ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
DƯƠNG THỊ GIANG
NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC BẢN ĐỊA CỦA
MỘT SỐ DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG GIẢM
NHẸ RỦI RO VÀ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI
KHÍ HẬU TẠI HUYỆN CHỢ MỚI,
TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60440301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học: TS. Hà Xuân Linh
Thái Nguyên, năm 2013
i
LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ
rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, ngày...... tháng 9 năm 2013
Tác giả luận văn
Dương Thị Giang
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1.1. Tính cấp thiết .......................................................................................... 1
1.2. Mục đích nghiên cứu............................................................................... 2
1.3. Những yêu cầu của đề tài........................................................................ 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài.................................................................................... 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................. 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài ....................................................................... 4
1.1.1. Căn cứ pháp lý................................................................................. 4
1.1.2. Cơ sở lý luận ................................................................................... 5
1.2. Cơ sở thực tiễn ........................................................................................ 9
1.2.1. Biến đổi khí hậu trên thế giới.......................................................... 9
1.2.2. Khái quát biến đổi khí hậu ở Việt Nam ........................................ 17
1.2.3. Nét khái quát về các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc ............. 26
1.2.4. Đánh giá chung biến đổi khí hậu tỉnh Bắc Kạn ............................ 29
1.3. Các nghiên cứu tương tự....................................................................... 32
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................. 34
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................ 34
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu......................................................... 34
2.3. Nội dung nghiên cứu............................................................................. 34
2.4. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 34
2.4.1. Thu thập số liệu thứ cấp ................................................................ 34
2.4.2. Thu thập số liệu sơ cấp.................................................................. 35
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ......................................................... 37
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BĐKH
: Biến đổi khí hậu.
BTN&MT
: Bộ Tài nguyên và Môi trường.
CARE (Cooperative for American Remittances to Europe): Hợp tác xã
cho việc gửi hàng của Mỹ sang châu Âu.
CSDM (Center for sustainable development in mountainous areas):
Trung tâm vì sự phát triển bền vững miền núi.
ĐBSCL
: Đồng bằng sông Cửu Long
DTTS
: Dân tộc thiểu số
GBĐ
: Giống bản địa
GDP (Gross Domestic Product): Tổng sản phẩm quốc nội
IK (Indigenous knowledge): Tri thức bản địa
IPCC (The Intergovernmental Panel on Climate Change): Ủy ban Liên
Bảng 3.6: Tác động của biến đổi khí hậu đến trồng trọt................................. 48
Bảng 3.7. Tác động của biến đổi khí hậu đến chăn nuôi ................................ 50
Bảng 3.8: Kết quả phân loại nhóm cây trồng xã Thanh Vận.......................... 51
Bảng 3.9: Cây trồng bản địa và khả năng thích ứng của dân tộc Tày ............ 52
Bảng 3.10: Phương thức sử dụng đất nông nghiệp, chọn đất xã Thanh Vận . 53
Bảng 3.11: Lịch gieo trồng cây nông nghiệp dân tộc Tày.............................. 55
Bảng 3.12: Nhận biết dấu hiệu thời tiết xấu dân tộc Tày ............................... 56
Bảng 3.13: Kết quả phân loại nhóm cây trồng xã Tân Sơn ............................ 57
Bảng 3.14: Cây trồng bản địa và khả năng thích ứng của dân tộc Dao.......... 58
Bảng 3.15 : Lịch canh tác nương của người Dao............................................ 59
Bảng 3.16: Nhận biết dấu hiệu thời tiết xấu dân tộc Dao ............................... 60
Bảng 3.17 : Kiến thức bản địa về trồng trọt.................................................... 61
Bảng 3.18: Kiến thức bản địa về chăn nuôi .................................................... 62
Bảng 3.19: Các hoạt động thích ứng với BĐKH ............................................ 63
Bảng 3.20: Tiêu chí lựa chọn mô hình thích ứng cây khoai tây chịu rét........ 64
Bảng 3.21. Tiêu chí lựa chọn mô hình thích ứng cây đậu xanh chịu hạn....... 67
Bảng 3.22: Mô hình canh tác cho các loại đất ................................................ 69
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Mức tăng nhiệt độ trung bình năm ( 0C ) trong 50 năm qua........... 17
Hình 2.2: Mức tăng lượng mưa trung bình năm (%) trong 50 năm qua......... 18
Hình 3.1. Biểu đồ lượng mưa trung bình các tháng trong năm huyện Chợ Mới .... 42
Hình 3.2: Biểu đồ số giờ nắng các tháng trong năm huyện Chợ Mới ............ 44
Hình 3.3: Biểu đồ nhiệt độ trung bình các tháng trong năm huyện Chợ Mới ...... 46
1
2
international in Vietnam, 2010). Nhưng những tác động bất lợi của hiện tương
thời tiết khí hậu cực đoạn và biến đổi khí hậu trong mấy năm gần đây được
xác định là một nguyên nhân cản trở sự phát triển kinh tế xã hội của người
dân trong vùng.
