Khoa Sinh KTNN
Lớp K31B_Sinh
Lời cảm ơn
Bằng tấm lòng biết ơn sâu sắc tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận
tình, đầy trách nhiệm của thầy giáo TS. Hoàng Nguyễn Bình khi tôi thực hiện
đề tài nghiên cứu.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong tổ bộ
môn Động vật cũng như các bạn sinh viên trong nhóm đã có những đóng góp
quý báu cho đề tài nghiên cứu để tôi hoàn thiện tốt luận văn này.
Tôi xin cảm ơn Ban quản lý Vườn Quốc gia Ba Bể đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu.
Đồng thời tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cha, mẹ cùng toàn thể
gia đình.
Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2009.
Sinh viên
Vũ Đức Anh
Khoá luận tốt nghiệp
1
Vũ Đức Anh
Khoa Sinh KTNN
Lớp K31B_Sinh
Lời cảm ơn..............................................................................................................1
Lời cam đoan ..........................................................................................................2
Mục lục...................................................................................................................3
Giới thiệu chung .....................................................................................................4
Mở đầu............................................................................................................................... 6
1. Lý do chọn đề tài................................................................................................6
2. Mục tiêu..............................................................................................................6
3. ý nghĩa ...............................................................................................................6
Chương 1. Địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên cứu ................. 7
1.1. Địa điểm nghiên cứu .......................................................................................7
1.2. Thời gian nghiên cứu.......................................................................................7
1.3. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................7
Chương 2. Tổng quan đề tài nghiên cứu ......................................................... 8
Chương 3. Kết quả nghiên cứu và bàn luận.................................................. 9
3.1. Các điều kiện địa lý tự nhiên để phát triển du lịch thắng cảnh cảnh quan...9
3.2. Các đặc điểm về đa dạng sinh học ...............................................................11
3.2.1. Đa dạng sinh học với các loài động, thực vật.............................................11
3.2.2. Đa dạng về hệ sinh thái .............................................................................12
3.3. Các đặc điểm về phong tục tập quán, truyền thuyết lịch sử - văn hoá ..........14
3.3.1. Truyền thuyết lịch sử văn hoá .................................................................14
3.3.2. Phong tục tập quán .....................................................................................18
3.4. Thực trạng hoạt động du lịch Ba Bể ..............................................................21
3.4.1. Xưa: Thắng cảnh .......................................................................................21
3.4.2. Nay: Sinh thái ............................................................................................22
3.4.3. ưu nhược điểm của du lịch thắng cảnh và du lịch sinh thái.......................23
3.4.4. Gắn 2 hoạt động đó thành 1 tuor thắng cảnh - sinh thái - lịch sử - văn
cho kiến tạo địa chất của khu vực bởi thông thường địa hình caxtơ không tích
nước và vì vậy việc có một hồ xanh trên núi cao đã tạo nên một kỳ quan của
tạo hoá, thu hút sự khám phá, tìm hiểu không chỉ của riêng các nhà khoa học.
Nơi đây tập trung 5 dân tộc chính: Tày, Nùng, Dao, Kinh, Mông. Trong
đó dân tộc Tày chiếm tỉ lệ khá lớn 57,7% (chiếm 6,42% dân tộc Tày của tỉnh),
Dao chiếm 21,2% (chiếm 14,58% dân tộc Dao của tỉnh), Mông chiếm 12,6%,
Nùng-7,1% và Kinh-1.3%(chiếm 0,45% dân tộc Kinh của tỉnh). Với điều kiện
khí hậu mát mẻ, trong lành hoà cùng cảnh sống thanh bình của dân bản sứ, sự
độc đáo phong tục tập quán kết hợp với nhiều nét văn hoá của các dân tộc
khác nhau đã tạo nên một vẻ đẹp đặc sắc hiếm có cho vùng hồ.
