Tiểu văn hóa ngõ phố trong đời sống đô thị tỉnh lị Việt Nam ( Nghiên cứu trường hợp thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An - Pdf 25


VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN XÃ HỘI HỌC
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ QUỲNH TRANG
TIỂU VĂN HOÁ NGÕ PHỐ TRONG ĐỜI SỐNG ĐÔ THỊ
TỈNH LỊ VIỆT NAM
(Nghiên cứu trường hợp thành phố Vinh – tỉnh Nghệ An)
CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC
MÃ SỐ: 623130 LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC
1.1.1 Đô thị 12
1.1.2 Đô thị hoá 13
1.1.3 Đô thị hoá tại Việt Nam 14
1.1.4 Phân loại đô thị 15
1.2 Văn hoá đô thị và vai trò của văn hoá trong phát triển đô thị 16
1.2.1 Văn hoá đô thị 16
1.2.2. Những cơ sở hình thành văn hoá đô thị 19
1.3 Ngõ phố trong đô thị Việt Nam 20
1.4 Tiểu văn hoá và tiểu văn hoá ngõ phố 21

CHƢƠNG II
Thực trạng tiểu văn hoá ngõ phố ở thành phố Vinh
2.1. Quá trình hình thành và phát triển của thành phố Vinh 23
2.2 Nguồn gốc hình thành các ngõ phố ở Vinh 27
2.3 Đặc điểm của văn hoá ngõ phố 28

2

2.3.1 Đặc điểm về địa lý, dân cư và cơ sở hạ tầng 28
2.3.2 Đặc điểm kinh tế 39
2.3.3 Quan hệ của cư dân trong ngõ 41
2.3.4 Nhóm xã hội, hoạt động cộng đồng và không gian
công cộng trong ngõ 49
2.3.5 Ngõ phố trong các hình thức cư trú của người dân 62
2.3.6 Những bất cập còn tồn tại trong văn hoá ngõ phố 64
CHƢƠNG III
Vai trò của tiểu văn hóa ngõ phố, các yếu tố tác động đến và các giải pháp
đối với tiểu văn hoá ngõ phố
3.1 Vai trò của tiểu văn hoá ngõ phố 66
3.2 Các yếu tố tác động đến tiểu văn hoá ngõ phố 69

Bảng 2.6 : Mức độ tham dự họp tổ dân phố so với độ tuổi người trả lời .59

2. BIỂU
Biểu 2.1: Số thế hệ sống trong một gia đình trong ngõ phố .30
Biểu 2.2 Các kiểu kiến trúc nhà ở chủ yếu trong ngõ phố .35
Biểu 2.3: Số hộ trong ngõ đến chia sẻ khi hàng xóm có việc quan trọng .47
Biểu 2.4 Lựa chọn hình thức cư trú theo sở thích .63 4

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Ngõ phố (hay còn gọi là “hẻm phố”) là một loại hình cư trú rất đặc trưng của
đô thị Việt Nam, khác với các loại hình cư trú tồn tại tại các đô thị ở các nước phát
triển. Văn hóa ngõ phố thể hiện nét văn hóa đặc sắc của người Việt trong môi
trường đô thị. Đằng sau phố xá ồn ào là những ngõ phỗ lưu giữ những giá trị truyền
thống của người Việt, thể hiện lối sống, cách ứng xử với môi trường thiên nhiên và
xã hội của người Việt. Nhưng cũng chính từ cái ngõ ngách chật chội đó cũng nảy
sinh rất nhiều mâu thuẫn, vấn đề xã hội, bố cục quy hoạch thiếu hợp lý, kém văn
minh là nguy cơ của hỏa hoạn, ngập lụt và ô nhiễm môi trường… Vì vậy văn hóa
ngõ phố cần được nhìn nhận sâu sắc và có những nghiên cứu nghiêm túc hơn nữa.
Hiện tại vấn đề này đã được một số nhà nghiên cứu xã hội và các nhà quy
hoạch đô thị quan tâm, một số nghiên cứu ở Thành phố Hồ Chí Minh đã có nhắc
đến văn hóa ngõ phố như một nét văn hóa cần gìn giữ và tính toán cẩn trọng khi quy
hoạch lại đô thị trung tâm Sài Gòn. Tuy nhiên việc này chỉ dừng lại ở các hội thảo
khoa học và các bài viết tản mạn trên các tạp chí, chứ chưa thực sự có một công
trình nghiên cứu với các phương pháp xã hội học định tính hay định lượng thực sự
chuyên sâu. Hơn nữa các khảo cứu đó hầu hết là ở các thành phố lớn (Sài Gòn, Hà
Nội), các thành phố với bề dày lịch sử và không gian văn hóa đa chiều, mức độ đô

