phan Trung Quý, người đã trực
tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn. Với những lời chỉ dẫn, những tài liệu, sự tận tình
hướng dẫn và những lời động viên của Thầy đã giúp tôi vượt qua nhiều khó khăn trong quá
trình thực hiện luận văn này.
Tôi cũng xin cảm ơn quý thầy cô giảng dạy chương trình cao học "Khoa học Môi
trường” đã truyền dạy những kiến thức quý báu, những kiến thức này rất hữu ích và giúp
tôi nhiều khi thực hiện nghiên cứu. Đặc biệt, tôi xin cám ơn về những góp ý có ý nghĩa rất
lớn khi tôi thực hiện đề cương nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Học viên
1.5.2 Quá trình đô thị hoá ảnh hưởng tới người dân Hà Nội 19
1.5.3 Giải pháp việc làm cho người dân Hà Nội sau khi thu hồi đất 25
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng nghiên cứu 28
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
2.2 Nội dung nghiên cứu 28
2.3 Phương pháp nghiên cứu 28
2.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu 28
2.3.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn 28
2.3.3 Phương pháp khảo sát thực địa 29
2.3.4 Phương pháp lấy mẫu hiện trường, phân tích trong phòng thí nghiệm 30
2.3.5 Phương pháp so sánh 31
2.3.6 Phương pháp xử lý số liệu điều tra phân tích kết quả nghiên cứu 31
2.3.7 Phương pháp phân tích mức độ tác động 31
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Điều kiện kinh tế tự nhiên, kinh tế, xã hội địa bàn xã Sài Sơn-
Quốc Oai- Hà Nội 32
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 32
3.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 34
3.2 Biến động cơ cấu sử dụng đất của xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai,
TP Hà Nội giai đoạn 2006-2013 36
3.3 Công tác bồi thường, GPMB ở xã Sài Sơn từ năm 2006 - 2011 38
3.4 Khái quát về dự án xây dựng khu đô thị mới CEO 42
3.5 Tác động của việc thu hồi đất để xây dựng khu độ thị CEO đến
môi trường tự nhiên. 45
3.5.1 Tác động đến môi trường không khí 46
3.5.2 Tác động đến nguồn nước tưới nông nghiệp 50
3.5.3 Tác động đến môi trường đất 52
3.3 Tình hình bồi thường sau thu hồi đất của xã Sài Sơn năm 2009 41
3.4 Ý kiến của người dân về môi trường 45
3.5 Kết quả đo vi khí hậu, tiếng ồn trong khu đất lập quy hoạch 48
3.6 Kết quả phân tích nồng độ bụi khí độc hại 49
3.7 Chất lượng nước tưới nông nghiệp 51
3.8 Hình thức sử dụng tiền bồi thường của người dân 55
3.9 Sự thay đổi trình độ chuyên môn của hộ bị thu hồi đất từ năm
2009 - 2014 59
3.10 Sự thay đổi việc làm của người nông dân sau khi bị thu hồi đất
giai đoạn 2009 - 2014 61
3.11 Đánh giá về cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội của người dân Giai
đoạn 2009-2014 63
3.12 Mức độ tự chủ lương thực của các hộ điều tra giai đoạn 2009-
2014 65
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC HÌNH
STT Tên hình Trang
3.1 Bản đồ hành chính xã Sài Sơn – Quốc Oai – Hà Nội 32
3.2 Vị trí khu đô thị CEO 44
3.3 Sơ đồ mặt bằng khu đô thị CEO 44
3.4 Sơ đồ vị trí lấy mẫu phân tích nước và không khí 47 DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT Tên biểu đồ Trang
thực hiện các hoạt động san lấp, vận chuyển nguyên vật liệu… Các hoạt động
này ít nhiều làm ảnh hưởng đến chất lượng môi trường không khí, đất, nước.
Năm 2008 có tới 380 hộ nông dân bị thu hồi đất sản xuất. Có nhiều
lao động được nhận vào làm việc trong khu đô thị, khu du lịch, tuy nhiên
số lượng không nhiều. Do vậy nhiều người dân không có việc làm, hoặc
tìm được việc làm tạm thời, thu nhập bấp bênh. Nhìn chung đời sống của
người dân còn gặp nhiều khó khăn. Vậy vấn đề đặt ra là việc xây dựng các
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
khu đô thị mới, khu du lịch đã làm ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên,
sinh kế của người dân như thế nào? Mức sống của người dân ra sao? Liệu
rằng quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp thực
sự có hiệu quả không?