Khoá luận tốt nghiệp
4
Vũ Đức Anh
Khoa Sinh KTNN
Lớp K31B_Sinh
Không chỉ thế, nơi đây còn có những thắng cảnh đẹp gắn nhiều di tích
lịch sử và những chiến công hào hùng của dân tộc như động Nả Poong, thôn
Bó Lù, xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể - địa điểm này cũng đã từng là trụ sở của
Đài tiếng nói Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Đến đây du
khách còn thưởng ngoạn cảnh đẹp huyền ảo của Động Puông, sự trong trẻo
mát lạnh của Ao Tiên, hay nét mạnh mẽ, cuồn cuộn của Thác Đầu Đẳng.
Bao quanh hồ là Vườn Quốc gia Ba Bể với hệ sinh thái đặc biệt bao
gồm: sông, suối, hồ, rừng, núi đá vôi. Xét góc độ sinh học, sinh thái học, khu
đây mới chỉ biết đến vẻ đẹp hoang sơ của hồ mà chưa đi sâu tìm hiểu phong
tục tập quán, những nét văn hoá gắn liền với nhiều sự tích lịch sử, huyền thoại
cũng là điều khiến nơi đây chưa thu hút được nhiều du khách. Đó chính là lí
do mà tôi chọn đề tài: Nghiên cứu việc gắn hoạt động du lịch văn hoá sinh
thái với hoạt động du lịch thắng cảnh tại vùng hồ Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
2. Mục tiêu:
- Tìm hiểu các điều kiện tự nhiên, sự đa dạng sinh học, đặc điểm về
phong tục tập quán, lịch sử văn hoá tại vùng hồ Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Tìm hiểu bản sắc và truyền thống văn hoá của người Tày vùng hồ Ba
Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Đề xuất gắn hoạt động du lịch văn hoá sinh thái, du lịch truyền thống,
du lịch lễ hội với du lịch thắng cảnh tại vùng hồ Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
3. ý nghĩa:
Đề tài này không chỉ có ý nghĩa thực tiễn là bảo tồn các loài động - thực
vật đang có nguy cơ tuyệt chủng mà còn có ý nghĩa đối với việc giáo dục,
nâng cao nhận thức cho người dân trong công tác bảo vệ và sử dụng bền vững
các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong khu vực Vườn Quốc gia Ba Bể.
Khoá luận tốt nghiệp
6
Vũ Đức Anh
Khoa Sinh KTNN
Lớp K31B_Sinh
Chương 1. Địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên
Khoa Sinh KTNN
Lớp K31B_Sinh
Chương 2. Tổng quan đề tài nghiên cứu
Đã có rất nhiều nghiên cứu về vùng hồ trên núi đá vôi ở Việt Nam,
nhưng vùng hồ Ba Bể với điều kiện khí hậu đặc biệt, lại nằm giữa núi rừng
Việt Bắc thơ mộng và đầy huyền thoại có người nói Hạ Long có núi trên
biển, Ba Bể lại có biển trên núi. Thật đặc biệt đối với các hồ nước ngọt tự
nhiên nằm trên địa hình caxtơ, trên thế giới các hồ nằm trên địa hình caxtơ
đều bị cạn hoặc chỉ có một mùa nước, nhưng riêng hồ Ba Bể bốn mùa đầy
nước, tồn tại mãi với thời gian, điều đó đã làm cho các nhà khoa học không ít
ngạc nhiên và cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hồ Ba Bể. Trong
đó có dự án Xây dựng các khu bảo vệ nhằm bảo tồn thiên nhiên trên cơ sở
ứng dụng quan điểm sinh thái cảnh quan đó là công trình của các tác giả
Pháp, công trình này đã nhận được sự hỗ trợ tài chính của chương trình phát
triển Liên Hợp Quốc (UNDP) và quy mô trên toàn cầu (GEF) với mục tiêu
Xây dựng mô hình về bảo tồn đa dạng sinh học và các nguồn tài nguyên
thiên nhiên tại Việt Nam và cũng có rất nhiều công trình khác nghiên cứu về
hồ Ba Bể. Nhìn chung các công trình nghiên cứu chủ yếu là về địa chất, khí
hậu của vùng hồ trên vúi đá vôi. Gần đây đã có công trình nghiên cứu về du
lịch vùng hồ Ba Bể, nhưng chủ yếu là tham quan thắng cảnh hoặc du lịch nghỉ
dưỡng mà chưa đi sâu vào nghiên cứu du lịch văn hoá sinh thái gắn với du lịch
thắng cảnh. Đây chính là điểm mới của đề tài mà tôi nghiên cứu.