thiết nghiên cứu, vừa có thể nghiên cứu.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về văn hóa ngõ phố
cả về mặt kiến trúc và lối sống cũng như cách tổ chức sinh hoạt. Cụ thể như sau:
Hẻm phố Sài Gòn Thành phố Hồ Chí Minh (Kỷ yếu hội thảo : “Bảo tồn và phát
triển các tiểu văn hóa ở hẻm
1
phố trong quá trình cải tạo Thành phố Hồ Chí
Minh”), Trường ĐH Kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm nghiên cứu
Đô thị và phát triển, Nxb. Công An Nhân dân, 2006.
Cuốn sách tập hợp các bài viết của nhiều tác giả được trình bày trong hội thảo vấn
đề “Bảo tồn và phát triển các tiểu văn hóa ở hẻm phố trong quá trình cải tạo Thành
phố Hồ Chí Minh”. Cho đến nay có thể nói các nhà nghiên cứu đô thị thành phố Hồ

1
Hẻm phố: (Miền Nam) Tương đương với đơn vị “Ngõ phố” ở Miền Bắc.

6

Chí Minh là những người khởi xướng xu hướng nghiên cứu này. Cuốn sách cũng
như cuộc hội thảo đã chỉ ra những vấn đề của hẻm phố Sài Gòn nói riêng và hẻm
phố các đô thị lớn ở Việt Nam nói chung. Các bài viết “ Hẻm phố - Một không gian
văn hóa đặc trưng của đô thị Việt Nam” của PGS.TS Nguyễn Minh Hòa, “Hẻm phố
- Gạch nối của làng xã với đô thị” của T.S Đỗ Kim Liên, “Những màu sắc của hẻm
phố Sài Gòn” của Th.S Trần Quang Ánh,… đã mô tả và phân tích cuộc sống nơi
những con hẻm nhỏ của Sài Gòn dưới nhiều chiều cạnh: văn hóa, tôn giáo, sinh hoạt
cộng đồng, mạng lưới xã hội… và các vấn đề bất cập của thực trạng loại hình cư trú
này ví dụ như cơ sở hạ tầng, ô nhiễm môi trường, kiến trúc… Một số bài viết khác
đã đề ra những biện pháp, cách thức nhằm nỗ lực bảo tồn và phát triển hẻm phố
như: “Xây dựng không gian công cộng thân thiện cho hẻm phố Sài Gòn của

chỉ là những bài viết tản mạn trên các tạp chí khoa học hay hội thảo chuyên đề. Các
nghiên cứu đã chỉ ra được những nguồn gốc cơ bản hình thành nên ngõ phố ở đô thị
Việt Nam. Hầu hết các nghiên cứu đều nhận định được các giá trị của văn hoá ngõ
phố: như gìn giữ tính cố kết cộng đồng của văn hoá truyền thống. Tuy nhiên bên
cạnh đó còn nhiều yếu tố bất cập, thiếu văn minh cần xử lí. Các nghiên cứu đó chủ
yếu tập trung vào 2 đô thị lớn của Việt Nam là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Không một nghiên cứu nào về đề tài trên đã từng được thực hiện ở các đô thị cấp
tỉnh lị, nơi chưa cắt hẳn ràng buộc với nông thôn. Đặc biệt chưa một nghiên cứu nào
nhìn nhận ngõ phố như một đơn vị văn hoá được “chỉ mặt đặt tên” từ đó gợi ý các
giải pháp từ nhận thức đến hành động đối với các cấp quản lý.
3. Mục đích nghiên cứu:
Bước đầu nghiên cứu về tiểu văn hóa ngõ phố tại đô thị tỉnh lị ở Việt Nam,
qua trường hợp điển hình là thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, chỉ ra có sự tồn tại một
loại hình tiểu văn hóa với các đặc trưng về kinh tế - xã hội, lối sống, phong cách
sinh hoạt và các hoạt động cộng đồng, xuất phát từ hình thức cư trú ngõ phố. Phân
tích các giá trị tốt đẹp cần bảo tồn, phát huy, cũng như những yếu tố tiêu cực cần
khắc phục của văn hóa ngõ phố, từ đó đề xuất các giải pháp duy trì và phát huy các
giá trị tích cực của văn hóa ngõ phố trong môi trường đô thị Việt Nam hiện đại.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Từ mục đích nêu trên đề tài có những nhiệm vụ chính sau đây:

8

- Khảo sát thực tiễn để mô tả, nhận diện và chỉ ra sự tồn tại của một loại hình
tiểu văn hóa ngõ phố, từ đó khắc họa một bức tranh cơ bản về văn hóa ngõ phố với
một số đặc trưng như: nguồn gốc hình thành, đặc điểm địa lý; đặc điểm kết cấu dân
cư; cơ cấu xã hội, cách thức tổ chức đời sống cá nhân và cộng đồng. Từ đó, phân
tích các chức năng, vai trò của văn hóa ngõ phố trong quá trình phát triển đô thị
cũng như những vấn đề đang đặt ra cần phải xử lý ở loại hình tiểu văn hóa này.
- Dự báo xu hướng biến đổi, phát triển của tiểu văn hóa ngõ phố trong xu

hóa ngõ phố mà chúng ta đang đề cập thuộc loại hình tiểu văn hóa nào? Nghe ra có
vẻ hợp lý khi đặt loại hình này vào nhóm tiểu văn hóa theo vùng địa lý, vì dẫu sao
đây là văn hóa của một nhóm người cùng chia sẻ chung về khu vực cư trú là xóm
ngõ của mình. Nhưng theo tác giả đây là loại hình tiểu văn hóa thiên về đặc trưng
xã hội nhiều hơn. Vì thực tế một ngõ phố là quá nhỏ để nói đến như một khu vực
địa lý có cùng điều kiện lịch sử- xã hội hay tự nhiên, khí hậu mà từ đó hình thành
nên những bản sắc của ngõ phố đó. Những ngõ phố của đô thị Việt từ xưa đến nay
thường xuất phát từ những cư dân làm chung một nghề (phường hội, khu tập thể cơ
quan…) hay là những người có điều kiện kinh tế tương tự nhau, có những sinh hoạt
chung và chia sẻ chung các nguồn lực với nhau mà từ đó hình thành nên bản sắc đặc
trưng của ngõ phố nhiều hơn là xuất phát tự đặc điểm tự nhiên, địa vực.
Theo cách phân loại đó Tiểu văn hóa ngõ phố được hiểu là loại hình tiểu văn hóa
hình thành từ lối cư trú của cư dân thành thị theo ngõ phố (đơn vị hành chính đứng
sau ngõ phố) với những đặc trưng rõ rệt về đặc điểm địa lý dân cư (vị trí, kích
thước, kiến trúc cảnh quan, quy mô nguồn gốc dân cư, không gian tập thể), kinh tế
(nghề nghiệp, cơ sở sản xuất), các loại hình sinh hoạt văn hóa cộng đồng (hoạt
động tôn giáo, hoạt động văn hóa, hoạt động vui chơi giải trí, hoạt động chính trị)
và mạng lưới xã hội (quan hệ giữa các hộ gia đình, giữa các cá nhân) cũng như các
nhóm xã hội đặc trưng (nhóm nghề nghiệp, nhóm người nhập cư, nhóm theo giới,
nhóm theo độ tuổi) của ngõ phố phân biệt với các tiểu văn hóa theo loại hình cư trú
khác ở đô thị.

