Nghiên cứu về kiến thức bản địa của một số cộng đồng người Mông trong canh tác đất dốc ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn - Pdf 22

Văn Hữu Tập Luận văn Thạc sỹ khoa học
Nghiên cứu về kiến thức bản địa của một số cộng đồng ngời Mông
trong canh tác đất dốc ở huyện Ba Bể, tỉnh bắc Kạn
1

Mở đầu
Mở đầuMở đầu
Mở đầu 1. Lý do chọn đề tài
1. Lý do chọn đề tài1. Lý do chọn đề tài
1. Lý do chọn đề tài Theo các tài liệu đã nghiên cứu, dân tộc Mông là dân tộc di c vào Việt Nam
khoảng hơn 300 năm về trớc. Nằm trong một quốc gia đa dân tộc nên ngời Mông
đợc coi là một trong các thành viên quan trọng trong cộng đồng các dân tộc thiểu
số ở Việt Nam. Đặc điểm của họ cũng có những nét khác biệt, c trú chủ yếu ở vùng
cao gồm hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc trong một địa bàn khá rộng dọc theo
biên giới Việt - Trung, Việt - Lào, trong đó tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc Đông
và Tây Bắc Việt Nam [11].
Ngời Mông cũng giống nh các dân tộc thiểu số vùng cao khác, họ canh tác
chủ yếu phụ thuộc vào tự nhiên. Họ sống tách biệt trong một khoảng thời gian dài
đã hình thành một hệ kinh nghiệm trong canh tác, khai thác và ứng phó một cách
khôn khéo với tự nhiên. Đã có nhiều chơng trình phát triển cộng đồng, tái định c
không thành công. Một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại đó là bỏ qua
phong tục tập quán, thói quen canh tác hay nói đúng hơn là bỏ qua kiến thức bản địa

2. Mục tiêu và nội dung của luận vă
2. Mục tiêu và nội dung của luận vă2. Mục tiêu và nội dung của luận vă
2. Mục tiêu và nội dung của luận văn
nn
n
* Mục tiêu:
* Mục tiêu:* Mục tiêu:
* Mục tiêu: Tìm hiểu hiện trạng và vai trò hệ thống kiến thức bản địa của một số cộng
đồng ngời Mông trong sử dụng đất dốc ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn trên cơ sở tiến
hành điều tra, nghiên cứu cụ thể tại hai xã Nam Mẫu và Cao Thợng.
* Nội dung:
* Nội dung:* Nội dung:
* Nội dung: - Điều tra hiện trạng, phân tích số liệu hệ thống kiến thức bản địa của ngời
Mông trong canh tác đất dốc ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Đánh giá vai trò của hệ thống kiến thức bản địa đó trong sử dụng và bảo vệ
đất dốc.
- Đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy u điểm của hệ thống kiến
thức bản địa đó hớng tới canh tác bền vững trên đất dốc.
* Cấu trúc luận văn:
* Cấu trúc luận văn:* Cấu trúc luận văn:
* Cấu trúc luận văn:
1.1.1. Khái niệm kiến thức bản địa
1.1.1. Khái niệm kiến thức bản địa1.1.1. Khái niệm kiến thức bản địa
1.1.1. Khái niệm kiến thức bản địa Kiến thức bản địa (Indigenous knowledge), còn đợc gọi là kiến thức truyền
thống (Traditional knowledge) hay kiến thức địa phơng (Local knowledge) [15].
Cả ba khái niệm trên đợc coi nh gần đồng nghĩa.
Kiến thức bản địa là hệ thống kiến thức của các dân tộc bản địa, hoặc của một
cộng đồng tại một khu vực cụ thể nào đó. Nó tồn tại và phát triển trong những hoàn
cảnh nhất định với sự đóng góp của mọi thành viên trong cộng đồng (ngời già, trẻ,
đàn ông, phụ nữ) ở một vùng địa lý xác định (Louise G.1996). Thuật ngữ này đợc
Robert Chambers dùng đầu tiên trong một ấn phẩm phát hành năm 1979. Tiếp theo
đó Brokensha và D.M. Warren sử dụng vào năm 1980 và tiếp tục phát triển cho đến
ngày nay.
Khác với kiến thức hàn lâm (Academic Knowledge), những kiến thức đợc
hình thành chủ yếu bởi các nhà thông thái, đợc hệ thống hoá và truyền lại qua sách
vở. Các kiến thức bản địa đợc hình thành trực tiếp từ lao động của mọi ngời dân
trong cộng đồng, đợc hoàn thiện dần dần và truyền thụ cho các thế hệ tiếp sau bằng
truyền khẩu trong gia đình, trong thôn bản, hoặc thể hiện trong ca hát, ngạn ngữ,
trờng ca, tập tục[15]
Khái niệm kiến thức bản địa bao hàm rất nhiều lĩnh vực liên quan đến sản xuất
nông lâm nghiệp, quản lý tài nguyên và quản lý cộng đồng. Ngoài những kiến thức
về văn hoá nh âm nhạc, tín ngỡng, đạo đức thì các nội dung nghiên cứu sau đây
thờng đợc đề cập [15]:
Kiến thức v
Kiến thức vKiến thức v
Kiến thức về trồng trọt:

Kiến thức về tổ chức cộng đồng và truyền thụ kinh nghiệm cho con cháu:
ền thụ kinh nghiệm cho con cháu: ền thụ kinh nghiệm cho con cháu:
ền thụ kinh nghiệm cho con cháu: Đó là
các hình thức tổ chức của cộng đồng, các tập tục, hơng ớc nhằm đảm bảo các hoạt
động sản xuất và duy trì nền văn hoá truyền thống
Có thể nói kiến thức bản địa bao gồm hầu hết các khía cạnh của sản xuất và tổ
chức cộng đồng của ngời bản xứ. Phần lớn các kiến thức bản địa có khả năng thích
ứng cao với điều kiện môi trờng rất đa dạng của địa phơng vùng cao và gắn liền
với nền văn hoá riêng của từng dân tộc.
1.1.2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu1.1.2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu * Nghiên cứu kiến thức bản
* Nghiên cứu kiến thức bản* Nghiên cứu kiến thức bản
* Nghiên cứu kiến thức bản địa trên thế giới:
địa trên thế giới: địa trên thế giới:
địa trên thế giới: Kiến thức bản địa chỉ mới thực sự đợc các nhà khoa học và quản lý quan tâm
đến trong vài thập kỷ gần đây, khi nhiều quốc gia phải nỗ lực tìm ra phơng hớng
để đảm bảo cho sự phát triển bền vững.
Kiến thức bản địa ngày càng có vai trò quan trọng trong các dự án phát triển
nông thôn, đã có rất nhiều các công trình khảo sát, nghiên cứu về kiến thức bản địa
ở hầu hết các nớc trên thế giới. Một công trình nghiên cứu ở châu Phi, O.D.Atteh
(1992) đã coi kiến thức bản địa là chìa khoá cho sự phát triển ở cấp địa phơng. Các
chuyên gia giàu kinh nghiệm về phát triển nông thôn nh R.Chambers và
D.M.Warren là những ngời có nhiều đóng góp cho lĩnh vực nghiên cứu kiến thức

dự án, chơng trình nghiên cứu áp đặt từ trên xuống, do đó đã có nhiều dự án,
chơng trình thất bại. Đến cuối thập kỷ 80, Robert Chambers, Gordon Conway và
nhiều nhà nghiên cứu khác đã xây dựng phơng pháp đánh giá nhanh có sự tham gia
của nguời dân - PRA (Participatory Rapid Appraisal) từ phơng pháp RRA nh:
RRA chủ đề, RRA giám sát, RRA thăm dò, RRA cùng tham gia Trong đó, RRA
cùng tham gia là cơ sở và là cầu nối giữa RRA sang PRA. PRA ban đầu đợc áp
Văn Hữu Tập Luận văn Thạc sỹ khoa học
Nghiên cứu về kiến thức bản địa của một số cộng đồng ngời Mông
trong canh tác đất dốc ở huyện Ba Bể, tỉnh bắc Kạn
6

dụng rộng rãi ở ấn Độ, Kenya vào năm 1988. So với RRA, PRA có các thuận lợi
sau: PRA cổ vũ sự tham gia của ngời dân, hỗ trợ một cách độc lập cho các nghiên
cứu kiến thức bản địa, PRA còn có tác dụng giáo dục và xây dựng phẩm giá con
nguời (bằng sự khuyến khích, giảng giải cho cán bộ về kiến thức của mình, dân làng
sẽ tự tin hơn về giá trị và địa vị của mình), PRA là thích hợp và sáng tạo (đặc điểm
ít bị trói buộc của PRA sẽ nuôi dỡng những phát minh, sáng tạo của ngời
dân).[12]
* Nghiên cứu kiến thứ
* Nghiên cứu kiến thứ* Nghiên cứu kiến thứ
* Nghiên cứu kiến thức bản địa ở Việt Nam:
c bản địa ở Việt Nam:c bản địa ở Việt Nam:
c bản địa ở Việt Nam: Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, kiến thức của nhân dân
trên toàn quốc đã có sự giao lu rộng rãi và thay đổi lớn. Sự di c hợp pháp và bất
hợp pháp đã tạo ra sự đan xen nhiều dân tộc khác nhau trên cùng một khu vực nhỏ.
Phần lớn cán bộ của Việt Nam xuất thân từ nông thôn, hoặc có thời gian dài ở nông
thôn, miền núi. Đây là một thuận lợi lớn trong nghiên cứu kiến thức bản địa, nhờ có