Khoá luận tốt nghiệp
8
2,6 tỷ năm trước).
- Các hệ thống đứt gẫy: Có 4 hệ thống đứt gẫy chính là Tây Bắc - Đông
Nam, Đông Bắc Tây Nam, á vĩ tuyến và á kinh tuyến. Hệ đứt gẫy á kinh
tuyến thể hiện ở chính bản thân hồ Ba Bể và một loạt suối khác. Hẻm sông
Khoá luận tốt nghiệp
9
Vũ Đức Anh
Khoa Sinh KTNN
Lớp K31B_Sinh
Năng chảy qua phía Bắc hồ có nhiều đoạn đặt lòng theo hệ đứt gẫy á vĩ tuyến
các hệ đứt gẫy này đều có tuổi từ rất lâu.
- Cấu trúc địa phương: Bản thân Vườn Quốc gia Ba Bể và lân cận có cấu
trúc địa chất độc đáo, góp phần tạo nên hồ Ba Bể và giữ cho nước hồ khỏi tiêu
thoát mất, đó là một bồn trũng biến tạo với đáy là các thành tạo giầu sét cách
nước. Đá vôi ở khu vực Ba Bể nằm thoải, gần như ngang, bị biến chất hoa hoá
mãnh liệt, nằm trọn vẹn trong bồn trũng này.
3.1.2. Địa hình
Nếu xem các dạng địa hình, cảnh quan như là một dấu ấn là kết quả thể
hiện trên bề mặt của tác động tương hỗ giữa các quá trình phát triển địa chất
với điều kiện khí hậu thì quả là Vườn Quốc gia Ba Bể có những nét rất độc
đáo.
Khu vực Ba Bể có sự đa dạng, đan xen giữa các dạng địa hình cảnh quan
Karst và phi Karst (vùng không có đá vôi) mà các di sản thiên nhiên khác như
của Việt Nam cần được quan tâm hàng đầu như: Vườn Quốc gia Ba Bể với
nhiều sinh cảnh đẹp và đa dạng. [5]
3.2.1. Đa dạng sinh học với các loài động, thực vật
* Hệ thực vật: Kết quả bước đầu khảo sát hệ thực vật tại Vườn Quốc gia
Ba Bể đã thống kê được 1281 loài, thuộc 672 chi của 162 họ thực vật bậc cao
có mạch phân theo các nhóm khác nhau. Riêng thực vật đặc hữu ở đây còn có
loài trúc dây (Ampelocalamus sp), các loài gỗ quý hiếm: Nghiến, Đinh,
Lim.... Vườn Quốc gia Ba Bể được các nhà khoa học trong và ngoài nước đánh
giá là trung tâm đa dạng và đặc hữu cao nhất về loài Lan, không chỉ của Việt
Nam mà còn của toàn vùng Đông Nam á. ở đây có 182 loài Lan, một số loài
Lan là đặc hữu của vùng này. [1][3]
* Hệ động vật: Hệ động vật của Ba Bể rất đa dạng và phong phú, nó gồm
cả 3 nhóm động vật: trên cạn, dưới nước, biết bay, chính vì thế Hội nghị
chương trình đa dạng sinh học Quốc gia đã xếp hạng Vườn Quốc gia Ba Bể
vào loại A về đa dạng sinh học.