Để trả lời câu hỏi này, Tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá
tác động của việc thu hồi đất để xây dựng khu đô thị CEO, đến môi trường
xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, TP Hà Nội ”
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích
- Đánh giá tác động của việc thu hồi đất để xây dựng khu đô thị CEO,
đến môi trường xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, TP Hà Nội
- Đề xuất giải pháp phù hợp nhằm giải quyết vấn đề sinh kế của người
dân sau khi bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp do quá trình đô thị hoá.
2.2. Yêu cầu
- Tác động đến môi trường tự nhiên gồm: đất, nước, không khí. Trong
đó tập trung chủ yếu vào sự biến đổi của môi trường nước trước khi có dự án,
cho đến thời điểm thi công công trình. Ảnh hưởng của hoạt động xây dựng
đến chất lượng môi trường đất, nước, không khí.
- Tác động đến môi trường xã hội: Đánh giá tác động của quá trình
chuyển dịch đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp và đô thị. Người dân
năm 2013, với dân số cả nước là 89,7 triệu người, trong đó dân số đô thị
khoảng 29 triệu người, chiếm 32% tổng số dân. Theo dự báo của Bộ Xây
dựng, tỷ lệ đô thị hoá của Việt Nam vào năm 2020 sẽ đạt khoảng 40%, tương
đương với số dân cư sinh sống tại đô thị chiếm trên 45 triệu dân.
Mục tiêu đề ra, sẽ cần diện tích bình quân đầu người là 100m2/người.
Khi đó Việt Nam cần có khoảng 450.000ha diện tích đất đô thị, nhưng hiện
nay, diện tích đất đô thị chỉ có 105.000ha, bằng 1/4 so với nhu cầu. Với tốc độ
phát triển và dân số đô thị như vậy, Việt Nam sẽ phải đối mặt với ngày càng
nhiều vấn đề phát sinh từ quá trình đô thị hoá.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
Quá trình đô thị hóa quá nhanh, khiến cho các thành phố gặp khó khăn do
sự quá tải về lao động, dân cư, còn thiếu thốn về hệ thống hạ tầng kỹ thuật và
dịch vụ xã hội - nhà ở, điện, nước sạch, giao thông, bệnh viện và trường học
chưa được xây dựng tương xứng để đáp ứng được nhu cầu của cư dân. Bên cạnh
đó, quá trình đô thị hóa nhanh đã gây ra dòng di dân từ vùng nông thôn vào các
đô thị để tìm việc làm. Đây hầu như là những người lao động nông thôn bị thu
hồi đất sản xuất nông nghiệp. Vì không có việc làm nên người lao động phải tìm
ra các thành phố lớn để tìm kiếm cơ hội việc làm. Điều này đã khiến cho các đô
thị bị quá tải, ngày càng trở nên chật chội, đông đúc. Bên cạnh đó số nông dân
còn lại ở các vùng thôn quê không còn đất sản xuất, chuyển đổi nghề không
được, đời sống của họ rơi vào cảnh khó khăn, thất nghiệp.
1.2. Thực trạng công tác thu hồi đất, GPMB ở Việt Nam
* Thực trạng công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại Việt Nam
Bảng 1.1: Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi
ở một số địa phương trên cả nước
STT
nông nghiệp bị thu hồi chiếm khoảng 89% và diện tích đất thổ cư chiếm 11%.
Đồng bằng sông Hồng là vùng có diện tích đất bị thu hồi lớn nhất, chiếm
4,4% tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước, tỷ lệ này ở Đông Nam Bộ là
2,1%, ở nhiều vùng khác là dưới 0,5%.
Bảng số liệu trên ta thấy Bắc Ninh là tỉnh có tỷ lệ đất nông nghiệp bị
thu hồi cao nhất, chiếm 70,11% tổng diện tích đất nông nghiệp, các tỉnh,
thành như Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Hưng Yên có tỷ lệ đất nông nghiệp bị
thu hồi tương đối cao, khoảng trên dưới 30%; còn ở một số tỉnh như Kiên
Giang, Đồng Tháp, có tỷ lệ đất nông nghiệp thu hồi thấp, lần lượt chiếm chỉ
khoảng 7,4% và 8,02% tổng diện tích đất nông nghiệp.
Các hộ ở các địa phương có diện tích đất thu hồi lớn như Hà Nội
(5.469ha), Hải Phòng (4.126 ha), Bắc Ninh (3.800 ha), Bình Dương (3.500
ha) thường bị thu hồi từ 50 - 70% diện tích Dự kiến, việc thu hồi đất nông
nghiệp trong năm năm tới sẽ ảnh hưởng tới 2,5 triệu người.