phơng pháp này và yếu tố văn hoá (phong tục tập quán, ngôn ngữ địa phơng)
khi xây dựng các chơng trình phổ cập và đa ra các giải pháp khoa học hiện đại
vào cộng đồng, nghĩa là để phổ cập và chuyển giao thành công các kỹ thuật sản xuất
nông lâm nghiệp của cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, phải dựa trên những kinh
nghiệm sẵn có của ngời dân.
Hai phơng pháp chính đợc sử dụng trong điều tra kiến thức bản địa trên thế
giới là RRA và PRA cũng đợc các nhà khoa học Việt Nam áp dụng. Tuy nhiên,
việc áp dụng RRA và PRA ở Việt Nam gặp một số khó khăn về ngôn ngữ và hạn
chế về trình độ hiểu biết cũng nh khả năng trao đổi của đồng bào dân tộc ít ngời.
Vì vậy, cần tăng cờng quan sát khi tiến hành phỏng vấn, điều tra trên thực địa. (Lê
Trọng Cúc, 1996).
Tuy nhiên, nghiên cứu, t liệu hoá và sử dụng kiến thức bản địa là một vấn đề
mới ở Việt Nam, thậm chí, tình trạng kiến thức bản địa của cộng đồng bị bỏ qua còn
phổ biến. Nguyên nhân là chúng ta thiếu kinh nghiệm, các ngành khuyến nông,
khuyến lâm cũng chỉ tập trung chuyển giao kỹ thuật hiện đại mà cha chú ý vận
dụng phổ cập kiến thức bản địa còn hữu ích cho các vùng dự án.
1.1.3. Cơ sở pháp lý liên quan đến kiến thức bản địa
1.1.3. Cơ sở pháp lý liên quan đến kiến thức bản địa1.1.3. Cơ sở pháp lý liên quan đến kiến thức bản địa
1.1.3. Cơ sở pháp lý liên quan đến kiến thức bản địa Các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang bị suy giảm cả về chất lợng và số
lợng. Nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến tình trạng này là các hoạt động phát
triển của con ngời.
116 văn bản pháp luật chủ yếu liên quan đến quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
đợc Nhà nớc ban hành từ năm 1990 đến nay đã cung cấp cho ngời dân những
hiểu biết cơ bản về nghĩa vụ và lợi ích của họ trong quá trình sử dụng, quản lý tài
Văn Hữu Tập Luận văn Thạc sỹ khoa học
Nghiên cứu về kiến thức bản địa của một số cộng đồng ngời Mông
trong canh tác đất dốc ở huyện Ba Bể, tỉnh bắc Kạn

địa về hệ thống kiến thức, kỹ thuật truyền thống của họ trong quản lý, sử dụng các
nguồn tài nguyên, công nhận quyền hợp pháp và trách nhiệm của cộng đồng (làng,
Văn Hữu Tập Luận văn Thạc sỹ khoa học
Nghiên cứu về kiến thức bản địa của một số cộng đồng ngời Mông
trong canh tác đất dốc ở huyện Ba Bể, tỉnh bắc Kạn
9

bản) nh là ngời chủ quản lý các nguồn tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên rừng. Vì
vậy, cần có một khung pháp lý riêng cho bảo tồn các nguồn tài nguyên, bảo vệ đa
dạng sinh học thông qua hệ thống kiến thức bản địa.
1.2. Kiến thức bản địa trong canh tác đất dốc của ngời Mông
1.2. Kiến thức bản địa trong canh tác đất dốc của ngời Mông 1.2. Kiến thức bản địa trong canh tác đất dốc của ngời Mông
1.2. Kiến thức bản địa trong canh tác đất dốc của ngời Mông
ở Việt Nam đang hiện diện 4 nhóm ngời Mông chính: Mông Trắng, Mông
Hoa, Mông Đen và Mông Xanh. Giữa các nhóm ngời Mông này có sự khác nhau
về trang phục và một phần ngôn ngữ. Song sự khác nhau ấy không hề ảnh hởng tới
tính thống nhất từ văn hóa mu sinh, văn hóa ứng xử đến văn hóa tâm linh của dân
tộc này. Ngời Mông di c vào phía Bắc Việt Nam sớm nhất vào khoảng 350 năm
trớc. Đó là nhóm Mông từ Quý Châu xuống Vân Nam Trung Quốc rồi vào vùng
đất Mèo Vạc, Đồng Văn của tỉnh Hà Giang. Giai đoạn thứ 2 cách đây trên 200 năm,
đây là giai đoạn di c đến đông nhất và giai đoạn thứ 3 cách đây chừng 150 năm. Họ
đã tràn vào các vùng cao của hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc cho xuống tận vùng
núi Thanh hóa, Nghệ An [11].