Qua khảo sát 553 loài động vật, trong đó có 81 loài thú, 27 loài bò sát, 17
loài lưỡng cư, 322 loài chim, 106 loài cá. 66 loài động vật quý hiếm và đặc
hữu, nhiều loài có trong sách đỏ Việt Nam và Thế giới như: Voọc mũi hếch
(Rhinopithecus avunuculus), cá Cóc (Paramesotriton deloustali) một loài ếch
nhái đặc hữu của Việt Nam và cũng là loài bị đe doạ cấp độ toàn cầu, hiện nay
chỉ còn hai nơi còn đó là vùng hồ Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn) và Tam Đảo (tỉnh
Vĩnh Phúc). [1][3][8]
Khoá luận tốt nghiệp
11
Vũ Đức Anh
dòng chảy 0,5m/s làm cho hồ Ba Bể vừa mang tính chất sông vừa mang tính
Khoá luận tốt nghiệp
12
Vũ Đức Anh
Khoa Sinh KTNN
Lớp K31B_Sinh
chất hồ: đáy hồ không bằng phẳng mà có nhiều núi ngầm, hang động ngầm đó
là nơi trú ngụ lý tưởng của các loài thuỷ sinh, động vật dưới nước.
Theo thống kê chưa đầy đủ có tới 1281 loài thực vật trong đó ngoài thân gỗ
(trên 600 loài). Các loài phong lan, địa lan, trúc dây (đây là loài đặc hữu của
vùng hồ).
3.2.2.3. Vùng giáp ranh
Hồ Ba Bể nằm giáp ranh hai huyện Ba Bể và huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn,
cách Thị Trấn Chợ Rã 18km. Ba Bể là một trong 20 hồ nước ngọt có trữ lượng
lớn nhất thế giới. Đây cũng là di sản thiên nhiên, nơi bảo tồn đa dạng sinh học
và là vùng quy hoạch du lịch sinh thái, là nguồn cấp nước, tiêu thoát nước cho
15 xã thuộc 2 huyện này.
Vườn Quốc gia Ba Bể giáp huyện Na Hang (tỉnh Tuyên Quang), có chung
vùng đệm với khu bảo tồn Na Hang (Tuyên Quang), xã Đồng Phúc (huyện
Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn). Nơi đây còn lưu giữ các nguồn gen quý hiếm:
- Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunuculus).
- Voọc đen má trắng (Semnopithecus f. francoisi).
Vùng giáp ranh này còn tập hợp được đầy đủ các nhóm động vật như:
bởi nguồn gốc và thời gian hình thành bí hiểm của nó. [9]
Truyền truyết về Hồ Ba Bể kể rằng:
Hồi đó, ở xã Nam Mẫu (huyện Ba Bể ngày nay) có mở một hội Vô
giá cúng Phật. Mọi người nô nức đi xem, ai nấy lo ăn chay niệm phật, thả cá,
thả chim... làm những việc cầu phúc trong mấy ngày hội. Hôm ấy xuất hiện ở
đám hội một bà già ăn mày. Người ta không biết mụ từ đâu lại. Bộ dạng thật
là gớm ghiếc: những mảnh vải vá víu của mụ không đủ che tấm thân gày còm
lở loét. Mùi hôi thối xông ra rất khó chịu. Đến đâu mụ cũng thềo thào mấy
câu: Đói lắm các ông các bà ơi. Rồi cầm cái rá, mụ giơ ra bốn bề đầy vẻ
cầu khẩn.
Nhưng mãi đến chiều, người đàn bà đó vẫn chả được tí gì. Đi đâu mụ
cũng bị xua đuổi. Bọn thanh niên cho mụ là hủi nên trốn như trốn dịch. Hễ
thấy mụ là họ lại xô nhau chạy đi chỗ khác. Các bà thì rất bực tức. Họ ngừng
ngay tiếng nam mô Phật... và quay ra mắng xả vào mặt mụ. Cuối cùng, bọn
hương lý sai tuần phủ đuổi mụ đi. Mụ không thể chịu được những trận mưa roi
của bọn tuần phủ, đành phải lê mình ra khỏi đám hội.