Bắc Kạn là một trong những tỉnh nghèo nhất nằm ở trung tâm miền núi
phía bắc Việt Nam, trong 5 năm gần đây Bắc Kạn là một trong những tỉnh bị
thiệt hại lớn trong sản xuất nông nghiệp do sự xuất hiện của thời hiện tượng
tiết khí hậu cực đoan (CARE, 2010).
Bắc Kạn nói riêng và miền núi phía bắc Việt Nam nói chung có vốn kiến
thức truyền thống và kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp giúp họ linh hoạt hơn
với những thay đổi khắc nghiệt trong môi trường sống. Nhiều cộng đồng bản
địa là dân tộc thiểu số ở Bắc Kạn đã có rất nhiều kinh nghiệm trong canh tác
nông nghiệp bền vững và quản lý tài nguyên thiên nhiên. Những kiến thức và
các kỹ thuật bản địa này đã được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
trong từng cộng đồng dân tộc thiểu số.
Kiến thức bản địa và kinh nghiệm thực tiễn là cơ sở để đưa ra quyết định
ở cấp địa phương ở nhiều cộng đồng nông thôn (ISDR, 2008). Kiến thức bản
địa và kinh nghiệm thực tiễn có giá trị không chỉ đối với các nền văn hóa mà
trong đó nó phát triển, mà còn cho các nhà khoa học và nhà lập kế hoạch để
cải thiện điều kiện sống ở nông thôn.
Xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn, được sự đồng ý của Khoa Sau đại
học, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và với sự hướng dẫn trực tiếp
của TS. Hà Xuân Linh, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu kiến thức bản địa
của một số dân tộc thiểu số trong giảm nhẹ rủi ro và thích ứng với biến đổi
khí hậu tại huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu kiến thức bản địa của một số dân tộc thiểu số và đề suất các
biện pháp trong giảm nhẹ rủi ro và thích ứng với biến đổi khí hậu.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Căn cứ pháp lý
- Tháng 12 năm 1998, Việt Nam tham gia ký Nghị định thư Kyoto và
chính thức phê chuẩn Nghị định thư này vào tháng 9/2002;
- Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg, ngày 02 tháng 12 năm 2003 của Thủ
tướng Chính phủ Phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm
2010 và định hướng đến năm 2020;
- Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg, ngày 17 tháng 8 năm 2004 của Thủ
tướng Chính phủ về việc ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững
ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam);
- Quyết định số 35/2005/QĐ-TTg ngày 17/12/2005, Thủ tướng Chính
phủ ban hành về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định thư Kyoto ở Việt Nam;
- Quyết định số 47/2007/TTg ngày 6/4/2007, Thủ tướng Chính phủ ra phê
duyệt Kế hoạch thực hiện Nghị định thư Kyoto trong giai đoạn 2007-2010;
- Năm 2007, Việt Nam công bố Chiến lược Quốc gia về phòng chống,
thích nghi và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 (SRV, 2007);
- Quyết định số 172/2007/QĐ-TTg, ngày 16 tháng 11 năm 2007 của Thủ
tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ
thiên tai đến năm 2020;
- Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg, ngày 02 tháng 12 năm 2008, của
Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với
biến đổi khí hậu;
- Quyết định số 1002/QĐ-TTg, ngày 13 tháng 07 năm 2009 của Thủ
tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý
rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng;
ảnh hưởng tới môi trường toàn cầu (Al Gore, 2006). Theo Báo cáo đánh giá
lần thứ tư của IPCC (2007), hàm lượng các khí nhà kính cơ bản (CO2, CH4,
N2O) đều tăng rõ rệt trong những thập kỷ gần đây. Trong đó, tiêu thụ năng
lượng do đốt các nhiên liệu hóa thạch đóng góp khoảng 46% vào tiềm năng
nóng lên toàn cầu; Phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18% và hoạt động
6
nông nghiệp tạo ra khoảng 9% tổng số các khí gây ra lượng bức xạ cưỡng bức
làm ấm lên toàn cầu. Sản phẩm hóa học (CFCs, halon...) 24 % và các nguồn
khác (rác thải...) 3 %. [7]
1.1.2.3. Tìm hiểu chung về kiến thức bản địa
Tri thức bản địa (IK)/kiến thức bản địa/tri thức truyền thống/tri thức địa
phương là hệ thống tri thức mà người dân ở một cộng đồng tích lũy và phát
triển dựa trên kinh nghiệm, đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn và thường
xuyên thay đổi để thích nghi với môi trường tự nhiên, văn hóa, xã hội.