Ở nhiều nơi, mặc dù diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm tỷ lệ
nhỏ trong tổng diện tích tự nhiên nhưng hầu hết đất nông nghiệp bị thu hồi tập
trung ở một số huyện, xã có mật độ dân số cao, diện tích đất nông nghiệp bình
quân đầu người thấp, có nhiều xã có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi
chiếm 70-80% diện tích đất canh tác, có nhiều xã chiếm tới 100%. Điển hình
ở các huyện nằm trong khu vực Hà Nội mở rộng và các xã, huyện thuộc quy
hoạch xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị. Theo Viện Khoa học và
công nghệ Việt Nam chỉ tính trong 3 năm qua, tổng diện tích đất chuyên dùng
đã tăng lên 104.422 ha dẫn đến một lượng lớn diện tích đất nông nghiệp được
chuyển đổi mục đích theo hai hướng chính là phục vụ xây dựng các KCN,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
khu chế xuất, cụm công nghiệp vừa và nhỏ hoặc phát triển các khu đô thị tập
trung theo các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng. Các khu vực kinh tế trọng điểm
là khu vực có diện tích đất nông nghiệp chuyển đổi lớn nhất, chiếm trên 50%
Trong 2,5 triệu người có nhu cầu việc làm có hơn 1,5 triệu lao động
nông nghiệp bị thu hồi đất đã được chuyển sang lĩnh vực phi nông nghiệp
( làm việc trong các KCN và ngoài KCN ).
Nông dân còn có thể có việc làm trong các loại hình thương mại nhỏ,
dịch vụ sinh hoạt, phục vụ xây dựng, giáo dục, y tế, vui chơi giải trí… Các
nguồn thu nhập khác mà nông dân có được khi phát triển công nghiệp và đô
thị như phí bồi thường đất, tiền chuyển nhượng thổ cư…
Thứ hai, khi xây dựng các KCN, KĐT Nhà nước đã đầu tư cho kết cấu
hạ tầng giao thông, thông tin, trường sở, các loại hình dịch vụ điện nước
.v.v…Nhờ đó đời sống tinh thần vật chất của dân chúng được chuyển biến.
1.3.2 Tác động tiêu cực của việc thu hồi dất đối với nông dân ở vùng bị
thu hồi đất
Thứ nhất là, những dự án triển khai chậm để đất thu hồi bị bỏ hoang hóa
không những không tạo điều kiện cho nông dân chuyển sang các ngành nghề
phi nông nghiệp, mà còn biến họ thành những người thất nghiệp và thu nhập
bất ổn định.
Nông dân mất đất không có việc làm, thiếu việc làm không phải từ
nguyên nhân chính khi thu hồi đất xây dựng các KCN. Minh chứng là hoạt
động của các KCN đã tạo ra số việc làm đáng kể, khoảng 2,6 triệu việc làm
trực tiếp và gián tiếp. Thu hồi đất để xây dựng KCN, KĐT và KCHT ước tính
số dân bị tác động là: nhường đất cho KCN có khoảng 1,5 triệu người; cho
KĐT có khoảng 2,23 triệu người và cho KCHT khoảng 339 nghìn người ( căn
cứ chỉ tiêu giao đất 1,3 sào/ người
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
Thứ hai là, các khu công nghiệp và đô thị đòi hỏi lao động trẻ tuổi, có
trình độ chuyên môn kỹ thuật, mà phần lớn nông dân các vùng thu hồi đất
không đáp ứng được. Các doanh nghiệp thường chỉ tuyển dụng lao động trẻ đã
tốt nghiệp trung học phổ thông, và có trình độ đào tạo chuyên môn, tức là
mở rộng quy mô đô thị cũ. Ngay nay, với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật
với đặc trưng của nó là cỗ máy vi tính, với những siêu xa lộ thông tin và điện
thoại di động thì sự phát triển của đô thị hoá đã và sẽ mạnh mẽ hơn bao giờ
hết. Mỗi nền văn minh đều tạo nên một phong cách sống, làm việc thích hợp,
một hình thái phân bố dân cư, một cấu trúc đô thị thích hợp.
Đô thị hoá là một quá trình lịch sử sản xuất hàng hoá hiện đại không
ngừng phát triển, dân số không ngừng tập trung, mối quan hệ giữa kinh tế đô
thị và kinh tế khu vực ngày càng chặt chẽ, tác dụng động lực xã hội của đô tị
ngày càng tăng cường.
Đô thị hoá chứa đựng nhiều hiện tượng và biểu hiện dưới nhiều hình
thức khác nhau, vì vậy có thể nêu lên khái niệm dưới nhiều góc độ.