Chiều, người đàn bà ấy tiến vào xóm, nhưng cũng vẫn như ở đám hội,
vào nhà nào mụ cũng bị xua đuổi. Mấy nhà giàu có đóng chặt cửa lại, thả chó
Khoá luận tốt nghiệp
14
Vũ Đức Anh
Khoa Sinh KTNN
Lớp K31B_Sinh
Vũ Đức Anh
Khoa Sinh KTNN
Lớp K31B_Sinh
Quả nhiên, tối hôm đó giữa đám hội náo nhiệt, lúc thiện nam tín nữ
đang tấp nập lễ bái thì tự nhiên có một dòng nước từ dưới đất phun lên gay
chính giữa đàn tràng, nước ngày một phun mạnh làm vỡ dần đất ở xung
quanh. Người ta ngơ ngác không biết thế nào, tưởng là phép Phật hiện hữu
nên lại càng vái lấy vái để. Chỉ trong nháy mắt, nước đã ngập bằng một cái
ao. Thấy thế, mọi người hoảng hốt bỏ cả lễ bái, đua nhau chạy. Nhưng họ
không thể chạy được nữa, ở dưới chân họ đất nứt nẻ, rung động hất mọi người
ngã xuống. Bỗng chốc một tiếng ầm dữ dội phát ra, đất đá, nhà cửa, người
vật đều chìm nghỉm, nước tung toé mù trời. Một con giao long to lớn từ mặt
nước hiện ra bay vòng quanh xã Nam Mẫu. Trong khi đó thì nền nhà, chuồng
lợn, chuồng gà của mẹ con người đàn bà từ thiện kia mỗi lúc một cao hơn.
Đau xót trước cảnh nước lụt, hai mẹ con đem hai mảnh vỏ trấu ra. Vừa đặt
xuống nước, hai mảnh vỏ trấu liền biến ngay thành hai chiếc thuyền. Thế rồi
mặc gió, mặc mưa, họ chèo đi mọi nơi, cố sức vớt những người bị nạn.
Chỗ đất sụt ấy ngày nay là hồ Ba Bể ở Bắc Kạn, còn cái nền nhà ấy là
một hòn đảo nhỏ trong đó, người địa phương gọi là Gò Giả Mải.
(Theo Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi)
Đến nay ở huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng vẫn còn một xã Nam Ty
với câu truyền miệng Nam Ty ni Nam Mẫu tiếng Tày có nghĩa là Nam Ty
từ Nam Mẫu tới (xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn), câu nói đó rất có
thể quan hệ với biến cố khủng khiếp nêu trên.
Đến nơi đây du khách không chỉ thấy vẻ đẹp hoang sơ mà còn muốn
- Tết cơm mới (10/10)
- Tết tiễn Táo Quân vào 23 tháng chạp
Lễ hội cổ truyền:
Đặc trưng cơ bản nhất của lễ hội cổ truyền là hội Xuân - hội Lồng Tổng
(dịch sát nghĩa là xuống đồng - cầu mùa).
Hội Xuân Ba Bể là lễ hội Lồng Tổng lớn nhất của huyện Ba Bể, tuỳ từng
năm có thể là do xã hoặc do huyện tổ chức, hội Xuân được tiến hành vào ngày
mùng 9 10 11 tháng giêng âm lịch hàng năm. Du khách đến hồ Ba Bể du
lịch đúng dịp hội Xuân sẽ được chứng kiến rất nhiều hoạt động mang đậm bản
sắc dân tộc Tày nơi đây.