10
TIỂU VĂN HÓA NGÕ PHỐ
Đặc điểm địa lý
dân cư, cư trú
Loại hình hoạt động

nhi, thanh niên, người
già….)
Đặc điểm kinh tế
Nghề nghiệp
Cơ sở sản
xuất, kinh
doanh dịch
vụ
Hoạt động
vui chơi,
giải trí
Không gian
công cộng
Nhà ở và
cơ sở hạ
tầng
- 11 -
9. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Mẫu nghiên cứu được điều tra một lần theo lát cắt ngang. Nhằm đạt được mục
đích nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
a. Phƣơng pháp nghiên cứu định tính:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu tài liệu về lịch sử hình thành, các
đặc trưng văn hóa của thành phố Vinh; các tài liệu đã nghiên cứu vấn đề tương tự.
- Phỏng vấn sâu: Phỏng vấn người dân trong ngõ về lối sống, văn hóa ngõ phố.
Phỏng vấn cán bộ cơ sở về nhận thức và ứng xử với văn hóa ngõ phố. Đề tài đã thực
hiện 5 phỏng vấn sâu người dân và cán bộ cơ sở. Tuy nhiên trong quá trình điều tra
định lượng (bảng hỏi) điều tra viên kết hợp khai thác các thông tin định tính để phục
vụ cho quá trình phân tích và khai thác số liệu.
- Phương pháp quan sát: Quan sát cuộc sống, lối ứng xử với thiên nhiên và xã
hội của người dân trong ngõ phố. Quan sát mối quan hệ, các hoạt động cộng đồng và

1.1 Đô thị và đô thị hoá
1.1.1 Đô thị
Đô thị xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử loài người và trải qua những giai đoạn
phát triển quan trọng. Mỗi quốc gia đều có hàng trăm đô thị lớn nhỏ các loại. Tiêu
chuẩn để được gọi là đô thị ở các nước khác nhau có thể khác nhau, tiêu chuẩn đó
cũng thay đổi qua các giai đoạn lịch sử khác nhau. Tuy nhiên những tiêu chí để nhận
dạng và dùng để phân biệt đô thị và nông thôn thì dù đã có những biến đổi nhất định,
nhưng tương đối giống nhau trên toàn thế giới hay nhất quán qua các thời kỳ lịch sử.
Đô thị là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, mỗi ngành khác nhau có
những định nghĩa về đô thị khác nhau tuỳ theo mục đích, chức năng và nhiệm vụ của
ngành. Theo định nghĩa của Từ điển Bách khoa Việt Nam, đô thị là:
“Không gian cư trú của của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động
trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp” [28, tr.836]
Xã hội học định nghĩa đô thị dựa trên cấu trúc xã hội và chức năng mà nó thực
hiện, xem đô thị như là những hình thức tổ chức xã hội có xuất xứ địa lý mang những
đặc trưng nhất định.
- Có số dân tương đối đông, mật độ dân số cao và không thuần nhất
- Có một phần dân cư làm các công việc phi nông nghiệp và có một số chuyên gia.
- Theo Max Weber một đô thị phải đảm nhận những chức năng thị trường và ít
nhất phải có một phần quyền lực quản lý điều hành
- Các đô thị thể hiện những hình thức tương tác, trong đó một cá nhân được biết
đến không phải như một nhân cách đầy đủ theo nghĩa là ít nhất có một số tương tác với
người khác không phải như cá nhân mà là với vai trò mà họ đảm nhận.
- Các đô thị đòi hỏi một “gắn kết xã hội” dựa trên luật lệ hợp lý.
Một định nghĩa khác đó là: Đô thị là một kiến tạo lãnh thổ - xã hội, một hình thức
cư trú mang tính toàn vẹn lịch sử của con người, được đặc trưng bởi các dấu hiệu sau:
- Là nơi tập hợp của một số lượng lớn dân cư trên một lãnh thổ hạn chế.
- Đại bộ phận dân cư sống ở đây làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp.
- 14 -
- Là môi trường trực tiếp tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển xã hội

