Khắc phục những vướng mắc trong chế độ tài chính đối với nghiên cứu khoa học trong các trường hợp trường đại học ở Việt Nam (nghiên cứu trường hợp Học viện Tài chính - Pdf 26


1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM THỊ LAN ANH
KHẮC PHỤC NHỮNG VƯỚNG MẮC TRONG CHẾ ĐỘ
TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, 2013 3
MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Mục tiêu nghiên cứu 7
3. Phạm vi nghiên cứu 7
4. Mẫu khảo sát 7
5. Câu hỏi nghiên cứu 7
6. Giả thuyết nghiên cứu 8
7. Phƣơng pháp nghiên cứu 8
8. Kết cấu của Luận văn 8
CHƢƠNG 1. 10
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ TÀI CHÍNH 10
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 10
TRONG CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM 10
1.1. Lịch sử nghiên cứu 10
1.2. Cơ sở lý luận 11
1.2.1. Hoạt động nghiên cứu khoa học 11
1.2.2. Mục tiêu của hoạt động nghiên cứu khoa học trong các trƣờng đại học. 12
1.2.3. Vai trò của nghiên cứu khoa học trong các trƣờng đại học 13
1.2.4. Đặc điểm của nghiên cứu khoa học tại các trƣờng đại học ở nƣớc ta hiện
nay 14

2.4.2. Chế độ tài chính đối với hoạt động nghiên cứu khoa học tại Học viện Tài
chính 48
2.4.3. Chế độ tài chính đối với hoạt động nghiên cứu khoa học tại Học viện Tài
chính 53
2.4.4. Kết quả 55
2.5. Đánh giá mức độ nghiên cứu khoa học tại Học viện Tài chính 57
Tiểu kết chƣơng 2 59
CHƢƠNG 3. 61
ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC VƢỚNG MẮC 61
TRONG CHẾ ĐỘ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG
CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM 61
(NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH) 61
3.1. Định hƣớng sử dụng chế độ tài chính hợp lý đối với nghiên cứu khoa học trong
các trƣờng đại học ở Việt Nam 61
3.1.1. Gia tăng nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc đầu tƣ cho hoạt động nghiên
cứu khoa học 61
3.1.2. Phân bổ kinh phí sự nghiệp khoa học 62
3.1.3. Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý tài chính cho khoa học và công
nghệ 63
3.2. Giải pháp khắc phục vƣớng mắc trong chế độ tài chính đối với hoạt động nghiên
cứu khoa học trong các trƣờng đại học ở Việt Nam 64
3.2.1. Tăng cƣờng huy động nguồn tài chính đối với hoạt động khoa học và
công nghệ trong các trƣờng đại học 64
3.2.2. Sử dụng có hiệu quả nguồn tài chính từ Ngân sách nhà nƣớc cho hoạt
động KH&CN trong các trƣờng đại học. 71
3.2.3. Tăng cƣờng mối quan hệ giữa ngƣời nghiên cứu, ngƣời sử dụng và Nhà
nƣớc trong việc huy động và sử dụng nguồn tài chính 78
3.3. Giải quyết vƣớng mắc trong chế độ tài chính tại Học viện Tài chính 82
3.3.1. Tự chủ về học thuật 82
3.3.2. Tự chủ về tài chính 83

nhiều văn bản và chính sách của Nhà nước. Ngay từ những năm 1980, Nghị
Quyết 37 của Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IV đã xác
định cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt để xây dựng chủ nghĩa xã
hội. Nghị Quyết đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã mở đầu bước ngoặt căn
bản trong tư duy lý luận khoa học công nghệ. Đến đại hội VII (1991) đổi mới
trong KH&CN được coi là thúc đẩy công cuộc đổi mới toàn diện của đất
nước. Tinh thần này tiếp tục được phát triển, cụ thể hóa trong đại hội VIII, IX
và đặc biệt trong Luật KH&CN năm 2000.
Trong các biện pháp đổi mới quản lý KH&CN và đổi mới phương thức
hoạt động của các cơ quan nghiên cứu triển khai, quan trong là phải đổi mới
chế độ tài chính bao gồm:
- Xây dựng chính sách tài chính để thúc đẩy hoạt động KH&CN phù
hợp với đặc thù hoạt động KH&CN.
- Xây dựng chính sách tạo lập, đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho hoạt
động KH&CN; khuyến khích các trường đại học công lập đầu tư đổi mới
công nghệ, thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn do Ngân sách nhà nước
cấp, cũng như sự hỗ trợ của doanh nghiệp.
Trong thời gian gần đây, Chính phủ và một số trường đã thực hiện
nhièu chính sách và biện pháp nhằm phát triển hoạt động KH&CN. Tuy
nhiên, nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa
VII về định hướng chiến lược phát triển KH&CN thời kỳ công nghiệp hóa -
hiện đại hóa và nhiệm vụ đến 2015 đã đánh giá: “Chúng ta chưa có cơ chế,
chính sách phù hợp nhằm huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách cho phát