Đặc sắc và đáng chú ý nhất trong hệ thống trò chơi dân gian tổ chức tại lễ
hội Lồng Tổng là múa sư tử, tung còn, đuổi vịt, đua thuyền độc mộc. Các
Khoá luận tốt nghiệp
17
Vũ Đức Anh
Khoa Sinh KTNN
Lớp K31B_Sinh
làn điệu lượn giao duyên của các đôi trai gái có thể kéo dài tới lúc gần mặt trời
lặn.
Mỗi khi tàn cuộc người ta lại rủ khách về bản vui chung dưới mái ấm của
nếp nhà sàn trong men rượu mùa xuân. Người ta mời nhau cơm rượu, chúc
phúc cho nhau, trao cho nhau cái nghĩa, cái tình e ấp và thắm nồng của làng
bản. Các cuộc lượn đối đáp, giao duyên tuỳ từng hoàn cảnh cụ thể mà có thể
Khoa Sinh KTNN
Lớp K31B_Sinh
Lễ cưới là một nghi lễ quan trọng, mang đậm tính nhân văn. Gắn kèm các
yếu tố thiêng liêng, nó không chỉ đánh dấu sự gắn kết giữa hai người nam và
nữ với nhau mà nó còn là sự minh chứng cho quan hệ giữa hai người khác giới
với nhau. Lễ cưới là một sự thông báo đầy đủ và trang trọng của đôi trai gái
với mọi người trong gia đình, trong làng bản rằng họ đã chính thức trở thành
vợ chồng.
Thủ tục hôn lễ của người Tày cơ bản có bốn bước:
1. Lễ dạm ngõ (Sham lùa).
Lễ dạm ngõ bao gồm: 1 con gà trống, 1 chai rượu, 2 ống gạo và trầu,
cau đến nhà gái. Nếu nhà gái không thịt con gà là có trục trặc, nếu nhà
gái nhận lời sẽ tin cho nhà trai biết sau.
2. Lễ so tuổi (Âu bâng mình)
Lần này là đi lấy lá số, nhận lời (pây au mỉnh, au cằm, rặp cằm) và nhận
với nhà gái bản lục mệnh (ngày sinh, tháng đẻ,) để xem khớp mệnh
đôi trai gái. Nếu đôi trẻ hợp số mệnh còn gọi là (páo mỉnh hom).
3. Lễ đính hôn - Tiểu lễ (Bái cáy khai)
Nhà trai cho người đến đặt trầu cau (mai mjầu mác), nhà gái làm cỗ
mời họ hàng nội ngoại, tiếp đại diện nhà trai và trong bữa ăn đó bàn về
sính lễ, thách cưới như: tiền, thịt lợn, rượu, gạo để nhà trai biết số
lượng mà chuẩn bị cho chu đáo. Sau lễ này đôi trai gái coi như đã thành
vợ chồng có thể đi lại cả hai bên gia đình.
4. Lễ cưới - Đại lễ (Bái cải)
Trước ngày cưới đại diện nhà trai dẫn đoàn khiêng lợn, gánh gạo,
rượu, đôi gà (cáy toọng mu) sang nhà gái (hai đầu đòn khiêng quấn giấy
đỏ) chuẩn bị bữa tiệc cưới.
Đoàn đi đón dâu phải có quan làng (quan lang) là người đã có vợ con,
dâu ra thắp hương lễ lạy tổ tiên, ông bà, cha mẹ thì người gốc họ hoặc
người cúng sẽ cúng báo lên tổ tiên. Nếu gia đình có cụ già thì cụ chúc
mừng và căn dặn vài lời (thắng lùa lồng lảng) rằng cháu gái phải ăn ở
đúng đạo nghĩa làm dâu để gia đình hạnh phúc rồi cầm nón đội cho cô
dâu cô dâu cầm theo 3 nén hương cùng đoàn đón dâu ra đến ngõ cắm
hương rồi cùng đoàn về nhà chồng, không được ngoái lại.
