ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Nguyễn Thị Anh Hoa
Văn hóa môi trường trong hoạt động
du lịch miền núi việt nam –
nghiên cứu trường hợp sa pa và ba vì
LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH HỌC
HÀ NỘI - 2006
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TNMT - Tài nguyên môi trường
VHMT - Văn hóa môi trường
UBND - Uỷ ban nhân dân
UNEP -(United Nations Environmental Program): Chương
trình môi trường Liên Hợp Quốc.
IUCN -(International Union for Conservation of Nature):
Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1 :
VHMT trong du lịch
Tr.14
Hình 2 :
Cấu trúc của VHMT trong du lịch
Tr.15
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1
Bảng 2
: VHMT của nhóm du khách ở Sa Pa
: VHMT của nhóm các công ty lữ lành đưa khách đến
Sa Pa
Tr.43
Tr.44
Bảng 3
: VHMT của nhóm các cơ sở dịch vụ du lịch ở Sa Pa
Tr.46
Bảng 4
: VHMT của nhóm cộng đồng dân cư địa phương ở
Sa Pa.
Tr.47
Bảng 5
: VHMT của nhóm chính quyền địa phương và các cơ
Tr.1
2.
Mục tiêu, nội dung, phạm vi nghiên cứu
Tr.2
3.
Nội dung, kết cấu của luận văn
Tr.3
Chương 1: Văn hóa môi trường và vấn đề văn hóa môi
trường trong hoạt động du lịch miền núi Việt Nam
Tr.5
1.1
Văn hóa môi trường
Tr.5
1.2
Văn hóa môi trường trong du lịch
Tr.14
1.2.1
Khái niệm
Tr.14
1.2.2
Cấu trúc của văn hóa môi trường trong du lịch
Tr.15
1.2.3
Những tiêu chí của văn hóa môi trường trong du lịch
Tr.16
1.3
Đặc điểm của loại hình du lịch miền núi
Tr.19
1.3.1
3.1
Hiện trạng VHMT trong hoạt động du lịch tại Sa Pa
Tr.36
3.1.1
Điều kiện tự nhiên- kinh tế- văn hoá, xã hội
Tr.36
3.1.2
Hiện trạng VHMT tại Sa Pa
Tr.40
3.2
Hiện trạng VHMT trong hoạt động du lịch tại Ba Vì
Tr.50
3.2.1
Điều kiện tự nhiên- kinh tế- văn hoá, xã hội
Tr.50
3.2.2
Hiện trạng VHMT tại Ba Vì
Tr.53
Chương 4:Giải pháp nhằm phát triển văn hoá môi trường
trong du lịch tại Sa Pa và Ba Vì
Tr.60
4.1
Đánh giá tổng hợp và giải pháp về văn hóa môi trường
tại điểm du lịch Sa Pa
Tr.60
4.1.1
Đánh giá tổng hợp
Tr.60
4.1.2
môi trường tự nhiên, các giá trị văn hóa và điều kiện xã hội. Trong xu thế phát
triển xã hội hiện đại, đặc biệt ở các quốc gia phát triển, du lịch là một nhu cầu
không thể thiếu. Do những đòi hỏi khách quan đó mà du lịch ngày càng phát
triển với nhiều loại hình du lịch như: du lịch nghỉ dưỡng, du lịch văn hóa, du
lịch mua sắm, du lịch hội thảo, du lịch thể thao, du lịch thiên nhiên…
Du lịch đem lại sự thỏa mãn đa dạng cho du khách về nhu cầu hiểu biết
giải trí, cân bằng trạng thái tinh thần, thể lực sau những ngày lao động mệt nhọc
của nếp sống công nghiệp Tuy nhiên, trong một thời gian dài, việc phát triển
du lịch mới chỉ quan tâm đến việc xây dựng các khách sạn, nhà hàng, các sản
phẩm du lịch với mục đích thu hút du khách. Việc làm này đem lại một nguồn
lợi đáng kể, song cũng tiềm ẩn những tác động tiêu cực như sự hủy hoại các hệ
sinh thái và nguy cơ ô nhiễm môi trường, góp phần gia tăng các tệ nạn xã hội
như mại dâm, ma túy…, làm biến đổi các giá trị văn hóa truyền thống. Những
yếu tố đó tác động đến sự phát triển bền vững hoạt động du lịch.