7
triển KH&CN ”. Thực tiễn cho thấy, đầu tư tài chính cho hoạt động
KH&CN còn quá thấp chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhu cầu vốn cho hoạt động KH&CN lớn, trong
khi vốn đầu tư cho KH&CN từ Ngân sách nhà nước tại Việt Nam có hạn,
nhưng chúng ta chưa có những chính sách, cơ chế đủ mạnh để thúc đẩy việc

sở sau:
1. Đổi mới cơ chế quản lý, các nhiệm vụ khoa học và công nghệ dựa
trên kết quả đầu ra nhằm tạo môi trường thông thoáng, giúp khơi nguồn và
phát huy sức sáng tạo khoa học trong đại học.
2. Nâng cao cơ hội tìm kiếm các hợp đồng nghiên cứu của các trường
đại học bằng cách phối hợp với các doanh nghiệp để có thể độc lập về cơ chế
tài chính bởi nghiên cứu khoa học cần được xây dựng trên cơ sở đặt hàng từ
phía tổ chức, cá nhân sử dụng và hưởng lợi kết quả của đề tài.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp định lượng: tác giả Luận văn thu thập số liệu sơ cấp
định lượng qua khảo sát thực tiễn.
- Phương pháp định tính: tác giả Luận văn đã tiến hành phỏng vấn sâu
(bằng cách gửi trước câu hỏi, trực tiếp nghe trả lời) các đối tượng:
+ Giảng viên, nghiên cứu viên
+ Nhà quản lý KH&CN
+ Nhà quản lý tài chính
- Phương pháp quan sát: tác giả Luận văn trực tiếp quan sát, thống kê
các thông số phục vụ đề tài Luận văn;
- Phương pháp phân tích.
- Kế thừa các nghiên cứu đã công bố: Luận văn sử dụng số liệu thứ cấp
từ các công trình khoa học đã công bố.
8. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các phụ lục danh mục tài liệu tham khảo,
các công trình đã công bố có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của tác giả,
Luận văn được kết cấu thành 3 chương:

9
Chương 1: Cơ sở lý luận về chế độ tài chính đối với hoạt động nghiên
cứu khoa học trong các trường đại học ở Việt Nam
Chương 2: Thực trạng chế độ tài chính đối với nghiên cứu khoa học

theo hệ thống tự chủ, có một truyền thống lâu năm và thực hành đánh giá
giảng viên thông qua cả cơ chế chính thức và không chính thức. Trước kia sự
phát triển nghề nghiệp của giảng viên được xem là trách nhiệm cá nhân, thì
hiện nay phát triển nghề nghiệp đang trở thành trách nhiệm có tính qui hoạch
của trường đại học.
Đối với một cơ sở giáo dục đại học, giảng dạy và NCKH là hai nhiệm
vụ chức năng cơ bản có quan hệ gắn bó biện chứng và hữu cơ với nhau, có
vai trò tác động qua lại lẫn nhau và định chế lẫn nhau thúc đẩy hoặc kìm hãm
sự phát triển của nhau. Để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo mỗi GV
phải không ngừng nâng cao chất lượng bài giảng mà yếu tố giữ vai trò quan
trọng trong nhà trường là phải đẩy mạnh hoạt động NCKH, ứng dụng các kết
quả nghiên cứu khoa học vào trong thực tiễn giảng dạy và đào tạo. Đội ngũ
giảng viên của các cơ sở giáo dục đại học được coi là lực lượng đi đầu, và
quyết định trong việc thực hiện các nhiệm vụ NCKH của các cơ sở giáo dục