Đoàn đưa dâu có pá mẻ (chị của mẹ) là người có chồng con, nói năng
lịch thiệp, biết ứng xử mọi tình huống, biết hát thơ cưới và hai cô gái phù
dâu (lùa xếp, lùa tôi).
Khi đến nhà chồng người ta làm lễ tẩy uế ngay ở chân cầu thang,
dựng bên cạnh là chiếc bừa, cúng xong cô dâu đạp đổ chiếc bừa hoặc cối
Khoá luận tốt nghiệp
20
Vũ Đức Anh
Khoa Sinh KTNN
Lớp K31B_Sinh
giã gạo rồi cùng đoàn bước lên cầu thang vào nhà. Khi pá mẻ dẫn cô dâu
vào buồng thì một phụ nữ trong họ, có đủ chồng con, hoà thuận, có cuộc
sống khá giả trải chiếu sẵn và cùng pá mẻ, phù dâu giăng mùng, màn.
Quan làng hát bài mời trải chiếu, giăng mùng, màn, chăn gối trong lúc
họ hàng hoan hỉ tiệc rượu thì phù dâu, phù rể hát đơn ca để đối đáp, chúc
mừng họ hàng, gia tiên làm cho lễ cưới thêm vui vẻ, long trọng và có ý
nghĩa nhân văn.
Sau đó, gia đình làm lễ cúng giỗ 40 ngày, 100 ngày và 3 năm. Trước đây,
thường để tang 3 năm mới mãn tang, nhưng ngày nay họ thường để khoảng
một năm là nãm tang, riêng đối với mẹ phải đủ 3 năm.
Đến ngày giỗ chạp người ta kiêng không trồng trọt, làm nhà, cưới xin và
đặc biệt kiêng gọi đến tên người chết.
3.4. Thực trạng hoạt động du lịch Ba Bể
3.4.1. Xưa: Thắng cảnh
Trước kia du khách đến với hồ Ba Bể chủ yếu vì thắng cảnh đẹp, một hồ có
sức chứa rất lớn (90 triệu m3), với nhiều hang động lung linh, huyền ảo và các
đồi núi đá vôi đồ sộ trong địa hình caxtơ.
Đến nơi đây du khách có thể tìm thấy vẻ đẹp mà thiên nhiên ban tặng cho
hồ Ba Bể như dạo chơi bằng thuyền độc mộc xuôi theo dòng sông Năng chẳng
mấy du khách sẽ đến được Động Puông: đây thực sự là một kỳ quan thiên tạo
với vòm cao hàng chục mét, dài hàng trăm mét, trong ánh sáng mờ ảo làm du
khách liên tưởng các cột nhũ đá như những cột tiền sảnh của lâu đài nguy nga
tráng lệ, những tua nhũ đá từ vòm hang rủ xuống trông khẳng khiu như những
cành cây qua mùa thay lá.
Xuôi dòng sông Năng, đến với Thác Đầu Đẳng bọt tung trắng xoá đầy dữ
dằn và thơ mộng người ta vẫn chưa đủ năng lực khám phá về thác. Chắc chắn chỉ nhìn lượng nước trên mặt thác và tính lưu lượng từ sông Năng và hồ đổ ra,
người ta cũng biết đó là thác ngầm. Những đứt gãy địa hình caxtơ có thể đã
tạo thác ngầm như thế.
Đến nơi đây du khách không thể không đến Ao Tiên, trên quãng đường ẩm
ướt bởi hơi núi, hương rừng chừng 100m từ bờ hồ vào ao. Ao Tiên hình tròn,
rộng hơn 1000 m2, cách biệt độc lập với hồ không có nguồn nước chảy vào
hay thoát ra. Nơi đây tương truyền rằng đây là nơi ngày xưa các nàng tiên trên
trời thường xuống tắm và chơi cờ.