Tri thức bản địa được duy trì, phát triển trong một thời gian dài với sự
tương tác qua lại rất gần gũi giữa con người với môi trường tự nhiên. Tập hợp
những hiểu biết, kiến thức và ý nghĩa này là một phần của tổng hợp văn hoá
bao gồm cả hệ thống ngôn ngữ, cách định danh và phân loại, phương thức sử
dụng tài nguyên, các lễ nghi, giá trị tinh thần và thế giới quan. Những tri thức
này là nền tảng cơ sở để đưa ra những quyết định về nhiều phương diện cơ
bản của cuộc sống hàng ngày tại địa phương như khai thác tự nhiên, các hệ
thống canh tác và chăn nuôi, tìm kiếm nguồn nước, tự bảo vệ và chăm sóc sức
khoẻ bản thân; và sự thích nghi với những thay đổi của môi trường. Tri thức
bản địa sử dụng nguồn tài nguyên của địa phương, ít phụ thuộc vào nguồn
cung cấp từ bên ngoài. Tri thức bản địa chủ yếu được truyền miệng từ đời này
sang đời khác, ít khi được lưu trữ bằng văn bản ghi chép. Tri thức bản địa
được hình thành trong quá trình nghiệm sinh (trải nghiệm và đúc kết thành tri
tắc, luật lệ, những quy định và cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Song thực tế cho thấy,
sau một quá trình giao lưu và biến đổi, đào thải và tích hợp, tiếp thu và cải
biến, đã có nhiều điểm chồng chéo giữa kiến thức bản địa và kiến thức khoa
học; nhiều kiến thức phương Tây đã được bản địa hoá thành kiến thức của
người dân nên nhiều khi sẽ rất khó phân biệt giữa hai loại kiến thức này.Ở
những quốc gia đang phát triển, hệ thống tri thức bản địa luôn tồn tại song
song với các hệ thống kiến thức chính thống. [13]
Tri thức bản địa chính là nền tảng cơ sở để duy trì cuộc sống của các xã
hội truyền thống. Hơn thế nữa, trong bối cảnh các xã hội tương đối khép kín
với nền kinh tế nặng về tự cung tự cấp của đa số dân tộc thiểu số ở Việt Nam,
đó còn là cơ sở duy nhất. Sự xuất hiện của các “tri thức chính thống” và văn
hoá phương Tây đã tạo nên những cú sốc trong lịch sử văn hóa Việt Nam.
Một thời gian dài, tri thức bản địa đã không được đánh giá đúng với những
8
giá trị mà nó chứa đựng; thậm chí, còn bị coi là biểu hiện của sự trì trệ, lạc
hậu và phản khoa học. [13]
Trước thập niên 1980, nhiều nỗ lực nhằm loại bỏ các tri thức bản địa
đã được áp dụng trên cả nước. Ngày nay, giá trị và vai trò của tri thức bản
địa đã được nhận thức/đánh giá lại. Tại nhiều khu vực, tri thức bản địa đã
và đang đóng góp một phần quan trọng vào việc giải quyết các vấn đề của địa
phương. [13]
Cũng như tất cả các tộc người khác, người dân các tộc người thiểu số
MNPB có vốn kiến thức riêng trong nhiều lĩnh vực về môi trường và cuộc
sống hàng ngày. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu, các hiện tượng
thời tiết cực đoan và thiên tai diễn ra ngày càng mạnh mẽ và phức tạp, trước
khi có sự can thiệp/hỗ trợ từ bên ngoài, người dân đã phải tìm cách tự đối phó
để bảo vệ bản thân, gia đình và cộng đồng. Những sáng kiến mà họ áp dụng
chủ yếu được huy động từ vốn tri thức bản địa/tri thức địa phương được đúc
quyển sẽ "nhốt” hơi nóng của ánh mặt trời bên trong bầu khí quyển, vì vậy
làm cho nhiệt độ trái đất tăng lên.