Trong bối cảnh địa bàn c trú của hầu hết các dân tộc ở miền núi phía Bắc Việt
Nam đã định hình và họ đều sinh sống tại những vùng đất khá thuận lợi cho điều
kiện sống nh các miền đồng bằng và thung lũng chân núi, thì sự di c khá muộn
vào Việt Nam nói riêng, Đông Nam á nói chung của ngời Mông là một yếu tố
khiến dân tộc này chỉ có thể lựa chọn duy nhất là c trú trên các dải núi cao, sống
gắn bó với rừng và đất rừng cho dù họ có nguồn gốc là c dân lúa nớc. Hoàn cảnh

lanh để tổ tiên nhận ra họ , đó là những minh chứng điển hình về tầm quan trọng
của lanh đối với ngời Mông.
Theo quan niệm của nhiều dân tộc, nơng hay nơng rẫy là một mảnh đất rừng
đợc chặt phá, đốt dọn, đợc trọc lỗ hay xới lên để trồng trọt. Ngời Dao gọi đó là
Tẩy
, ngời Thái gọi là
Hay
, ngời Mờng gọi là
Roọng
Với ngời Mông, khái
niệm nơng đợc đồng bào gọi là
Têz
và ngời ta định nghĩa về nó có phần đơn
giản, từ rất lâu đồng bào đã có câu: Đất cũng có tên, chỗ nào cũng là đất, lấy dao
phát đợc một khóm gọi là nơng; chỗ nào cũng là đất, tra một cây xuống đợc
gọi là nơng, chỉ cần phát đợc một khóm nhỏ, thậm chí chỉ cần tra đợc một
hốc ngô xuống cũng đợc gọi là nơng.
Ngời Mông có nhiều cách phân loại nơng dựa trên những tiêu chí khác nhau
nh:
+ Phân loại theo địa hình:
-
Têz tơ taox:
Chỉ những mảnh nơng đợc khai phá dới chân núi hay gần
khu vực chân núi.
-
Têz tăng taox:
Chỉ các đám nơng ở sờn núi hay ven sờn núi.
-
Têz txi taox:
Là những mảnh nơng gần đỉnh núi.

-
Têz max:
Nơng trồng lanh
+ Phân loại theo tên rừng làm nơng:
-
Têz Thào Súng Cúng:
Nơng làm ở Thào Súng Cúng.
-
Têz Pà Pủ:
Nơng làm ở rừng Pà Pủ
+ Các cách phân loại khác:
-
Têz viêngx:
Những nơng đất đai màu mỡ thích hợp cho việc canh tác.
-
Têz fêv:
Nơng đất xấu, canh tác không cho năng suất.
-
Têz kraor luôx:
Nơng mới phát, gieo trồng lần đầu.
-
Kuz têz:
Nơng đã bỏ rồi quay lại làm.
-
Têz taox phiênx:
Nơng ở những nơi đất cao.
-
Têz tsơ kik:
Nơng ở những vùng đất trũng, thấp.
-

(hlâu thuô).
Có thể nói, từ việc chặt cây phá rừng làm
nơng đến bới hốc tra hạt hay làm cỏ, vun đất họ đều sử dụng hai thứ công cụ
này. Ngoài hai công cụ chính ấy, đồng bào còn một số đồ phụ trợ khác gồm chiếc
địu
(luz cơv)
để đựng hay địu khi vận chuyển; nhím
(vur)
để hái lúa; gậy
(pak)
để
chọc lỗ tra lúa Với nơng định canh, cày
(vongv)
và cuốc bớm là công cụ chính
của đồng bào. Đất canh tác trên loại nơng này bao giờ cũng đợc cày xới trớc khi
gieo trồng. Thậm chí, phần lớn đất còn đợc cày để ải qua đông. Việc cày trên
những mảnh nơng cheo leo hay ngang sờn núi có độ dốc cao, hoặc trên những hốc
đá tai mèo mà đất chỉ đủ lớt một đờng cày đã thể hiện tài nghệ hay sự điêu luyện
của kỹ thuật cày trên núi cao ở dân tộc này. Có thể nói, công cụ đó đền do đồng bào
tự chế tác và chỉ có lỡi cày hay con dao phát do họ làm ra mới đủ độ bền sắc đáp
ứng đợc kỹ thuật sản xuất trong điều kiện môi trờng sống rất khắc nghiệt.
1.2.2. Kiến thức trong canh tác ruộng bậc thang
1.2.2. Kiến thức trong canh tác ruộng bậc thang 1.2.2. Kiến thức trong canh tác ruộng bậc thang
1.2.2. Kiến thức trong canh tác ruộng bậc thang [11]
Đây là hình thức canh tác lúa nớc của dân tộc Mông ở môi trờng rẻo cao.
Ruộng bậc thang xuất hiện khá muộn so với nơng rẫy. Nó chỉ phổ biến ở những
khu vực có nhiều khe nớc nhằm đảm bảo điều kiện tiên quyết của hoạt động này.
Tuy diện tích canh tác không nhiều, nhng việc trồng lúa nớc thông qua hình thức
ruộng bậc thang của đồng bào đã góp phần giải quyết vấn đề lơng thực trong bối
cảnh họ chỉ biết sống gắn liền với rừng, đất rừng.