Đô thị hoá được định nghĩa dựa trên cách tiếp cận nhân khẩu học và địa lý kinh
tế là sự di cư từ nông thôn vào thành thị, là sự tập trung ngày càng nhiều dân cư sống
trong những vùng lãnh thổ địa lý hạn chế được gọi là các đô thị.
Theo cách tiếp cận đó thì quá trình đô thị hoá được đơn giản hoá thành quá
trình gia tăng dân số sống ở đô thị. Nếu vậy thì không thể nào giải thích được tầm
quan trọng của đô thị hoá cũng như ảnh hưởng của nó tới sự phát triển của xã hội hiện
đại. Chính vì vậy ngày nay quan điểm về đô thị hoá đã có phần thay đổi khi mà người
ta bắt đầu tính đến mặt xã hội của quá trình này. John Macionis viết: “Đô thị hóa
không chỉ thay đổi sự phân bố dân cư trong xã hội mà còn chuyển thể nhiều kiểu mẫu
của đời sống xã hội”[21, tr. 690]. Theo đó đô thị hoá là một quá trình lớn bao trùm mà
trong đó có nhiều quá trình nhỏ diễn ra. Đó không chỉ là quá trình gia tăng dân số đô
thị hay mở rộng diện tích đô thị, mà còn là những quá trình làm thay đổi mạnh mẽ về
mặt xã hội như: thay đổi cơ cấu xã hội nghề nghiệp của những người nông dân vừa trở
thành thị dân, sự lan tỏa và phát triển của lối sống và văn hoá đô thị… Nói một cách
khái quát thì đô thị hoá là quá trình tổ chức lại phương thức và môi trường cư trú của
con người. Đây là một cuộc thay đổi toàn diện và sâu sắc, không thể cưỡng lại và cũng
không thể đảo ngược. Đó thực sự là một cuộc lột xác cho những nơi mà nó đi qua.
1.1.3 Đô thị hoá tại Việt Nam
Đô thị hoá là một quy luật khách quan, phù hợp với đặc điểm tình hình của mỗi
quốc gia. Việt Nam cũng là một trong các nước đang phát triển đang trải qua giai đoạn
đô thị hoá mãnh liệt và sâu sắc với những đặc điểm chung như đã nói ở trên. Quá trình
đô thị hoá ở Việt Nam thực chất trước hết là quá trình biến làng thành phố, từ nông
thôn trở thành đô thị, từ đô thị hành chính thành những đô thị đa chức năng. Cùng với
sự phát triển kinh tế chúng ta đang ở trong một cuộc cách mạng về đô thị, với sự hình
thành các đô thị mới, mở rộng, nâng cấp, nâng hạng hàng loạt đô thị khác. Dân số đô
thị đang tăng nhanh chưa từng thấy. Sự bùng nổ đó cũng kéo theo nhiều hệ luỵ khó
tránh khỏi.
PGS.TS.KTS Nguyễn Hồng Thục [3, tr. 68] đánh giá có ba nghịch lý trong quá
trình đô thị hoá ở Việt Nam đó là:
- Đô thị hoá xảy ra trước công nghiệp hoá: Ở các nước phát triển đi trước thì trước

Minh.
Đô thị loại 1: là đô thị rất lớn có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc cả nước, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 85%
trở lên, quy mô dân số từ 50 vạn người, mật độ bình quân từ 12.000 người/ km2.
- 17 -
Đô thị loại 2: là đô thị loại lớn, có tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 80% trở
lên, quy mô dân số từ 25 vạn người, mật độ bình quân từ 10.000 người/ km2.
Đô thị loại 3: Là đô thị trung bình lớn, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 75%
trở lên, quy mô dân số từ 10 vạn người, mật độ bình quân từ 8.000 người/ km2.
Đô thị loại 4: là đô thị trung bình nhỏ, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 70%
trở lên, quy mô dân số từ 5 vạn người, mật độ bình quân từ 6.000 người/ km2.
Đô thị loại 5: là đô thị loại nhỏ, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 65 % trở lên,
quy mô dân số từ 4.000 người, mật độ bình quân từ 2.000 người/ km2
Hiện Việt Nam có 7 thành phố được Thủ tướng Chính phủ quyết định công
nhận đô thị loại 1là: Đà Nẵng, Hải Phòng, Huế, Vinh, Đà Lạt, Nha Trang và Cần Thơ.
Đi liền với phân loại đô thị, Nghị định của Chính phủ cũng quy định phân cấp
quản lý đô thị theo ba cấp: trung ương, tỉnh và huyện.
Thành phố trực thuộc Trung ương là các thành phố lớn, có nền kinh tế phát
triển, là khu vực quan trọng về quân sự, chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội là động lực
phát triển cho cả quốc gia/vùng lãnh thổ chứ không còn nằm bó hẹp trong phạm vi một
tỉnh. Các thành phố này có cơ sở hạ tầng và khoa học công nghệ phát triển, có nhiều
cơ sở giáo dục bậc cao, dân cư đông, thuận lợi về giao thông vận tải. Kể từ ngày
1/1/2004, Việt Nam có 5 thành phố trực thuộc trung ương: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí
Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ.
Thành phố trực thuộc tỉnh là một đơn vị hành chính tương đương với cấp quận,
huyện, thị xã, chịu sự quản lý trực tiếp của Uỷ ban nhân dân của tỉnh. Và đó cũng là
trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa, giáo dục của một tỉnh. Một số thành phố lớn
trực thuộc tỉnh còn được giữ vai trò làm trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị, của cả
một vùng (liên tỉnh). Không phải tỉnh nào cũng có thành phố trực thuộc mà thay vào
đó là thị xã giữ vai trò là tỉnh lị. Song lại có tỉnh có tới hơn một thành phố trực thuộc.