Trên quan điểm một vùng : đô thị hoá là một quá trình hình thành , phát
triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị .
Trên quan điểm kinh tế quốc dân : Đô thị hoá là sự phân bố các yếu tố
lực lượng sản xuất , bố trí dân cư những vùng không phải đô thị thành đô thị.
Đô thị hoá là sự quá độ từ hình thức sống nông thôn lên hình thức sống
đô thị. Khi kết thúc thời kỳ quá độ thì các điều kiện tác động đến đô thị cũng
thay đổi và xã hội sẽ phát triển trong điều kiện mới … đặc biệt là thay đổi cơ
cấu dân cư.
Đô thị hóa mang tính xã hội và lịch sử và là sự phát triển về quy mô, số
lượng, nâng cao vai trò của đô thị trong khu vực và hình thành các chùm đô thị.
Đô thị hoá gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế – xã hội của đô thị
và nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp giao thông vận tải, xây dựng,
dịch vụ. Do vậy đô thị hoá không thể tách rời một chế độ kinh tế – xã hội.
Phương hướng và điều kiện phát triển của quá trình đô thị hoá phụ thuộc vào
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
Ở các nước phát triển, đô thị hoá đặc trưng cho các yếu tố phát triển
2005. Trong đó Hà Nội là 7,776 nghìn ha. Và Hà Nội cũng là thành phố có số
hộ bị thu hồi đất lớn nhất nước với 138.291 hộ.
Một lượng lớn diện tích đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích chủ
yếu phục vụ xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp
vừa và nhỏ hoặc phát triển các khu đô thị tập trung, xây dựng sân gôn…. Nếu
như trong nhiều năm trước, việc cấp phép xây dựng sân gôn còn hạn chế, thì
trong 2 năm từ 2006-2008, đã có hơn 100 dự án sân gôn được cấp phép trên
cả nước, đồng nghĩa với đó là một phần lớn diện tích đất nông nghiệp, đặc
biệt là diện tích đất lúa đã bị thu hồi.
Qua điều tra, khảo sát, việc thu hồi đất nông nghiệp và đất ở đã ảnh
hưởng trực tiếp tới đời sống kinh tế, xã hội của nông dân. Ở những nơi bị thu
hồi đất, có đến 67% số hộ vẫn phải quay lại nghề nông, chỉ có 13% có nghề
mới ổn định. Nhưng ngặt một nỗi, những hộ dân muốn quay lại nghề cũ cùng
chẳng có đất mà sản xuất, cuối cùng họ rơi vào cảnh thất nghiệp, kéo theo
hàng loạt tệ nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc… Nan giải hơn cả là điều kiện
sống của người nông dân đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi chỉ có 29% số hộ
có điều kiện sống tốt hơn, còn lại tới 34,5% hộ mức sống thấp hơn so với
trước khi bị thu hồi đất.
Cơ cấu ngành nghề sau khi bị thu hồi, 60% số hộ vẫn chủ yếu dựa vào
sản xuất nông nghiệp, 9% số hộ làm dịch vụ, 6% số hộ sinh kế bằng công
nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, còn lại là các ngành nghề khác.
Về thu nhập bình quân của người dân thì chỉ có 13% số hộ có thu nhập
tăng hơn trước, trong khi có tới 53% số hộ thu nhập giảm so với trước. Bản
thân nông dân là những người nghèo nhất, nhưng cùng với quá trình Đô thị
hoá, họ lại bị kéo vào vòng xoáy của nghèo đói! Theo điều tra, phần lớn số
tiền bồi thường đất, người nông dân đều dùng vào việc mua sắm, xây dựng
nhà cửa, có tiết kiệm lắm cũng chỉ được được 5-7 năm là họ tiêu hết số tiền
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
tốt nghiệp phổ thông trung học và 14% được đào tạo chuyên môn sơ cấp trở
lên, cá biệt có nơi có tới hàng ngàn lao động mất việc làm. Chỉ có 10-20%
người lao động đã qua đào tạo, còn lại 80% không được đào tạo nghề, trong khi
các doanh nghiệp chủ yếu tuyển dụng lao động có tay nghề trong các lĩnh vực
công nghệ, kỹ thuật cao. Hơn nữa số lượng lao động đã quá tuổi tuyển dụng
(trên 35) rất khó thích nghi với công việc mới lại chiếm trên 50%. Một nguyên
nhân thường gặp nữa là nhận thức của người lao động còn ỷ lại vào chính sách
hỗ trợ Nhà nước, vào tiền bồi thường mà chưa tự mình tìm việc làm, việc tổ
chức, chỉ đạo, tuyên truyền hướng dẫn cho người lao động còn hạn chế.