vật cho những hoạt động tín ngỡng tôn giáo cũng nh những lễ thức không thể
thiếu trong chu kỳ đời ngời và một phần nhỏ dùng để trao đổi mua bán. Trâu, bò,
ngựa, lợn, gà, chó là những loại gia súc gia cầm đợc họ chăn nuôi nhiều nhất.
Ngời Mông có hai hình thức chăn nuôi tơng ứng với hai vùng c dân. Nhóm
Mông sống du canh du c phổ biến cách chăn thả mang tính tự nhiên. Nói cách
khác, gia súc, gia cầm của họ đều đợc thả rông để tự kiếm ăn. Rất hiếm có gia đình
làm chuồng trại cho trâu, bò, lợn, gà và hầu nh chúng không đợc chăm sóc theo
một quy trình nhất định. Với nhóm Mông sống định c lâu đời, kỹ thuật chăn nuôi
của họ khá phát triển. Các gia đình đều làm chuồng cho từng loại gia súc theo dạng
kiên cố trong khuôn viên của ngôi nhà. Đồng bào chỉ chăn thả chúng vào những giờ
nhất định trong ngày và cho chúng ăn uống theo một quy trình cụ thể. Hình thức
chăn nuôi không chỉ giúp họ bảo vệ đàn gia súc, gia cầm, làm nó béo tốt và tăng sản
Văn Hữu Tập Luận văn Thạc sỹ khoa học
Nghiên cứu về kiến thức bản địa của một số cộng đồng ngời Mông
trong canh tác đất dốc ở huyện Ba Bể, tỉnh bắc Kạn
14

lợng thịt mà hơn thế nữa, nó còn cung cấp cho đồng bào lợng phân bón đáng kể
trong hoạt động thâm canh tăng năng suất cây trồng.
Là c dân sống dựa vào rừng và đất rừng nên săn bắn, hái lợm trở thành hoạt
động kinh tế rất phổ biến ở ngời Mông. Tuy chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong thu nhập
của gia đình nhng việc thu hái, săn bắn các nguồn tài nguyên cũng đóng một vai
trò đáng kể trong nền kinh tế nơng rẫy mang đầy yếu tố tự nhiên này. Hàng năm,
hoạt động hái lợm đợc tiến hành nhiều nhất vào kỳ giáp hạt và cả những thời điểm
nông nhàn, đặc biệt là những năm mất mùa, đói nhiều. Ngời Mông chủ yếu hái các
loại nấm, mộc nhĩ nh: nấm gà, nấm đá con cừu, nấm tai ngời, nấm mối đào các
loại củ nh: củ mài trắng, củ mài đỏ, củ măng, củ vầu, củ nâu và rất nhiều loại
quả, rau rừng có nhiều trong rừng núi, khe suối.
Hoạt động sắn bắn thờng diễn ra từ cuối đến giữa mùa vụ nhằm ngăn chặn thú
rừng phá hoại mùa màng và một phần để giải trí. Công việc này do ngời đàn ông