Khoá luận tốt nghiệp
- Xét về góc độ sinh học, sinh thái học, khu vực này là khu vực có độ đa
dạng sinh học cao do vừa có hệ động - thực vật núi đá vôi điển hình ở vùng
Đông Bắc, vừa có hệ sinh thái kiểu hồ tự nhiên khá rộng lớn ở vùng núi.
Vùng hồ: chính điều kiện địa hình chia cắt phức tạp cùng với hệ thống thuỷ
vực phong phú là điều kiện thuận lợi để hệ sinh vật ở cạn cũng như ở nước
phát triển phong phú cả số lượng lẫn thành phần loài.
Khoá luận tốt nghiệp
23
Vũ Đức Anh
Khoa Sinh KTNN
Lớp K31B_Sinh
- Ngoài những di sản quý giá của thiên nhiên, rừng - hồ còn chứa đựng
những nguồn gen quý của hệ động thực vật như: Trúc Dây (Ampelocalams
sp), Cá Cóc (Paramesotriton deloustali).
=> Những giá trị mà địa chất, địa mạo trên vùng núi đá vôi và vùng hồ đã
tạo nên một khu du lịch sinh thái hấp dẫn du khách đến với hồ Ba Bể. Hiện
nay khu du lịch sinh thái này cũng đã có những dự án chương trình phát triển
khu du lịch sinh thái như: dự án của các tác giả Pháp, công trình này đã được
sự hỗ trợ của Liên Hợp Quốc (UNDP) và trên quy mô toàn cầu với (GEF),
chính ngay từ ngày đầu mới thành lập tỉnh (1997) Bắc Kạn cũng đã có chủ
chương phát triển khu du lịch sinh thái hồ Ba Bể.
3.4.3. ưu nhược điểm của du lịch thắng cảnh và du lịch sinh thái
* ưu điểm:
Ba Bể (Bắc Kạn), Tam Đảo (Vĩnh Phúc).
* Nhược điểm:
- Hiện tại du khách đến đây mới chỉ biết đến thắng cảnh đẹp là chính như
tham quan, nghỉ dưỡng thì các tour du lịch rất đơn lẻ và thiếu hấp dẫn.
- Nay đã mở rộng thêm hoạt động du lịch sinh thái nhưng lại chưa quan
tâm đến sự đa dạng sinh học và tìm hiểu xem rừng nguyên sinh còn nhiều hay
ít.
- Với lý do thắng cảnh đẹp mà bỏ bớt truyền thuyết lịch sử văn hoá và
phong tục tập quán. Nên du khách đến đây còn rất ít chính vì thế mà chưa tạo
được sự lôi cuốn và hấp dẫn với tiềm năng vốn có của vùng hồ.
- Đây còn là nơi cư trú của các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Mông, Kinh. Sinh
sống trong Vườn Quốc gia Ba Bể chủ yếu là dân tộc Tày và dân tộc Mông.
Với việc có 19714 dân cư sinh sống rải rác trong Vườn Quốc gia Ba Bể đang
là trở ngại cho công tác bảo tồn cũng như công tác phát triển kinh tế xã hội
cho người dân.
Đối với người dân cư trú ở Vườn Quốc gia Ba Bể và các vùng phụ cận nền
kinh tế chủ yếu của họ là sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên do gắn với yếu tố
môi sinh, môi trường nên nhiều hộ gia đình vùng hồ Ba Bể và ven lưu vực các
con sông, suối còn có thêm nguồn lợi đáng kể từ việc đánh bắt thuỷ sản. Cá
biệt một số hộ gia đình coi đây là nguồn lực chính. Tuy vậy đây cũng là nhân
tố nhiều khi do các yếu tố khách quan đem lại. Các hộ gần sông, hồ thường
gặp thiên tai, lũ lụt nên lương thực dùng để đảm bảo, để mưu sinh họ buộc
phải tận dụng nguồn lợi từ mặt nước. Đó chính là nguyên nhân làm cho hệ
Khoá luận tốt nghiệp
25
Vũ Đức Anh