Sapa và Ba Vì là hai điểm du lịch miền núi ngày càng thu hút được sự
quan tâm của du khách và các nhà đầu tư. Từ năm 1990 cho đến nay, sự phát
triển mạnh mẽ của du lịch đã mang lại một nguồn lợi không nhỏ về kinh tế cho
địa phương những cũng tạo ra nguy cơ xuống cấp về môi trường, văn hóa và xã
hội. Khi nghiên cứu về hoạt động du lịch ở hai điểm Sapa và Ba Vì cho thấy
hoạt động này đã có những ảnh hưởng xấu đến môi trường tự nhiên, xã hội và
văn hóa của người dân bản địa. Để hướng tới xây dựng Sapa và Ba Vì thành
những điểm du lịch hấp dẫn nhưng bền vững cần phải có những giải pháp phù
hợp. Đó chính la lý do đề tài: “ Văn hóa môi trường trong hoạt động du lịch
miền núi Việt Nam. Nghiên cứu trường hợp Sapa và Ba Vì” được lựa chọn
để làm luận văn tốt nghiệp này.
2
2.Mục tiêu, nội dung và phạm vi nghiên cứu
3. Nội dung, kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo nội dung chính
của luận văn được chia làm 4 chương:
Chương 1: Văn hóa môi trường và vấn đề văn hóa môi trường trong hoạt
động du lịch miền núi Việt Nam.
o Giới thiệu tổng quan về khái niệm VHMT.
o Phân tích những điều kiện hình thành VHMT trong thời hiện đại.
o Xác định nội dung, kết cấu và tiêu chí của VHMT trong hoạt động du lịch
miền núi
o Phân tích đặc điểm của loại hình du lịch miền núi Việt Nam và vai trò của
VHMT đối với loại hình du lịch này.
Chương 2: Phương pháp và quá trình nghiên cứu.
Giới thiệu các phương pháp và quá trình nghiên cứu của đề tài gồm:
o Phương pháp thu thập và xử lý thông tin.
o Phương pháp phân tích hệ thống
o Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
o Phương pháp phỏng vấn
o Phương pháp quan sát.
o Phương pháp kiến tạo chỉ số
Chương 3: Hiện trạng VHMT trong hoạt động du lịch tại Sa Pa và Ba Vì
o Giới thiệu khái quát về hai điểm du lịch mà đề tài nghiên cứu là Sa Pa và
Ba Vì (điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội )
o áp dụng phương pháp kiến tạo chỉ số để đánh giá VHMT Sa Pa và Ba Vì
trong thời điểm tháng 8 năm 2006.
Chương 4 : Những giải pháp phát triển văn hóa môi trường trong hoạt động
du lịch ở Sa Pa và Ba Vì.
o Dựa trên những đặc điểm của hoạt động du lịch miền núi Việt Nam, đưa
ra những giải pháp về phát triển VHMT đối với loại hình du lịch này.
4
trung tâm từ điển học như sau: “ Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị
vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử “[20,
tr.1062]
Định nghĩa về văn hóa có thể có rất nhiều, song chúng ta có thể xác
định được những nội dung cơ bản của văn hóa trong các mặt [3, tr.2]:
- Văn hóa vật chất.
- Văn hóa tinh thần (Nhận thức, ứng xử, tổ chức đời sống, văn học nghệ
thuật…)
Trong một góc nhìn rộng lớn thì tất cả những gì không phải là tự nhiên,
những gì do con người sáng tạo ra phục vụ chính bản thân con người và được
chọn lọc qua thời gian là văn hóa. Tuy nhiên những nhóm thành tựu văn hóa 6
mà chúng ta đã xác định ở trên thì không phải hoàn toàn độc lập, riêng rẽ mà
có sự ảnh hưởng, tác động qua lại và điều chỉnh lẫn nhau. Chẳng hạn, không
phải tất cả các thành tựu văn hóa vật chất đều đem lại lợi ích cho tất cả mọi
người ở các mức độ khác nhau. Văn hóa ứng xử sẽ làm chức năng điều chỉnh
lợi ích của các thành phần trong các mối quan hệ đó.
o Khái niệm Môi trường:
Thuật ngữ môi trường là một khái niệm đa nghĩa có thể dùng trong nhiều
trường hợp khác nhau. Trước hết “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và
yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau bao quanh con người, có
ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và
thiên nhiên” ( chương1, điều 1, Luật bảo vệ môi trường- 2005).