Nhiều hậu quả không diễn biến theo một con đường thẳng. Thí dụ về
mặt sinh thái, khí CO2 tăng sẽ ảnh hưởng có lợi cho sự phát triển rừng, nhưng
khi khí hậu biến đổi thì rừng sẽ bị phá hủy – đây là tác động có hai hậu quả
đối nghịch với điều chúng ta dự kiến trong tương lai. [18]
- Núi băng biến mất
Hậu quả thấy rõ nhất của việc khí hậu nóng lên là lượng núi băng giảm
xuống. Mặc dù lượng băng mất đi không chỉ tùy thuộc vào nhiệt độ mà còn
vào mưa và ánh sáng-tuy nhiên nó vẫn có một quy luật chung: nơi nào không
khí nóng thì nơi đó có số lượng băng, tuyết phủ giảm đi. Thompson thu thập các
dữ liệu khoan được từ nhiều vùng nhiệt đới như Himalaya, Andes và nghiên cứu
chúng tạ phòng thí nghiệm của mình ở Ohio. Ông có thể chứng minh được, vào
kỷ Holocene khí hậu nóng rất phổ biến tại các vùng núi nhiệt đới ở khắp nơi trên
trái đất. Như vậy, nó không chỉ do yếu tố địa phương gây ra. [25]
Phản ứng nhạy cảm của nhiều núi băng về việc tăng nhiệt độ tương
đối thấp của khí hậu là điềm báo trước cho chúng ta thấy, nếu sức nóng
toàn cầu gia tăng lên nhiều độ C thì phần lớn các núi băng trên thế giới sẽ
không còn. Núi băng còn là nơi dự trữ nước, ngay cả khi mưa nhiều vẫn
10
cho nước quanh năm. Ngành nông nghiệp và nước sinh hoạt trong các
thành phố lớn vùng núi lệ thuộc vào nguồn nước này. Nếu các núi băng
biến mất thì điều này sẽ gây ra nhiều vấn đề lớn và đe dọa cuộc sống của
hàng triệu người vì thiếu nước. [15]
Sự tan hủy của vùng băng phủ có thể chỉ xảy ra trong khoảng thời gian
vài trăm năm, chứ không phải vài ngàn năm [23].
- Mực nước biển đang dâng lên
mất hoàn toàn. [15]
Trực tiếp nhất là hậu quả của việc bảo quản chất dinh dưỡng ở vùng bắc
Đại Tây Dương, nơi mà hiện nay nhờ vào sự hình thành các dòng hải lưu dưới
biển sâu đã tạo thành một vùng biển với nhiều chất dinh dưỡng và nhiều cá
nhất trên trái đất [27]. Việc hấp thụ CO2 của đại dương cũng nhờ các dòng hải
lưu sâu, vì vậy người ta tìm thấy ở Đại Tây Dương phần lớn khí CO2 do con
người thải ra [26]. Sự biến mất các dòng hải lưu sâu có nghĩa là biển sẽ giảm
hấp thụ lượng CO2. Sự hủy diệt của các dòng hải lưu được xem như một biến
cố trong hệ thống khí quyển – nó là một hiện tượng khó tiên đoán với một hậu
quả khủng khiếp.
- Thời tiết cực đoan
Những hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lụt lội hay khô hạn là hậu
quả của sự biến đổi khí hậu mà nhiều người phải trực tiếp chịu đựng.