: đợc làm bằng đất sét, là nơi để nung đun sắt thép.
+ Bễ
(luz ll)
: dùng để thổi gió vào bếp lò. Bễ là một thùng gỗ kín dài khoảng
2,2 mét, rộng 0,25 mét; bên trong có một lá gió hình tròn đợc làm bằng gỗ, xung
quanh buộc lông gà cho dễ kéo và kín hơi, giữa ống có một lỗ thông gió nối sang
bếp lò bằng một ống tre kín.
+ Gáo sắt
(phx tâuz):
thờng có chiều dài 0,3m, sâu 0,25m. Phần trong của
gáo đợc đắp một lợt đất sét trắng đã trộn kỹ với than củi. Gáo sắt dùng để đựng
nớc gang thép khi nung chảy.
+ Khuôn đúc lỡi cày
(mux txr nquôr kheik):
đợc làm bằng gỗ tốt, bên trong
đắp một lớp đất sét trắng. Việc đúc lỡi cày đợc làm khá công phu, từ việc xếp các
mảnh gang chảy để chọn thời điểm đúc. Với kỹ thuật và kinh nghiệm truyền thống,
đồng bào Mông đã làm nên lỡi cày Mèo rất đặc thù mà chỉ có nó ngời ta mới có
thể cày trên những loại hình đất rất dốc đầy hốc đá tai mèo của vùng rẻo - cao
nguyên.
Việc khoan nòng súng kíp là chu trình phức tạp nhất trong quá trình làm khẩu
súng. Trớc tiên họ phải giữ thanh thép làm nòng trên một cái giá cố định. Mũi
khoan nòng súng cũng là một que thép có một đầu nhọn với đờng kính 1cm và
cũng đợc giữ cố định. Kỹ thuật khó nhất là điểm khoan đầu tiên phải thật khéo léo,
chính xác và làm sao để mũi khoan chuyển động theo sự vận hành của ròng rọc và
bánh xe quay một cách đều đặn. Nếu một ngời thợ làm liên tục trong 5 ngày, họ sẽ
khoan xong một nòng súng.
Cũng nh nghề rèn đúc, nghề dệt phổ biến ở tất cả các làng ngời Mông. Trong
cuộc sống truyền thống của dân tộc này, bất kỳ ngời phụ nữ Mông nào cũng phải
biết trồng lanh, xe lanh dệt vải, biết kỹ thuật in hoa văn bằng sáp ong, thêu hoa văn

phẩm họ làm ra ra gồm: ghế trúc, mẹt, phên nan tre, các loại bồ đựng ngô, lúa đặc
biệt là
luz cơv -
nh chiếc gùi ở nhiều c dân khác. Đó là những vật dụng hết sức
thuận tiện đợc ngời Mông dùng để đựng, đeo, mang vác và địu các thứ cần thiết.
Nó có mặt với họ ở mọi nơi, từ trong nhà, ngoài chợ đến trên nơng, dới ruộng
Ngời Mông rất trân trọng tính đa năng của
luz cơv
.
Việc đan lát ở dân tộc này không tiến hành theo mùa vụ. Ngời ta chỉ đan các
đồ vật này khi thấy cần thiết. Một số đồ đan lát cũng đã trở thành sản vật đợc đồng
bào mang ra chợ trao đổi, mua bán.
Văn Hữu Tập Luận văn Thạc sỹ khoa học
Nghiên cứu về kiến thức bản địa của một số cộng đồng ngời Mông
trong canh tác đất dốc ở huyện Ba Bể, tỉnh bắc Kạn
17
1.2.5. Các món ăn của ngời Mông
1.2.5. Các món ăn của ngời Mông1.2.5. Các món ăn của ngời Mông
1.2.5. Các món ăn của ngời Mông Các món ăn của ngời Mông mang đậm nét văn hoá truyền thống riêng và
gắn liền với truyền thống canh tác nơng rẫy [11]. Cụ thể là:
- Ngô là lơng thực chính đợc ngời Mông chế biến thành hai loại: một là
mèn mén (dùng thay cơm), hai là làm bánh ngô trong những ngày lễ tết, hội hè.
Mèn mén
Mèn ménMèn mén

trong canh tác đất dốc ở huyện Ba Bể, tỉnh bắc Kạn
18

- Ngoài ra, ngời Mông còn có một món ăn trong các phiên chợ, ngày hội, đó
là món thắng cố, là món thịt thái to, cả xơng, lòng gia súc, thịt dê hoặc thịt bò hầm
nhừ trong chảo ăn nóng.
- Ngời Mông làm thức ăn thờng ninh (hầm) nhừ, ít có món xào, gia vị
thờng có ớt, gừng.
Bình thờng không có khách, cả nhà ngời Mông ngồi ăn chung, nếu có
khách thì đàn ông và khách ăn trớc, phụ nữ, trẻ em ăn sau.

Văn Hữu Tập Luận văn Thạc sỹ khoa học
Nghiên cứu về kiến thức bản địa của một số cộng đồng ngời Mông
trong canh tác đất dốc ở huyện Ba Bể, tỉnh bắc Kạn
19

Chơng 2
Chơng 2Chơng 2
Chơng 2.