11
đại học. Làm thế nào để tạo được động lực, nâng cao năng lực nghiên cứu
khoa học của đội ngũ giảng viên là vấn đề quan tâm của mọi cấp, mọi ngành
nói chung và của từng cơ sở giáo dục đại học nói riêng. Một trong những cách
làm có hiệu quả và được nhiều cơ sở giáo dục đại học áp dụng đó là đánh giá
hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên đại học. Một trong những
tiêu chí ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên đó
chính là chế độ tài chính. Trên thực tế, đã có nhiều công trình nghiên cứu chế
độ tài chính đối với hoạt động khoa học trong các trường đại học và các giải
pháp sử dụng hiệu quả nguồn vốn đó. Điều này cho thấy, vấn đề về chế độ tài
chính đối với hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung và hoạt động nghiên
cứu khoa học trong các trường đại học nói riêng cần tiếp tục được nghiên cứu
sâu sắc hơn; đặc biệt là những nghiên cứu khái quát kinh nghiệm thực tiễn từ
chính Học viện Tài chính.
1.2. Cơ sở lý luận

cả cuộc đời, hoặc nhiều thế hệ) để giải quyết các vấn đề khoa học.
- Công cụ lao động phục vụ cho hoạt động khoa học là hệ thống tri thức
khoa học, kĩ năng nhận thức và kĩ năng chuyên biệt, gồm các phương tiện kĩ
thuật phục vụ quá trình nghiên cứu, các kênh thông tin
- Sản phẩm của hoạt động khoa học cũng đa dạng và hết sức phong
phú, nó có thể phục vụ trực tiếp hay gián tiếp cho đời sống xã hội. Nét đặc
trưng của sản phẩm này là có đóng góp mới cho nhân loại dù ở các mức độ
khác nhau. Đó là hệ thống tri thức mới, phương pháp mới, cách làm mới có
tác dụng định hướng cho các lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau, góp phần đổi
mới hoặc cải tạo thực tiễn. [10]
1.2.2. Mục tiêu của hoạt động nghiên cứu khoa học trong các trường đại
học
Nghiên cứu khoa học là một hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra,
hoặc thử nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức đạt được từ các
thí nghiệm nghiên cứu khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự
vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương
tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn. Con người muốn làm nghiên cứu khoa
học phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu và cái chính là phải

13
rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà
trường. [7]
Luật KH&CN đã chỉ rõ: Trường đại học có nhiệm vụ tiến hành nghiên
cứu khoa học và phát triển công nghệ, kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa
học và sản xuất, dịch vụ khoa học và công nghệ, thực hiện nhiệm vụ nghiên
cứu cơ bản, nhiệm vụ khoa học và công nghệ ưu tiên, trọng điểm của Nhà
nước và nghiên cứu khoa học về giáo dục.
Với nhiệm vụ nói trên, mục tiêu của hoạt động khoa học và công nghệ
trong các trường đại học và cao đẳng đã được nêu rõ trong "Quy định về hoạt
động khoa học và công nghệ trong các trường đại học và cao đẳng trực thuộc

góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
+ Tạo điều kiện để nhà trường trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa,
khoa học của địa phương, vùng hoặc quốc gia.
Nhờ tăng cường chức năng nghiên cứu khoa học, các trường đại học
tạo được những ưu thế mạnh: phát triển trình độ đội ngũ giảng viên, nâng cao
chất lượng đào tạo nghiên cứu sinh, tăng các nguồn thu tài chính của nhà
trường và đặc biệt nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ là điều
kiện tốt nhất để nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ giảng dạy. Chính vì thế,
thực hiện tốt nghiên cứu khoa học chính là thực hiện tốt chiến lược quy hoạch
xây dựng mạng lưới các trường đại học trong cả nước. [10]
Tuy nhiên, ở các trường đại học của nước ta hiện nay dường như hoạt
động nghiên cứu khoa học mới chỉ là công việc “tay trái” của các giảng viên
cũng như của các sinh viên. Chính vì vậy với yêu cầu các trường đại học phải
là những trung tâm nghiên cứu khoa học, thậm chí đóng vai trò chủ đạo trong
một số lĩnh vực mũi nhọn của đất nước đang là một thách thức quá lớn đối
với các trường đại học. [11]
1.2.4. Đặc điểm của nghiên cứu khoa học tại các trường đại học ở nước ta
hiện nay
Nhiệm vụ trọng tâm của các trường đại học là đào tạo nguồn nhân lực
có chất lượng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Các
trường đại học của một quốc gia hình thành nên một hệ thống đào tạo bao
gồm hầu hết các ngành và các lĩnh vực khoa học và công nghệ, có nhiệm vụ