sẽ thẩm thấu vào cấu trúc chiều sâu, làm thay đổi dần những hệ giá trị, những quan
niệm.”.[7, 3/1999]
Văn hoá đô thị là một khái niệm phổ biến nhưng lại chưa được ai định nghĩa. Tuy
nhiên, nói văn hoá đô thị hay văn hoá làng xã là muốn khu biệt nó vào trong một
khung cảnh cụ thể, hoặc là ở nông thôn hoặc là ở đô thị- hai phương thức cư trú chính
của con người. Đây là hai nhóm đối chứng với nhau. Theo cách tiếp cận hai tầng về
văn hoá đã nêu trên, thì ở Việt Nam văn hoá đô thị và văn hoá nông thôn đều có chung
một xuất phát điểm từ lớp sâu nhất của cơ tầng văn hoá Việt đó là văn hoá làng xã.
- 19 -
Đỗ Lai Thuý viết: “Đành rằng Việt Nam có đô thị, nhưng đô thị xuất hiện muộn, và
chất đô (tức tính chất hành chính) bao giờ cũng lấn át tính chất thị (tức tính chất
thương mại). Bởi vậy đô thị là một đơn vị hành chính hơn là một đơn vị kinh tế. Vì
thế, suốt trong lịch sử Việt Nam, bao giờ cũng là những hòn cô đảo trên cái biển tiểu
nông và bị nông thôn bao vây và chi phối. Một xã hội như vậy là môi trường lý tưởng
để hình thành và bảo lưu con người tiểu nông, cái cốt lõi để tạo ra con người làng xã…
Con người làng xã với các đặc tính: tính cộng đồng, thói duy tình, tính thiết thực, bám
làng bám ruộng… khiến cho con người làng xã một tâm lý hướng nội… Chúng ta đều
biết, mỗi người Việt Nam, kể cả con người Việt Nam hiện đại hôm nay, dù sống ở
thành thị một vài đời, thậm chí ở cả những siêu đô thị hiện đại nước ngoài, thì trong
thẳm sâu tiềm thức của mình vẫn có một anh nhà quê trú ẩn.”[24, tr. 112 đến tr. 130]
Sự khác nhau về mối quan hệ cư trú và môi trường thiên nhiên – sinh thái giữa
nông thôn với đô thị cho thấy: quan hệ cư trú - ứng xử ở nông thôn qua nhiều tầng nấc
trong nhà, ngoài ngõ mới ra đến thiên hạ (xã hội); còn ở đô thị từ gia đình ra phố đã là
thiên hạ (xã hội), nhất là tại các đô thị lớn. Môi trường sống ở nông thôn được khắc
hoạ bằng nhiều thể khối kiến trúc ẩn mình giữa thiên nhiên. Tại đô thị trái lại, môi
trường sống chủ yếu được đặc tả bởi các thể khối kiến trúc có điểm xuyến bới những
công trình thiên nhiên mang tính nhân tạo. Từ cái khung và cái nền đó, văn hoá đô thị
hẳn nhiên có những nét đặc trưng so với văn hoá nông thôn.
Thứ nhất, lối sống văn hoá đô thị tuỳ thuộc vào các dịch vụ công, từ nhà ở đến
ăn uống, đi lại cho đến các sinh hoạt cá nhân khác. Trong khi ở nông thôn mỗi gia đình