Môi trường sống của con người là một phạm trù hẹp hơn của khái niệm môi
trường. Theo chức năng, môi trường sống được chia làm ba loại [10,tr.9-10]:
Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố tự nhiên, vật lý, hóa học, sinh học
tồn tại khách quan bao quanh con người.
Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa con người với con người,
nghiệp trồng lúa nươc- một phương thức sản xuất mà sự thành bại phụ thuộc
rất nhiều vào thiên nhiên.tác giả Nguyễn Quang cho rằng “…thái độ biết ơn
thiên nhiên, yêu quý thiên nhiên- đó chính là VHMT ”[20,tr.10]. Tác giả cho
rằng VHMT có mặt trong nhiều lĩnh vực của đời sống ví như việc Bác Hồ
phát động tết trồng cây đã trở thành nét đẹp văn hóa làm phong phú thêm
VHMT. Việc phát động phong trào đường phố “xanh, sạch, đẹp” đó là việc
đưa VHMT vào cuộc sống. VHMT là thành tố của văn hóa đô thị, văn hóa
làng xã. Theo tác giả thì điểm quan trọng nhất trong VHMT chính là nhận
thức được tác động của con người (cá nhân và tập thể) đối với môi trường
sống trước mắt và lâu dài. Từ đó giáo dục ý thức tôn trọng bảo vệ thiên nhiên 8
bắt đầu bằng những hành động hết sức nhỏ bé đến những hành động mang
tính toàn cầu.
Trong cuốn “Một số vấn đề xã hội- nhân văn trong việc sử dụng hợp lý
tài nguyên và bảo vệ môi trường ở Việt Nam, 2001”, tác giả Hà Huy Thành
chủ biên đã dành trọn vẹn chương IV viết về văn hóa môi trường. Trên cơ sở
khái niệm văn hóa và khái niệm môi trường, tác giả đưa ra khái niệm VHMT:
“VHMT là tổng hợp những tri thức, giá trị, chuẩn mực, biểu trưng về việc
khai thác tài nguyên và ứng xử với môi trường của con người được đúc kết từ
kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình tương tác với tự nhiên”[23, tr.253].
Ngoài việc phân tích những điểm tích cực và điểm hạn chế của VHMT Việt
Nam truyền thống, và VHMT Việt Nam hiện đại, tác giả còn đưa ra vấn đề xã
hội hóa và thể chế hóa và hiệu lực hoá VHMT.
Việc xã hội hoá VHMT bao gồm hai quá trình, đó là giáo dục thế hệ trẻ
và tăng cường yếu tố tham gia của các cộng đồng vào việc sử dụng hợp lý tài
nguyên và bảo vệ môi trường.
Vấn đề thể chế hoá và hiệu lực hoá VHMT là một bộ phận hợp thành
không thể thiếu để VHMT có thể đi vào thực tiễn, phát huy tác dụng. Thực
thành một vấn đề trọng tâm, một hành động mang tính tự giác của cá nhân,
nhóm xã hội, gia đình, cộng đồng.”[8,tr.23]
Chúng ta có thể tìm hiểu VHMT dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng
thông thường đó là VHMT truyền thống và VHMT hiện đại. Khái niệm
VHMT hiện đại có thể coi là xuất hiện từ hội nghị thế giới lần thứ nhất về môi
trường năm 1972 tại Stockholm( Thụy Điển).
Về căn bản con người Việt Nam từ lâu đời đã ứng xử với môi trường
một cách hài hòa. Trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên có nhiều yếu tố 10
tích cực đối với việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Điều
này có thể lý giải đầu tiên là bằng văn hóa. Văn hóa truyền thống là hòa mình
vào thiên nhiên, nương theo tự nhiên nên ít gây ra sự tàn phá với môi trường
xung quanh. Trong môi trường xã hội, người cũng luôn hướng tới một sự hài
hòa trong các quan hệ thể hiện rõ trong lối sống trọng tình cảm, trọng sự hòa
hiếu “ Một sự nhịn là chín sự lành”, “ Dĩ hòa vi quý “…[23, tr.186]
Nền kinh tế nông nghiệp khiến cho người dân phụ thuộc vào thiên
nhiên, việc bảo vệ môi trường thiên nhiên giống như việc bảo vệ chính bát
cơm manh áo của họ. Chính vì vậy mà họ có thái độ tôn trọng, yêu quý thậm
chí là thần thánh hoá những yếu tố tự nhiên.Đó cũng chính là một điểm tích
cực trong VHMT truyền thống.