15
đào tạo nguồn nhân lực ở tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Ở
nước ta, do đặc điểm hình thành và phát triển, hệ thống các trường đại học tập
trung đại đa số các nhà khoa học có trình độ cao, được đào tạo từ nhiều nguồn
bao gồm trong nước và nước ngoài, hình thành nên đội ngũ các nhà khoa học
và công nghệ chủ chốt, cho phép thực hiện tốt sự kết hợp giữa công tác đào
tạo và nghiên cứu khoa học. Chính vì vậy, hoạt động khoa học và công nghệ

thông qua các chương trình đào tạo Tiến sĩ, các bài tập thực hành trong phòng
thí nghiệm, các công trình nghiên cứu có cơ hội giảm thấp chi phí nhờ lồng
ghép các mục tiêu, tận dụng tối đa các trang thiết bị và cơ sở hạ tầng hiện có.
+ Thông thường các nghiên cứu trong trường đại học được thực hiện
dưới sự chủ trì của các giáo sư có năng lực hoặc là các nhà khoa học đầu
ngành, với sự cộng tác của các nhà khoa học trẻ, các nghiên cứu sinh, các sinh
viên xuất sắc. Các kết quả nghiên cứu biểu hiện dưới dạng các phát minh
khoa học, các sáng chế kỹ thuật và công nghệ thông thường sẽ tạo nên những
ảnh hưởng lan tỏa, hoặc khơi dậy sự sáng tạo và phát triển ở các nhà khoa học
trẻ, các thế hệ nghiên cứu sinh và sinh viên. Đó chính là hiệu ứng gia tăng
theo cấp số nhân hoặc theo quy luật hàm số mũ cho các phát minh khoa học
và công nghệ. Chính điều này cũng góp phần làm cho chi phí nghiên cứu các
công trình khoa học được giảm thấp so với các công tình được nghiên cứu
ngoài phạm vi nhà trường.
Tuy nhiên, bên cạnh những đặc điểm có tính tích cực, hoạt động khoa
học và công nghệ trong các trường đại học ở nước ta cũng tiềm ẩn những yếu
tố hạn chế. Trước hết, đó là tác động của yếu tố tâm lý đó là một trong những
hạn chế của các nhà giáo dục (các nhà khoa học làm công tác giảng dạy) là có
thói quen đi nói lại những điều của người khác. Điều này có thể dẫn tới hạn
chế khả năng sáng tạo của nhà khoa học và chỉ có thể khắc phục hạn chế này
bằng việc không ngừng nâng cao bản lĩnh khoa học của các nhà giáo. Sau nữa
là trong điều kiện hạn chế về nguồn kinh phí cũng như nguồn nhân (như ở
nước ta hiện nay), vì những lý do khách quan nào đó các trường đại học phải
không ngừng mở rộng quy mô đào tạo ngoài mong muốn, theo đó các nhà
giáo thường phải chịu áp lực rất lớn về thời gian thực hiện nhiệm vụ giảng
dạy, ít có thời gian dành cho việc nghiên cứu, tiếp cận với thực tiễn, sưu tầm

17
tài liệu và cập nhật thông tin mới. Chính điều này cũng làm ảnh hưởng không
tích cực đến số lượng và chất lượng các công trình nghiên cứu trong trường