xuất nông nghiệp thuần nhất ở nông thôn, đô thị với khả năng sản xuất và nhu cầu tiêu
dùng cao đã hình thành một khâu trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng. Đó là lĩnh vực
dịch vụ, đây được xem như là một yếu tố quan trọng hình thành nên văn hoá đô thị,
một trong những yếu tố quan trọng để đo lường tốc độ phát triển của đô thị. Dịch vụ
đáp ứng mọi nhu cầu từ cơ bản nhất đến cao cấp nhất của cư dân đô thị. Vai trò của
dịch vụ rất quan trọng và chi phối đến mọi mặt của đời sống cư dân đô thị. Sự phát
triển của dịch vụ và phân công lao động sâu sắc đã ảnh hưởng lớn đến hình thức giao
tiếp của cư dân đô thị. Ở nông thôn các mối quan hệ chủ yếu mang tính sơ cấp, mọi
người giao tiếp với nhau thân tình cởi mở, dựa trên mối quan hệ thân tộc họ hàng hay
hàng xóm láng giềng nên họ hiểu rõ về cuộc sống cũng như đời tư của nhau. Thì ở đô
thị với hệ thống quan hệ xã hội đa dạng và mang tính chức năng cao khiến cho con
người đô thị giao tiếp với nhau chủ yếu mang tính ẩn danh, có mục đích và lạnh lùng
hơn. Alvin Toffler gọi đó là “con người môđun”: “Có ý thức hay không, chúng ta xác
định mối quan hệ của chúng ta với hầu hết mọi người theo chức năng. Chừng nào mà
- 21 -
chúng ta không dính líu với các vấn đề của người bán giày ở nhà ông ta, thì đối với
chúng ta ông ta hoàn toàn có thể thay thế được bởi những người bán hàng khác có
cùng khả năng. Như thế chúng ta đang áp dụng nguyên lý môđun cho các mối quan hệ
con người. Chúng ta đã tạo ra người có thể vứt bỏ được: người môđun.” [23, tr 40]
Sự phân công và bổ sung lao động, sự hình thành các thiết chế dịch vụ và sự
giao tiếp là một trong những nguyên nhân của sự hứng thú sử dụng thời gian rỗi. Việc
sử dụng thời gian rỗi của cư dân đô thị đa dạng và khác biệt giữa các nhóm xã hội
khác nhau.
Như vậy bốn nhóm yếu tố: Sự phân công lao động, sự điều hành các thiết chế
dịch vụ, quá trình giao tiếp và sự hứng thú sử dụng thời gian rỗi là những cơ sở nền
tảng để hình thành văn hoá đô thị. Muốn phát triển văn hoá đô thị bền vững, các chính
sách chủ trương đưa ra cần căn cứ toàn diện và sâu sắc đến những cơ sở trên.
1.3 Ngõ phố trong đô thị Việt Nam
Đô thị là một cơ thể sống mà chúng ta có thể tiếp cận từ nhiều chiều cạnh. Về khía
cạnh văn hoá xét theo không gian cư trú có thể chia đô thị làm hai phần: động và tĩnh.

hành chính thì thường sạch sẽ, yên tĩnh, trong khi đó những ngõ phố với đa số thành
phần là những người buôn bán nhỏ, sản xuất tiểu thủ công nghiệp thì khá nhộn nhịp và
náo nhiệt với đầy đủ các hoạt động sống: ăn ở, sinh hoạt, sản xuất, buôn bán.
Các ngõ phố đô thị Việt Nam có nhiều nguồn gốc hình thành khác nhau nhưng
đa phần là mang tính chất tự phát. Khi quy hoạch thành phố, các nhà quy hoạch chỉ
quan tâm đến xây dựng và phát triển các trục đường giao thông chính, các khu thị tứ
chứ không quy hoạch và quản lý chi tiết các khu dân cư sống ở mặt sau của các đường
phố, đó chính là các ngõ phố. Chính vì vậy mà ngõ phố Việt Nam hình thành thiếu quy
hoạch, chằng chịt và ngoằn nghèo với cơ sở hạ tầng kỹ thuật kém, ít cây xanh và
không gian sinh hoạt cộng đồng. Kiến trúc nhà ở trong ngõ cũng vì thế mà lộn xộn,
không đồng bộ và thiếu bản sắc. Hiện tượng lấn chiếm và sử dụng trái phép đất công
là hiện tượng phổ biến làm cho ngõ đã hẹp lại càng trở nên chật chội và tối tăm.
Nhưng chính những con hẻm chật chội tối tăm đó là nơi gìn giữ những giá trị
văn hoá tinh thần truyền thống của người Việt. Trong nhịp phát triển sôi động của đô
thị, lối sống ẩn danh, thực dụng và lạnh lùng ngày càng sâu sắc và rõ nét trong những
mối quan hệ của cư dân đô thị, thì ở trong mỗi con ngõ, tình làng nghĩa xóm, lối sống
cộng đồng “tối lửa tắt đèn có nhau” vẫn luôn được gìn giữ và trân trọng.
1.4 Tiểu văn hoá và tiểu văn hoá ngõ phố
Các nhà xã hội học nói rằng chừng nào sự khác biệt về văn hóa được biểu hiện cụ
thể trong lối sống – bao gồm tổng thể các biểu tượng và ý niệm, các giá trị và chuẩn
- 23 -
mực, các khuôn mẫu và thể chế, kể cả các sở thích trong thể thao và nghệ thuật, các
mốt trong ăn mặc và trang điểm – thành những đặc trưng rõ rệt và những đặc trưng
này có thể tái tạo trong đời sống xã hội để có thể phân biệt giữa nhóm này với nhóm
kia, giai tầng này với giai tầng khác, chừng đó có thể nói đến sự tồn tại của một tiểu
văn hóa.[8. tr. 192]
Như vậy thuật ngữ tiểu văn hóa mô tả những nhóm người không những sống
chung trong bối cảnh của một nền văn hóa rộng lớn, mà còn sống thực sự trong bối
cảnh tiểu văn hóa của riêng mình. Nhìn một cách khái quát, người ta có thể chia các
tiểu văn hóa thành hai loại chính, đó là tiểu văn hóa theo vùng địa lý và tiểu văn hóa