Quy mô dân số nhỏ và trình độ khoa học kỹ thuật phát triển còn thấp
cũng làm cho môi trường ít bị hủy hoại hơn. Con người bị gánh nặng dân số
buộc phải khai thác cạn kiệt thiên nhiên cũng như chưa đủ trình độ khoa học
kỹ thuật để chinh phục thiên nhiên theo ý muốn chủ quan của con người.
Rõ ràng VHMT truyền thống có những điểm tích cực, tuy nhiên vẫn
còn nhiều mặt hạn chế. Trước hết, lối sống thuận theo tự nhiên, nương nhờ
vào thiên nhiên chưa hẳn là kết quả của sự nhận thức cao về môi trường mà
còn do sự thiếu hiểu biết, thiếu phương tiện kỹ thuật để khai thác, chinh phục
từ trong suy nghĩ của con người. Có rất nhiều những nếp suy nghĩ không còn
thích hợp đã tồn tại và hằn sâu trong đầu óc của nhiều người. Những suy nghĩ
đó là một cản trở rất lớn trong việc hình thành một văn hóa ứng xử thân thiện
với môi trường:
Thứ nhất, nhiều người cho rằng con người là một sinh vật đặc biệt có
khả năng và có quyền chinh phục tự nhiên, bắt tự nhiên phải phục vụ mình.
Với suy nghĩ đó con người đã tách mình ra khỏi hệ sinh thái tự nhiên vốn là
một phần không thể thiếu của con người hay nói cách khác con người là một 12
phần của tổng thể tự nhiên đó. Con người tàn phá tự nhiên tức là tàn phá
chính bản thân mình.
Thứ hai, con người vẫn chưa nhận thức được sự hữu hạn của tài nguyên
môi trường. Vẫn có nhiều người quan niệm trái đất có khả năng vô hạn trong
việc tự làm sạch, vô tận về tài nguyên mà con người chỉ có mỗi một việc là
nghĩ cách khai thác và sử dụng càng nhiều càng tốt.
Thứ ba, con người Việt Nam chưa nhận thức được vai trò của cá nhân
trong việc bảo vệ thiên nhiên. Nhiều người suy nghĩ một mình mình thì không
thay đổi được gì cả nên họ cho rằng những hành động của họ để làm trong
sạch môi trường là điều quá nhỏ bé đến mức không cần phải làm nữa. Và họ
đã không hiểu rằng không thể thay đổi điều gì nếu không bắt đầu từ những cá
nhân. Và sự suy thoái môi trường trầm trọng như hiện nay chính cũng bắt
nguồn từ những cá nhân vô cùng nhỏ bé đó.
Thứ tư, đó là sự lạm dụng khoa học kỹ thuật. Ngày nay những thành
tựu kỳ diệu của khoa học kỹ thuật đã đem lại cho con người rất nhiều tiện ích.
Và trong số những phát minh sáng tạo đó không ít những phát minh đem lại
những hậu quả không tốt đối với môi trường.
Thứ năm, xu thế của con người hiện đại có quan điểm khá thực dụng.
Đối với họ hiện tại là quan trọng. Họ làm tất cả những gì có thể để họ có được
Môi trường sống của chúng ta ngày hôm nay phụ thuộc rất nhiều vào
những gì mà cha ông chúng ta đã ứng xử với môi trường và đến lượt chúng ta
cũng sẽ tác động trực tiếp đến môi trường sống của con cái chúng ta mai sau
bằng những hành động của mình ngày hôm nay. Nếu hôm nay chúng ta khai
thác thiên nhiên cạn kiệt, chạy theo cái lợi trước mắt thì tất yếu sẽ dẫn đến
mất cân bắng sinh thái và hậu quả nặng nề là những thiên tai, bệnh dịch sẽ
dáng xuống đầu con cháu. Tính đa dạng của văn hóa sẽ bị mất dần đi khi cộng 14
đồng địa phương biến đổi văn hóa bản địa để đáp ứng nhu cầu của khách du
lịch trong nền kinh tế thị trường.