. đối t
đối t đối t
đối tợng và phơng pháp nghiên cứu
ợng và phơng pháp nghiên cứuợng và phơng pháp nghiên cứu
ợng và phơng pháp nghiên cứu 2.1. Đối tợng nghiên cứu

Phơng pháp phân tích sinh thái nhân văn dựa trên lý thuyết hệ thống giúp
nhận thức và lí giải các mối quan hệ tơng hỗ giữa các thành phần trong hệ sinh
thái, giữa thành phần vô cơ và hữu cơ, giữa các hệ sinh thái với nhau, cuối cùng là
sinh quyển. Việc nhận thức cũng nh lí giải mối quan hệ giữa con ngời với sinh
quyển, giữa hệ xã hội và hệ tự nhiên. [4]
2.3.2. Phơng pháp nghiên cứu cụ thể
2.3.2. Phơng pháp nghiên cứu cụ thể2.3.2. Phơng pháp nghiên cứu cụ thể
2.3.2. Phơng pháp nghiên cứu cụ thể a/. Phơng pháp phân tích, tổng hợp tài liệu:
a/. Phơng pháp phân tích, tổng hợp tài liệu:a/. Phơng pháp phân tích, tổng hợp tài liệu:
a/. Phơng pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã thu thập các tài liệu thứ sinh từ nhiều
nguồn khác nhau: Sở tài nguyên Môi trờng tỉnh Bắc Kạn, Uỷ ban nhân dân huyện
Ba Bể, Uỷ ban nhân dân các xã nghiên cứu, một số xuất bản nông nghiệp, văn hoá
dân tộc, khoa học kỹ thuật Sau khi thu thập, các tài liệu đợc phân chia theo
mảng, bao gồm tổng quan về kiến thức bản địa của ngời Mông, canh tác bền vững
Văn Hữu Tập Luận văn Thạc sỹ khoa học
Nghiên cứu về kiến thức bản địa của một số cộng đồng ngời Mông
trong canh tác đất dốc ở huyện Ba Bể, tỉnh bắc Kạn
20

trên đất dốc; điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, thành phần dân tộc của huyện Ba
Bể và các xã nghiên cứu. Trên cơ sở đó, phân tích, chọn lọc và tổng hợp thông tin
phù hợp với đề tài, xây dựng luận văn.
b/. Phơng pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng (PRA):
b/. Phơng pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng (PRA):b/. Phơng pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng (PRA):

Quan sát trực tiếp cũng là một phơng cách tốt để kiểm tra chéo những câu trả lời
của ngời đợc phỏng vấn.

Quan sát trực tiếp để ghi nhận những gì quan sát đợc ở thời điểm khảo sát,
quan sát trực tiếp có thể sử dụng các phơng tiện để đo đếm trực tiếp, sử dụng vật
chỉ thị, ghi chép và lựa chọn những thời
điểm thích hợp, vị trí thích hợp để quan
Văn Hữu Tập Luận văn Thạc sỹ khoa học
Nghiên cứu về kiến thức bản địa của một số cộng đồng ngời Mông
trong canh tác đất dốc ở huyện Ba Bể, tỉnh bắc Kạn
21

sát.
Quan sát trực tiếp còn giúp các thành viên nhóm hiểu rõ hơn về các tình huống
(số liệu thứ cấp không thể hiện đợc) ở địa phơng. [13]
Đối tợng quan sát:
Đối tợng quan sát:Đối tợng quan sát:
Đối tợng quan sát:
Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả dùng kỹ thuật quan
sát trực tiếp chủ yếu để quan sát địa hình, nơng rãy, cây trồng, nhà ở, con ngời, các vật
nuôi, chuồng trại, dụng cụ sản xuất tại nơi cộng đồng ngời Mông c trú ở xã Nam
Mẫu và xã Cao Thợng, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
*. Kỹ thuật phỏng vấn bán cấu trúc (SSI):
*. Kỹ thuật phỏng vấn bán cấu trúc (SSI):*. Kỹ thuật phỏng vấn bán cấu trúc (SSI):
*. Kỹ thuật phỏng vấn bán cấu trúc (SSI):
Phỏng vấn bán cấu trúc (Semi - Structured interviews) là một trong
những

nói đợc tiếng Việt nên tác giả phải thuê ngời dân ở gần khu vực ngời Mông sinh
sống cùng tham gia làm phiên dịch.
Văn Hữu Tập Luận văn Thạc sỹ khoa học
Nghiên cứu về kiến thức bản địa của một số cộng đồng ngời Mông
trong canh tác đất dốc ở huyện Ba Bể, tỉnh bắc Kạn
22c/. Phơng pháp phân tích hệ t
c/. Phơng pháp phân tích hệ tc/. Phơng pháp phân tích hệ t
c/. Phơng pháp phân tích hệ thống:
hống:hống:
hống:

Đây là phơng pháp đợc sử dụng trong suốt quá trình xác định vấn đề, xây
dựng đề cơng và thực hiện đề tài. Các hoạt động chính bao gồm phân loại, phân
tích, hệ thống hoá và tổng hợp tài liệu, quan sát khoa học.
d/. Thời gian nghiên cứu:
d/. Thời gian nghiên cứu:d/. Thời gian nghiên cứu:
d/. Thời gian nghiên cứu: Quá trình nghiêu cứu xây dựng luận văn đợc thực hiện nh sau:
-