phục vụ mục tiêu điều tiết vĩ mô trong mỗi thời kỳ.
Mặc dù cơ chế tài chính có phạm vi tiếp cận rất rộng, nhưng luận án
này chỉ đi sâu xem xét các chính sách, biện pháp, hình thức huy động và sử
dụng nguồn tài chính cho hoạt động KH&CN trong các trường đại học.
1.3.3.1. Chính sách và biện pháp huy động nguồn tài chính đối với hoạt động
KH&CN trong các trường đại học.
Đây là bộ phận quan trọng nhất đối với cơ chế tài chính cho hoạt
động KH&CN trong các trường đại học. Do đặc điểm của hoạt động
KH&CN như đã nói trên, việc huy động nguồn tài chính bao gồm nhiều
kênh khác nhau, do vậy cần có nhiều chính sách và các biện pháp khác
nhau như:
- Chính sách và các biện pháp đầu tư nhà nước cho hoạt động KH&CN
- Chính sách và các biện pháp huy động vốn trong nước và nước ngoài
- Chính sách và các biện pháp về tín dụng
- Chính sách và các biện pháp về thuế đối với hoạt động KH&CN
- Chính sách và các biện pháp hình thành các quỹ tạo vốn phát triển
KH&CN,…
Trong hệ thống các chính sách biện pháp trên, chính sách và các biện
pháp đầu tư nhà nước cho hoạt động KH&CN có vai trò rất quan trọng. Hàng
năm, nhà nước xây dựng kế hoạch ngân sách cho hoạt động KH&CN. Kế
hoạch này dựa trên hai căn cứ. Một mặt, chỉ tiêu nghiên cứu, triển khai trong
năm, các nhu cầu đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, sửa chữa bổ sung
tài sản cố định, nhu cầu phát triển hoạt động nghiên cứu, nhu cầu đầu tư về
chiều sâu và nhu cầu đầu tư khác của các cơ sở nghiên cứu; mặt khác là dựa
vào khả năng của NSNN. Trên cơ sở khả năng ngân sách, nhà nước phê duyệt
ngân sách cấp cho hoạt động nghiên cứu, trong đó có các trường đại học. [8]
Ngân sách Nhà nước đầu tư cho hoạt động KH&CN nhiều hay ít phụ
thuộc vào hai nhân tố là yêu cầu về số lượng và chất lượng của hoạt động
KH&CN từ phía nhà nước; và khả năng NSNN cấp cho hoạt động KH&CN.


xuất càng tăng trưởng, doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi,

20
đóng thuế một cách đầy đủ, thì NSNN có thêm nguồn tài chính đầu tư cho
hoạt động KH&CN.
+ Tỷ lệ ngân sách nhà nước cấp cho hoạt động KH&CN của các trường
đại học. Nếu tỷ lệ đầu tư từ NSNN cao, thì nguồn tài chính đầu tư cho hoạt động
KH&CN trong các trường đại học cũng cao và ngược lại. Đến lượt nó, tỷ lệ đầu tư
từ NSNN cho hoạt động KH&CN trong các trường đại học phụ thuộc vào những
chính sách và tổ chức hoạt động KH&CN của nhà nước. Nếu nhà nước nhận thấy
các trường đại học có khả năng và điều kiện trong việc phát triển KH&CN phục
vụ phát triển kinh tế xã hội thì các trường đại học sẽ được nhà nước quan tâm và
ưu tiên đầu tư và ngược lại. Điều này giải thích vì sao có nước tỷ lệ đầu tư cho
KH&CN trong các trường đại học cao, nhưng trong khi đó, có nước tỷ lệ đầu tư
cho hoạt động KH&CN trong các trường đại học lại thấp.
Thứ hai, các chính sách và biện pháp tổ chức huy động nguồn tài chính
ngoài NSNNcho hoạt động KH&CN trong các trường đại học.
Việc huy động nguồn tài chính ngoài NSNN cho khoa học trong các
trường đại học xuất phát từ nhu cầu bức thiết của các đơn vị sản xuất kinh
doanh đặt ra và khả năng đáp ứng của các trường đại học. Nó mang tính thoả
thuận, tự nguyện giữa các cơ sở, các trung tâm nghiên cứu của trường đại học
với các doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân có nhu cầu về sử dụng sản phẩm
KH&CN của nhà trường cũng như lòng hảo tâm, từ thiện.
Quy mô huy động nguồn tài chính này tuỳ thuộc vào nhu cầu của xã
hội, các hình thức tổ chức huy động nguồn tài chính, cũng như tiềm lực đội
ngũ và khả năng phục vụ của những người tham gia các hoạt động KH&CN
trong các các trường đại học.
Nhìn chung, nguồn tài chính ngoài NSNN cho hoạt động KH&CN
trong các trường đại học chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, trong đó chủ yếu
là: Nhu cầu về sản phẩm KH&CN của dân cư, doanh nghiệp, các tổ chức xã

Thứ ba, sử dụng nguồn tài chính vào đầu tư xây dựng cơ sở vật chất
cho hoạt động KH&CN trong các trường đại học.
Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho hoạt động KH&CN phản ánh mối
quan hệ giữa nhà nước với các tổ chức hoạt động KH&CN. Muốn tiến hành