Vị trí đắc địa của Nghệ An đã lọt vào “mắt xanh” của thiên tài Nguyễn Huệ.
Hoàng đế Quang Trung đã có chủ trương, đồng thời tổ chức xây dựng Phượng Hoàng
Trung đô ở Vinh. Ngày 1/10/1788, Vua Quang Trung gửi chiếu cho La sơn Phu tử
Nguyễn Thiếp, chọn Vinh để xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô. Năm 1792, Vua
Quang Trung đột ngột băng hà, để lại cả sự nghiệp và Trung đô Phượng Hoàng thành
xây dở. Mặc dù chưa được xây dựng hoàn chỉnh và cũng chưa có những ảnh hưởng to
lớn, trực tiếp đến đời sống của Vinh đương thời, nhưng Phượng Hoàng Trung Đô có
một ý nghĩa cực kỳ quan trọng và sâu sắc đối với lịch sử hình thành và phát triển của
Vinh. Nó làm tăng lên nhiều lần kích thước và chiều dày văn hoá lịch sử của thành
Vinh. Đó cũng là một niềm tự hào, một điểm tựa có ý nghĩa lịch sử và tâm linh sâu sắc
cho các thế hệ người dân Vinh.
Tuy nhiên không nên gọi đó là ngày thành lập thành phố Vinh, hoặc ngày ra đời
Vinh với tư cách một đô thị.
Tháng 5 năm 1804, vua Gia Long xuống chiếu cho Tả quân Lê Văn Duyệt đốc
thúc việc xây thành đắp luỹ để chuyển dời lị sở Nghệ An từ Lam Thành- Phù Thạch về
Vinh ngày nay. Đây là một cái mốc quan trọng đánh dấu chính thức việc Vinh trở
thành trung tâm hành chính của tỉnh Nghệ An, trở thành một trong 29 doanh trấn của
cả nước ta thời kỳ đó. Tuy vậy, nền kinh tế của Vinh chủ yếu vẫn dựa trên nông
nghiệp, tự cung tự cấp là chính. Đô thị Vinh, vì vậy về khía cạnh văn hoá vẫn nghiêng
về yếu tố đô, yếu tố thành, hơn là yếu tố thị.
Và, Vinh chỉ thật sự chuyển thành đô thị đúng nghĩa cùng với cuộc khai thác
thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp (1897- 1914).
Ngày 20/7/1885, người Pháp chiếm thành Nghệ An. Ngày 12/7/1899, vua
Thành Thái ra đạo dụ thành lập trung tâm đô thị Vinh cùng với các đô thị khác là
Thanh Hoá, Huế, Hội An, Quy Nhơn, Phan Thiết. Sau đó một ngày đạo dụ này được
Khâm sứ Trung Kỳ phê duyệt. Đây là văn bản chính thức đầu tiên của nhà nước gọi
Vinh là đô thị, mà chính xác là trung tâm đô thị (centre urbain).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status