Điều này đến nay hầu hết mọi người đã hiểu nhưng để tránh hậu quả
đó thì lại không dễ dàng vì tất cả những suy nghĩ và hành động đúng đắn như
ta vừa phân tích ở trên chưa trở thành nêp sống tự giác của mỗi cá nhân và
cộng đồng. Nói cách khác, VHMT ở nước ta vẫn ở trình độ rất thấp, chủ yếu
là tự phát chứ chưa phải là kết quả của một trình độ nhận thức cao về môi
trường. Toàn bộ việc suy nghĩ và hành động đúng đắn như chúng ta vừa phân
tích chính là việc hình thành khái niệm VHMT.
VHMT chính là : Nhận thức, thái độ và hành vi yêu quí, tôn trọng và
bảo vệ môi trường ( tự nhiên và xã hội) của con người trong quá trình tồn tại
và phát triển.
1.2 Văn hóa môi trường trong du lịch
1.2.1 Khái niệm:
Du lịch là một ngành có liên quan mật thiết với môi trường. Môi
trường tự nhiên và môi trường xã hội là điều kiện quan trọng để du lịch tồn tại
và phát triển. Những cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và kỳ thú, điều kiện khí
hậu, sự đa dạng sinh thái của tự nhiên…chính là mục đích của du khách, là cơ
sở để tạo nên một sản phẩm du lịch. Môi trường xã hội cũng là yếu tố quan
Hình 1: VHMT trong Du lịch.
1.2.2 Cấu trúc của VHMTtrong du lịch:
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp mà sự tồn tại và phát triển của
nó phụ thuộc vào sự phát triển hay suy thoái của tất cả các thành phần tham
gia vào hoạt động du lịch. Nói đến VHMT trong du lịch tức là chúng ta nói
đến VHMT của những thành phần tham gia vào hoạt động du lịch như: du
khách, các công ty lữ hành, các cơ sở phục vụ du lịch, chính quyền và cộng
đồng dân cư địa phương nơi diễn ra hoạt động du lịch. Vì vậy chúng ta có thể
xác định cấu trúc của VHMT trong du lịch gồm:
o VHMT của khách du lịch.
o VHMT của các công ty lữ hành.
o VHMT của các cơ sở phục vụ du lịch. 16
o VHMT của cộng đồng địa phương
o VHMT của chính quyền địa phương Hình 2: Cấu trúc của VHMT trong du lịch
17
(1) Tiêu chí Thẩm mỹ xanh: Nguyên tắc của tiêu chí này là: Thiên nhiên là
cái đẹp. Thẩm mỹ xanh dựa trên tiêu chuẩn thẩm mỹ là thiên nhiên.[
13,tr.142]
Nguyên tắc này được thể hiện trong việc lựa chọn tuyến điểm du lịch,
xây dựng các bài thuyết minh nhằm cổ súy cho vẻ đẹp tự nhiên đó, tuyên
truyền giáo dục du khách trân trọng và gìn giữ vẻ đẹp của thiên nhiên và văn
hóa của các cộng đồng dân cư địa phương nơi công ty du lịch đưa khách tới.
Hướng dẫn viên du lịch đồng thời phải là một tuyên truyền viên tích cực cho
văn hóa môi trường.
Đối với du khách thì việc ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội
trong hành trình du lịch cần thể hiện rõ thái độ tôn trọng, không làm tổn hại
đến các giá trị tự nhiên và văn hóa của cộng đồng dân cư địa phương nơi diễn
ra hoạt động du lịch như không bẻ nhũ đá, khắc tên lên hang động, xả rác bừa
bãi và vi phạm những điều cấm kỹ của người địa phương, mang những tệ nạn
đến cộng đồng dân cư nơi diễn ra hoạt động du lịch…
(2) Tiêu chí Tiêu thụ xanh : Nguyên tắc của tiêu chí này là : Tiêu dùng có
chất lượng nhưng tiết kiệm, không gây hại cho môi trường ( thân thiện với
môi trường), không vi phạm những quy định của luật pháp về bảo vệ môi
trường[13,tr.76]
Nguyên tắc này cần được thể hiện ngay từ những hành động rất cụ thể
như các công ty du lịch sử dụng giấy tái chế để in những tờ gấp quảng cáo,
sách hướng dẫn du lịch. Nội dung của các tờ quảng cáo đó đều phải có nhắc
nhở du khách về việc bảo vệ môi trường và khuyến khích khách hàng ủng hộ
các doanh nghiệp du lịch có chính sách kinh doanh thân thiện với môi trường.
Việc xử dụng các phương tiện chuyên chở hành khách bằng những
phương tiện không gây hại đến môi trường cần được khuyến khích như: xe 18