Những đợt nắng nóng gay gắt. Hàng loạt những kỷ lục về nhiệt độ bị
xô đổ, hạn hán, cháy rừng cùng những hệ lụy xấu chưa bao giờ xuất hiện
nhiều và liên tục đến như thế. Chính con người chứ không phải ai khác phải
hứng chịu tất cả những hậu quả này. Bắt đầu với những năm đầu thế kỷ 20:
Lần đầu tiên trên thế giới ghi nhận những trận hạn hán, nắng nóng ghê gớm
xảy ra tại các nước nhiệt đới châu Á, châu Phi. Năm 1900, ở Ấn Độ đã xảy ra
một trận nắng nóng gay gắt, không mưa và nhiệt độ tăng cao từ 40 - 45 độ C
trong suốt nhiều ngày liên tục. Điều này đã dẫn tới hạn hán lớn, số người thiệt
mạng dao động từ 250.000 tới gần 3,25 triệu người. Những năm tiếp theo là
kỷ nguyên công nghiệp phát triển của con người, điều này đồng nghĩa với tần
suất nắng nóng ngày một tăng lên. Tại Liên Xô, giai đoạn 1921-1922 đã có tới
5 triệu người chết khát vì không chịu nổi cái nóng và hạn hán kéo dài. Con số
này còn lớn hơn tổng số người đã chết trong Chiến tranh Thế giới I (19141919). Khoảng 20 năm sau, thế giới tiếp tục ghi nhận kỷ lục khủng khiếp
được xác lập tại Trung Quốc: trong vòng 5 năm từ 1936 tới 1941, tại tỉnh Tứ
Xuyên (Trung Quốc) đã có tới 2 trận nắng nóng khủng khiếp dẫn tới hạn hán,
Hạn hán. Trong khi một số nơi trên thế giới chìm ngập trong lũ lụt triền
miên thì một số nơi khác lại hứng chịu những đợt hạn hán khốc liệt kéo dài.
Hạn hán làm cạn kiệt nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu, gây ảnh hưởng
13
nghiêm trọng đến nền nông nghiệp của nhiều nước. Hậu quả là sản lượng và
nguồn cung cấp lương thực bị đe dọa, một lượng lớn dân số trên trái đất đang
và sẽ chịu cảnh đói khát.
Hiện tại, các vùng như Ấn Độ, Pakistan, và Châu Phi đang hứng chịu
những đợt hạn hán, lượng mưa ở các khu vực này ngày càng thấp, và tình
trạng này còn tiếp tục kéo dài trong vài thập kỷ tới. Theo ước tính, đến năm
2020, sẽ có khoảng 75 triệu đến 250 triệu người dân châu Phi thiếu nguồn
nước sinh hoạt và canh tác, dẫn đến sản lượng nông nghiệp của lục địa này sẽ
giảm khoảng 50%.
Hạn hán cũng nghiêm trọng ở nhiều khu vực khác ở châu Á. Tại Trung
Quốc, nhiều khu vực, đặc biệt là các tỉnh ở phía Tây Nam, đang trải qua
những ngày khô hạn nghiêm trọng nhất thế kỷ qua. Ở Pakistan, nhất là tại
Southern Punjab, đất đai nứt nẻ và sông ngòi cạn trơ đáy. Thay đổi khí hậu
đang đe dọa nhiều khu vực ở vùng Trung Á rộng lớn. Những dòng sông băng
tan chảy do nhiệt độ trái đất tăng lên đã làm giảm nghiêm trọng nguồn nước,
dẫn đến tình trạng hạn hán không chỉ ở Tajikistan mà cả ở các nước hạ nguồn
Uzbekistan và Turkmenistan. Các nước này đang chuẩn bị tinh thần sớm phải
trải qua những vụ mùa thất thu, dự trữ lương thực giảm nghiêm trọng và nguy
cơ xảy ra nạn đói. Trong khi đó, Nga đã gọi đây là “mối quan ngại thực sự”
và lo ngại thay đổi khí hậu ở Trung Á đe dọa Nga từ phía Nam.[15]
- Các hệ sinh thái bị phá hủy
Nhiều nhà sinh vật học lo ngại rằng, trong thế kỷ này sẽ có hàng loạt
động vật và thực vật chết hay nói theo ngành chuyên môn, sẽ có một thảm
nguy cơ tuyệt chủng vào năm 2050 nếu nhiệt độ trái đất tăng thêm từ 1,1 đến
6,4 độ C nữa. Sự mất mát này là do mất môi trường sống vì đất bị hoang hóa,
do nạn phá rừng và do nước biển ấm lên. Và dĩ nhiên con người cũng không
nằm ngoài tầm ảnh hưởng. Tình trạng đất hoang hóa và mực nước biển đang
dâng lên cũng đe dọa đến nơi cư trú của chúng ta. Và khi cây cỏ và động vật
bị mất đi cũng đồng nghĩa với việc nguồn lương thực, nhiên liệu và thu nhập
của chúng ta cũng mất đi.[15]
- Dịch bệnh
Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sức khỏe con người rất phức tạp và
cho đến nay chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng. Song song vói các hậu quả trực
15
tiếp về các hiện tượng thời tiết cực đoan thì hiện nay các nhà khoa học chỉ lưu
ý đến sự phát triển các căn bệnh do côn trùng mang như bệnh sốt Dengue và
bệnh sốt rét. Côn trùng là loài máu lạnh và dễ bị khí hậu ảnh hưởng hơn con
người. Sự biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng mạnh đến sự phát triển của chúng.