Hầu hết các hộ nông dân ở Hà Nội sau khi bị thu hồi ruộng đất đời sống
khó khăn do không có việc làm mà "miệng ăn núi lở". Vì vậy đã xuất hiện
những tệ nạn xã hội như nghiện hút, cờ bạc, trộm cắp, mại dâm … ở các vùng
ven được "đô thị hoá". Bên cạnh đó, những vấn đề về môi trường như ô
nhiễm nguồn nước, giảm diện tích cây xanh, chất thải chưa được xử lý …
cũng xuất hiện tại các khu công nghiệp, đô thị mới trong thành phố
1.4.3 Chính sách nào giải quyết tình trạng mất đất của người dân trong
quá trình đô thị hoá
Để giải quyết tình trạng nông dân mất đất, lãnh đạo Bộ Lao động –
Thương binh&Xã hội cho rằng, Hà Nội cần có chính sách đào tạo nghề đi
trước, đón đầu khi có kế hoạch, quy hoạch phát triển, để đến khi công trình
hoàn thành, các doanh nghiệp có thể tuyển dụng lao động vào làm việc ngay.
Bộ đã đề ra giải pháp trong thời gian tới sưc hỗ trợ cho đào tạo dạy nghề cho
người lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp. Theo đó,
lập quỹ hỗ trợ đào tạo tại chỗ chuyển đổi nghề đối với lao động trên 35 tuổi
với những công việc không đòi hỏi kĩ năng phức tạp. Sở Lao Động và
Thương Binh Xã Hội Hà Nội dự kiến mỗi người ở độ tuổi lao động khi bị thu
hồi đất nông nghiệp nếu muốn tham gia học nghề để chuyển đổi việc làm sẽ
được hưởng một xuất đào tạo trị giá 1,5 triệu đồng/người. Ngoài ra, Sở đề
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
để tăng giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích đã tạo việc làm mới cho
người nông dân bằng việc xây dựng các ki-ốt bán hàng, hệ thống phụ trợ để
người nông dân vào đó làm việc.
Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội nghiên cứu thành lập quỹ hỗ trợ
giải quyết việc làm : quỹ này được hình thành từ một phần của khoản tiền sử
dụng đất, tiền thuê đất nộp ngân sách nhà nước của doanh nghiệp khi sử dụng
đất, tiền chênh lệch giữa giá đất bồi thường với đất nông nghiệp trước khi bị
thu hồi và giá đất chuyên dụng đã được chuyển đổi sau khi thu hồi.
Theo Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Mai Ái Trực, chuyển
mục đích sử dụng đất nông nghiệp không chỉ sang đất công nghiệp mà còn để
sản xuất dịch vụ; mở rộng đô thị; xây dựng kết cấu hạ tầng. Việc chuyển đổi
này là tất yếu, phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phù hợp với lao động
trong quá trình Đô thị hoá Hà Nội. Tuy nhiên thời gian qua bên cạnh mặt tốt
đáp ứng nhu cầu cho phát triển hạ tầng, phát triển dịch vụ … thì cũng còn tồn
tại một số vấn đề đặc biệt là vấn đề giải quyết việc làm cho những người bị
thu hồi đất.
Phải có chính sách bồi thường thoả đáng cho người bị thu hồi đất; giải
quyết việc làm trên cơ sở định cư tại chỗ là chính. Ví dụ, bên cạnh khu công
nghiệp, dịch vụ phải qui hoạch tái định cư, xây dựng khu dân cư tự phục vụ
chính khu công nghiệp dich vụ đó. Một giải pháp nữa, không chỉ đào tạo nghề
cho nhưng nơi đã bồi thường giải toả mà phải chủ động có kế hoạch đào tạo
đối với những vùng dự kiến chuyển mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp
sang phi nông nghiệp.
Một giải pháp nữa, trong khâu chỉ đạo tổ chức thực hiện bồi thường
giải phóng mặt bằng thì việc tái định cư và giải quyết việc làm cho người lao
động không còn đất sản xuất phải được coi là bộ phận cấu thành quan trọng
không thể thiếu trong phương án bồi thường giải toả thu hồi đất. Hội đồng
phải ly nông. Để giải quyết bế tắc, có ý kiến đề xuất : thay tiền bằng thẻ. Cụ
thể là : trong số nông dân phải ly nông có khoảng 18.000 người có nhu cầu