22
nghiên cứu, triển khai ứng dụng tiến bộ KH&CN vào thực tiễn, các cơ sở
nghiên cứu phải có cơ sở vật chất như văn phòng, phòng thí nghiệm, thư viện,
các tài liệu và phương tiện vật chất khác. Muốn có những điều kiện vật chất
này phải có chính sách đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho các tổ
chức KH&CN.
Trong điều kiện hiện nay, khi trình độ KH&CN trên thế giới biến đổi
nhanh chóng, đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật lại càng có tầm quan trọng đặc
biệt. Chẳng hạn, một cơ sở nghiên cứu không có được phòng thí nghiệm hiện
đại, không thể tạo ra sản phẩm đáp ứng được yêu cầu đổi mới kỹ thuật sản
xuất kinh doanh hiện nay.
Song đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật đòi hỏi một lượng vốn lớn, thời
gian thu hồi vốn lâu. Điều này đòi hỏi phải có sự hỗ trợ đầu tư của nhà nước.
Thiếu sự hỗ trợ này, các đơn vị hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, triển khai
khó có thể hoạt động có chất lượng được. [8]
Thứ tư, sử dụng nguồn tài chính để phát triển nguồn nhân lực cho hoạt
động KH&CN trong các trường đại học.
Đối với hoạt động nghiên cứu, bên cạnh nguồn tài chính, việc phát triển
nguồn lực có vị trí cực kỳ quan trọng. Bởi lẽ, con người là nhân tố hàng đầu của
lực lượng sản xuất. Kinh nghiệm thực tiễn chỉ ra, những cơ sở nào có đội ngũ cán
bộ KH&CN cao, hoạt động KH&CN ở đó sẽ mạnh hơn so với những cơ sở khác.
Với nguồn lực tài chính nhất định, nguồn nhân lực của KH&CN có ý nghĩa quyết
định cho hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và triển khai kết quả nghiên cứu. Chính
vì thế, phạm vi cơ chế tài chính cho hoạt động KH&CN trong các trường đại
học không chỉ bao gồm nguồn vốn sử dụng vào nghiên cứu các đề tài, các

có hiệu quả các nguồn tài chính đầu tư cho KH&CN trong nhà trường.

24
CHƢƠNG 2.
NHẬN DIỆN NHỮNG VƢỚNG MẮC TRONG CHẾ ĐỘ TÀI CHÍNH
ĐỐI VỚI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRONG CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
(NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH)

2.1. Tổng quan về hệ thống các trƣờng đại học ở Việt Nam
2.1.1. Hệ thống các trường đại học
Sau 23 năm đổi mới của đất nước (1986-2009) và 9 năm thực hiện
Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, giáo dục đại học nước ta đã từng
bước phát triển rõ rệt về quy mô, đa dạng về loại hình trường và hình thức
đào tạo.
Năm 1987 cả nước có 101 trường đại học và cao đẳng (63 trường đại
học chiếm 62%, 38 trường cao đẳng, chiếm 38%), đến tháng 9/2009 đã tăng
lên 376 trường đại học và cao đẳng, gấp 3.7 lần so với năm 1987, bao gồm
150 đại học và trường đại học và 226 trường cao đẳng.
Về loại hình trường và sở hữu, năm 1987 toàn bộ 101 trường đại học và
cao đẳng là trường công lập, không có trường ngoài công lập. Đến năm 1997
có 126 trường đại học và cao đẳng, trong đó có 15 trường đại học ngoài công
lập, đến tháng 9/2009 trong tổng số 150 đại học và trường đại học có 44
trường đại học ngoài công lập (29%), trong số 226 trường cao đẳng có 37
trường ngoài công lập (16%).
Từ năm 1998 đến nay (12 năm) đã có 33 trường đại học được thành lập
mới (2 trường công lập và 31 trường ngoài công lập), 54 trường đại học nâng
cấp từ trường cao đẳng (51 trường đại học công lập và 3 trường đại học ngoài
công lập). Cả nước có 35/63 tỉnh có thêm trường đại học mới, trong đó: 23
tỉnh có thêm 1 trường, 10 tỉnh có thêm 2-3 trường, riêng thành phố Hồ Chí

và Đại học Bách khoa Hà Nội chỉ có 34 công trình khoa học được công bố
trong danh sách, trong khi đó, của Đại học Quốc gia Xơ-un (Hàn Quốc) là
4.556 ấn phẩm khoa học, Đại học Bắc Kinh (Trung Quốc) là gần 3000 công
trình…

Trích đoạn Khái quát chung Tự chủ về tài chính Tự chủ về nhân lựckhoa học và công nghệ Giải quyết bài toán tự chủ, tự chịu trách nhiệm của Học viện Tài chính KHUYẾN NGHỊ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status