Văn Hữu Tập Luận văn Thạc sỹ khoa học
Nghiên cứu về kiến thức bản địa của một số cộng đồng ngời Mông
trong canh tác đất dốc ở huyện Ba Bể, tỉnh bắc Kạn
23

Chơng 3. kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chơng 3. kết quả nghiên cứu và thảo luậnChơng 3. kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chơng 3. kết quả nghiên cứu và thảo luận 3.1. Khái quát địa điểm nghiên cứu
3.1. Khái quát địa điểm nghiên cứu3.1. Khái quát địa điểm nghiên cứu
3.1. Khái quát địa điểm nghiên cứu 3.1.1. Khái quát chung về huyện Ba Bể
3.1.1. Khái quát chung về huyện Ba Bể3.1.1. Khái quát chung về huyện Ba Bể
3.1.1. Khái quát chung về huyện Ba Bể *. Vị trí địa lí:
*. Vị trí địa lí:*. Vị trí địa lí:
*. Vị trí địa lí:
N
W E
sTỉ lệ 1: 500 000
1cm bằng 5km thực địa
Hai xã nghiên cứu

Văn Hữu Tập Luận văn Thạc sỹ khoa học
Nghiên cứu về kiến thức bản địa của một số cộng đồng ngời Mông
trong canh tác đất dốc ở huyện Ba Bể, tỉnh bắc Kạn
24

Ba Bể là một huyện vùng cao nằm ở phía Bắc của tỉnh Bắc Kạn, có diện tích tự
nhiên là 1151km
2
và là huyện có diện tích lớn nhất của tỉnh Bắc Kạn [17]. Danh giới
của huyện nh sau:
+ Phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng,

lợng ma trong vùng khá thấp (1.379mm/năm) và phân bố
không đồng đều trong năm; trong 6 tháng mùa ma (từ tháng 4 đến tháng 10) lợng
ma chiếm từ 83% đến 85% tổng lợng ma trong năm, còn lại 6 tháng mùa khô
lợng ma rất nhỏ. Vì vậy, tình trạng ngập úng thờng xuyên xảy ra vào mùa ma
kéo theo các hiện tợng sạt lở đất đá dọc theo các thung lũng, trên các bồn thu nớc
của lu vực và khô hạn thờng xảy ra vào mùa khô. Lợng ma thấp nhng lại tập
trung chủ yếu vào mùa ma với cờng độ lớn, có ngày lợng ma tới 183mm nên
rất dễ gây ra xói mòn nghiêm trọng kéo theo các quá trình rửa trôi mạnh làm mất
Văn Hữu Tập Luận văn Thạc sỹ khoa học
Nghiên cứu về kiến thức bản địa của một số cộng đồng ngời Mông
trong canh tác đất dốc ở huyện Ba Bể, tỉnh bắc Kạn
25

lớp phủ thổ nhỡng, giảm khả năng canh tác của đất, nhất là những nơi có địa hình
dốc. [16]

- Độ ẩm không khí:
độ ẩm trung bình không khí cao nhất là những tháng mùa
ma và giảm dần vào các tháng mùa khô, thấp nhất là vào các tháng 2, 3. Vào thời
gian này, độ ẩm không khí có lúc xuống còn 10% đã gây tác động mạnh đến lợng
bốc hơi và độ ẩm trong đất. [16]
Tóm lại, trên nền của khí hậu nhiệt đới gió mùa, khu vực nghiên cứu mang
những nét đặc trng của khí hậu miền núi, mặt khác do cấu trúc bề mặt lãnh thổ có
nhiều dạng địa hình phức tạp mà khí hậu Ba Bể lại có thêm những nét đặc thù của
khí hậu vùng núi sâu trong đất liền.
*. Thuỷ văn:
*. Thuỷ văn:*. Thuỷ văn:
*. Thuỷ văn:
Tài nguyên động vật:

Tài nguyên động vật Ba Bể đa dạng, tập trung chủ yếu ở VQG Ba Bể, với 533
loài động vật, trong đó có 76 loài đợc đa vào sách đỏ Việt Nam (Vờn Quốc gia

Trích đoạn a/ Lễ cúnga/ Lễ cúng Kiến thức bản địa đang có nguy cơ bị mai một dần: Kiến thức canh tác trên đất dốc của ng−ời Mông ở Ba Bể th−ờng đ−ợc truyền miệng chứ không phải đ−ợc gh Khôi phục nghề trồng lanh dệt vải:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status