Điều này đã xảy ra cho một loại bọ chét ở Đức. Trong những năm qua, chúng
phát triển dữ dội gia tăng truyền bệnh Borreliose nguy hiểm hay bệnh
Meningoenzephalitis, điều mà theo nhiều nhà khoa học là do sự biến đổi khí
hậu gây ra. [28]
Nhiệt độ tăng cùng với lũ lụt và hạn hán đã tạo điều kiện thuận lợi cho
các con vật truyền nhiễm như muỗi, ve, chuột,… sinh sôi nảy nở, truyền
nhiễm bệnh gây nguy hại đến sức khỏe của nhiều bộ phận dân số trên thế giới.
Cho đến nay, công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về hậu quả của sự biến
đổi khí hậu là do Tổ chức Y tế Thế giới thực hiện năm 2002 đưa ra báo cáo
rằng các dịch bệnh nguy hiểm đang lan tràn ở nhiều nơi trên thế giới hơn bao
giờ hết. Những vùng trước kia có khí hậu lạnh giờ đây cũng xuất hiện các loại
bệnh nhiệt đới. Hàng năm có khoảng 150 ngàn người chết do các bệnh có liên
cốc và bắp sẽ giảm mạnh (20 đến 30% so với trường hợp không bị sự biến đổi
khí hậu ảnh hưởng). [23]
Điều này sẽ làm cho sự cách biệt giữa những nước công nghiệp và các
nước nông nghiệp căng thẳng hơn nữa, với kết quả là nạn đói ở các nước
nghèo sẽ gia tăng. Vì vậy sự biến đổi khí hậu do con người gây ra sẽ là một
gánh nặng về đạo đức: những người nghèo nhất là những người không gây ra
biến đổi khí hậu lại là người phải trả giá do biến đổi khí hậu bằng cuộc sống
của mình. Mùa hè đổ lửa năm 2003 ở Đức đã gây ra tình trạng giảm năng suất
trong nông nghiệp. Năng suất của năm 2003 giảm 12% so với năng suất trung
bình tính từ năm 1997 đến 2002.[15]
- Chiến tranh và xung đột
Do nhiệt độ trái đất nóng lên và biến đổi khí hậu theo chiều hướng xấu
đã dần làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Một cuộc xung đột điển
hình do biến đổi khí hậu là ở Darfur. Xung đột ở đây nổ ra trong thời gian
một đợt hạn hán kéo dài, suốt 20 năm vùng này chỉ có một lượng mưa nhỏ
giọt và thậm chí nhiều năm không có mưa, làm nhiệt độ vì thế càng tăng cao.
Theo phân tích của các chuyên gia, các quốc gia thường xuyên bị khan hiếm
nước và mùa màng thất bát thường rất bất ổn về an ninh. [15]
17
1.2.2. Khái quát biến đổi khí hậu ở Việt Nam
1.2.2.1. Tình hình BĐKH ở Việt Nam
Cũng giống như bức tranh chung trên toàn cầu, ở Việt Nam, trong
khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,70C, mực nước
biển trung bình năm đã cao hơn khoảng 20 cm. Hiện tượng El-Nino, La-Nina
ngày càng tác động mạnh mẽ đến Việt Nam. BĐKH thực sự đã làm cho các
thiên tai, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán ngày càng ác liệt (Bộ TN&MT, 2003).
Nhiệt độ: Nhiệt độ tháng I (tháng đặc trưng của mùa đông), nhiệt độ